Câu hỏi rất quen: tu mà có cầu mong thì được, hay không cầu mong mới được? Thế Tôn gạt cả hai vế: điều quyết định không nằm ở chỗ có ước nguyện hay không, mà ở chỗ hành Phạm hạnh có ĐÚNG PHƯƠNG PHÁP hay không. Rồi bốn cặp ví dụ: ép cát, vắt sừng bò, khuấy nước lấy bơ, cọ cây ướt lấy lửa.
Phần I · Xuất Xứ
- Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 126
- Nơi thuyết — Rājagaha, Trúc Lâm
- Nhân vật — Tôn giả Bhūmija và vương tử Jayasena
- Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu
✦
Phần II · Bài Kinh Nói Gì
Kinh Phù-di (Bhūmijasutta) được Thế Tôn giảng tại Trúc Lâm, thành Vương Xá, cho Tôn giả Bhumija. Nhân duyên: Tôn giả Bhumija đi khất thực đến trú xứ vương tử Jayasena. Vương tử nêu chủ trương của một số Sa-môn, Bà-la-môn thời ấy rằng dù có ước nguyện hay không ước nguyện mà hành Phạm hạnh thì cũng không đạt được quả vị, rồi hỏi bậc Ðạo sư của Tôn giả dạy thế nào.
Tôn giả Bhumija thành thật thưa rằng mình chưa từng tận mặt nghe Thế Tôn nói điều ấy, nhưng nếu có thì Thế Tôn hẳn dạy: điều quyết định không nằm ở chỗ có ước nguyện hay không, mà nằm ở chỗ hành Phạm hạnh có chánh đáng (yoniso) hay không chánh đáng (ayoniso). Vương tử tán thán, rồi mời Tôn giả dùng phần ăn của mình.
Về bạch lại Thế Tôn, Tôn giả được ấn chứng: "Ông nói đúng lời Thế Tôn nói, Ông không xuyên tạc Thế Tôn với điều không đúng sự thực." Rồi Thế Tôn khai triển: người có tám tà chi (tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định) thì ước nguyện cách nào cũng không đạt quả vị, vì "đây không phải là phương pháp". Ngược lại, người có Bát Thánh đạo (chánh kiến cho đến chánh định) thì ước nguyện cách nào cũng đạt được quả vị, vì "đây là phương pháp".
Thế Tôn dùng bốn cặp ví dụ rất dễ nhớ: ép cát để lấy dầu (không được) — ép hột giống dầu (được); nắm sừng bò cái để vắt sữa (không được) — vắt nơi vú bò (được); đổ nước vào ghè khuấy lấy sanh tô (không được) — đổ lạc (dadhi) vào ghè khuấy (được); cọ xát khúc cây ướt còn nhựa để lấy lửa (không được) — cọ xát khúc cây khô không nhựa (được).
Bài học cho Huynh trưởng và đoàn sinh: tu tập không phải là chuyện cầu mong nhiều hay ít, mà là chuyện có đi đúng con đường hay không. Cầu nguyện suông mà làm sai phương pháp thì như ép cát lấy dầu; đi đúng Bát Thánh đạo thì dù không cầu mong, kết quả vẫn tự đến.
Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn
- Duyên khởi tại Trúc Lâm — Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi dưỡng sóc. Tôn giả Bhumija (Phù-di) buổi sáng đắp y cầm bát đi đến trú xứ của vương tử Jayasena (MN 126.1-2).
- Câu hỏi của vương tử Jayasena về ước nguyện — Jayasena nêu chủ trương của một số Sa-môn, Bà-la-môn: dù có ước nguyện, không ước nguyện, vừa có vừa không, hay không có cũng không không có mà hành Phạm hạnh, đều không đạt được quả vị; rồi hỏi bậc Ðạo sư của Tôn giả nói gì (MN 126.3).
- Tôn giả Bhumija trả lời theo ý mình suy diễn — Bhumija thưa rằng mình không tận mặt Thế Tôn nghe điều ấy, nhưng sự việc có thể xảy ra là Thế Tôn giải thích: điểm quyết định không phải ở ước nguyện, mà ở chỗ hành Phạm hạnh chánh đáng (yoniso) hay không chánh đáng (ayoniso) (MN 126.4).
- Jayasena tán thán và cúng dường — Jayasena tán thán vị Ðạo sư ấy đứng cao hơn trên đầu tất cả Sa-môn, Bà-la-môn tầm thường, rồi mời Tôn giả dùng bát ăn (thālipāka) của mình (MN 126.5-6).
- Bhumija về bạch lại Thế Tôn và được ấn chứng — Sau bữa ăn, Bhumija về trình lại toàn bộ câu chuyện và hỏi mình có nói đúng lời Thế Tôn không. Thế Tôn xác nhận: nói đúng lời Thế Tôn, không xuyên tạc, giải thích đúng pháp tùy pháp (MN 126.7-8).
- Phía tà: tám tà chi và bốn ví dụ hỏng — Sa-môn, Bà-la-môn có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định thì dù ước nguyện cách nào cũng không đạt quả vị. Bốn ví dụ: ép cát lấy dầu; nắm sừng bò cái trẻ để vắt sữa; đổ nước vào ghè khuấy lấy sanh tô; cọ xát khúc cây ướt có nhựa để lấy lửa (MN 126.9-13).
- Phía chánh: Bát Thánh đạo và bốn ví dụ thành tựu — Sa-môn, Bà-la-môn có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thì dù ước nguyện cách nào cũng đạt được quả vị. Bốn ví dụ đối lại: ép hột giống dầu; vắt sữa nơi vú bò cái; đổ lạc (dadhi) vào ghè khuấy; cọ xát khúc cây khô không nhựa (MN 126.14-18).
- Kết: bốn ví dụ và lời tán thán — Thế Tôn dạy nếu bốn ví dụ ấy khởi lên nơi Bhumija cho vương tử Jayasena thì vương tử tất tin tưởng. Bhumija thưa làm sao bốn ví dụ ấy tự nhiên khởi lên nơi con như nơi Thế Tôn được. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Bhumija hoan hỷ tín thọ (MN 126.19).
Phần III · Đoạn Trích
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
MN 126.3 (bản Việt: SC 3)
“santi, bho bhūmija, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘āsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; anāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; āsañca anāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; nevāsaṁ nānāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāyā’ti. Idha bhoto bhūmijassa satthā kiṁvādī kimakkhāyī”ti?
—Thưa Tôn giả Bhumija, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: “Nếu có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu không có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu có và không có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu không có và không không có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị”. Ở đây, bậc Ðạo sư của Tôn giả Bhumija có nói gì, và có lập luận gì?
“Worthy Bhūmija, there are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘If you make a wish and lead the spiritual life, you can’t win the fruit. If you don’t make a wish and lead the spiritual life, you can’t win the fruit. If you both make a wish and don’t make a wish and lead the spiritual life, you can’t win the fruit. If you neither make a wish nor don’t make a wish and lead the spiritual life, you can’t win the fruit.’ What does the worthy Bhūmija’s Teacher say about this? How does he explain it?”
MN 126.4 (bản Việt: SC 4)
“Na kho metaṁ, rājakumāra, bhagavato sammukhā sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ. Ṭhānañca kho etaṁ vijjati yaṁ bhagavā evaṁ byākareyya: ‘āsañcepi karitvā ayoniso brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; anāsañcepi karitvā ayoniso brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; āsañca anāsañcepi karitvā ayoniso brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; nevāsaṁ nānāsañcepi karitvā ayoniso brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya. Āsañcepi karitvā yoniso brahmacariyaṁ caranti, bhabbā phalassa adhigamāya; anāsañcepi karitvā yoniso brahmacariyaṁ caranti, bhabbā phalassa adhigamāya; āsañca anāsañcepi karitvā yoniso brahmacariyaṁ caranti, bhabbā phalassa adhigamāya; nevāsaṁ nānāsañcepi karitvā yoniso brahmacariyaṁ caranti, bhabbā phalassa adhigamāyā’ti.
—Thưa Vương tử, tôi không tận mặt Thế Tôn được nghe như vậy, được ghi nhớ như vậy. Và sự việc này xảy ra, Thế Tôn có giải thích như sau: “Nếu có ước nguyện, hành Phạm hạnh không chánh đáng (ayoni so), thời không đạt được quả vị; nếu không có ước nguyện, hành Phạm hạnh không chánh đáng, thời không đạt được quả vị; nếu có và không có ước nguyện, hành Phạm hạnh không chánh đáng, thời không đạt được quả vị; nếu không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh không chánh đáng, thời không đạt được quả vị. Còn nếu có ước nguyện, hành Phạm hạnh một cách chánh đáng, thời đạt được quả vị; nếu không có ước nguyện, hành Phạm hạnh một cách chánh đáng, thời đạt được quả vị; nếu có và không có ước nguyện, hành Phạm hạnh một cách chánh đáng, thời đạt được quả vị; nếu không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh một cách chánh đáng, thời đạt được quả vị”.
“Prince, I haven’t heard and learned this in the presence of the Buddha. But it’s possible that he might explain it like this: ‘If you lead the spiritual life irrationally, you can’t win the fruit, regardless of whether you make a wish, you don’t make a wish, you both do and do not make a wish, or you neither do nor don’t make a wish. But if you lead the spiritual life rationally, you can win the fruit, regardless of whether you make a wish, you don’t make a wish, you both do and do not make a wish, or you neither do nor don’t make a wish.’
MN 126.8 (bản Việt: SC 9)
“Taggha tvaṁ, bhūmija, evaṁ puṭṭho evaṁ byākaramāno vuttavādī ceva me hosi, na ca maṁ abhūtena abbhācikkhasi, dhammassa cānudhammaṁ byākarosi, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchati.
—Thật vậy, này Bhumija, được hỏi vậy, được trả lời vậy, Ông nói đúng lời Thế Tôn nói, Ông không xuyên tạc Thế Tôn với điều không đúng sự thực, Ông đã giải thích đúng pháp, tùy pháp, và một vị đồng Phạm hạnh nói đúng pháp, tùy pháp không có lý do gì để chỉ trích.
“Indeed, Bhūmija, in answering this way you repeated what I’ve said, and didn’t misrepresent me with an untruth. Your explanation was in line with the teaching, and there are no legitimate grounds for rebuttal or criticism.
MN 126.9 (bản Việt: SC 10)
Ye hi keci, bhūmija, samaṇā vā brāhmaṇā vā micchādiṭṭhino micchāsaṅkappā micchāvācā micchākammantā micchāājīvā micchāvāyāmā micchāsatī micchāsamādhino te āsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; anāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; āsañca anāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya; nevāsaṁ nānāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, abhabbā phalassa adhigamāya. Taṁ kissa hetu? Ayoni hesā, bhūmija, phalassa adhigamāya.
Này Bhumija, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, nếu họ có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu họ có và không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị. Vì sao vậy? Ðây không phải là phương pháp, này Bhumija, để đạt được quả vị.
There are some ascetics and brahmins who have wrong view, wrong purpose, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, and wrong immersion. If they lead the spiritual life, they can’t win the fruit, regardless of whether they make a wish, they don’t make a wish, they both do and do not make a wish, or they neither do nor don’t make a wish. Why is that? Because that’s an irrational way to win the fruit.
MN 126.10 (bản Việt: SC 11) — ví dụ ép cát lấy dầu
Seyyathāpi, bhūmija, puriso telatthiko telagavesī telapariyesanaṁ caramāno vālikaṁ doṇiyā ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ pīḷeyya. Āsañcepi karitvā vālikaṁ doṇiyā ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ pīḷeyya, abhabbo telassa adhigamāya; … Taṁ kissa hetu? Ayoni hesā, bhūmija, telassa adhigamāya.
Ví như, này Bhumija, một người cần dầu, tìm cầu dầu, đi chỗ này chỗ kia để tìm dầu. Sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cát cho ra dầu). Nếu người ấy có ước nguyện, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cát cho ra dầu), người ấy không lấy được dầu. … Vì sao vậy? Ðây không phải là phương pháp, này Bhumija, để lấy được dầu.
Suppose there was a person in need of oil. While wandering in search of oil, they tried heaping sand in a bucket, sprinkling it little by little with water, and pressing it out. But by doing this, they couldn’t extract any oil, regardless of whether they made a wish, didn’t make a wish, both did and did not make a wish, or neither did nor did not make a wish. Why is that? Because that’s an irrational way to extract oil.
MN 126.14 (bản Việt: SC 15)
Ye hi keci, bhūmija, samaṇā vā brāhmaṇā vā sammādiṭṭhino sammāsaṅkappā sammāvācā sammākammantā sammāājīvā sammāvāyāmā sammāsatī sammāsamādhino te āsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, bhabbā phalassa adhigamāya; anāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, bhabbā phalassa adhigamāya; āsañca anāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, bhabbā phalassa adhigamāya; nevāsaṁ nānāsañcepi karitvā brahmacariyaṁ caranti, bhabbā phalassa adhigamāya. Taṁ kissa hetu? Yoni hesā, bhūmija, phalassa adhigamāya.
Này Bhumija, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, họ đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện …; nếu họ có và không có ước nguyện …; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Ðây là phương pháp, này Bhumija, để đạt được quả vị.
There are some ascetics and brahmins who have right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. If they lead the spiritual life, they can win the fruit, regardless of whether they make a wish, they don’t make a wish, they both do and do not make a wish, or they neither do nor do not make a wish. Why is that? Because that’s a rational way to win the fruit.
MN 126.15 (bản Việt: SC 16) — ví dụ ép hột giống dầu
Seyyathāpi, bhūmija, puriso telatthiko telagavesī telapariyesanaṁ caramāno tilapiṭṭhaṁ doṇiyā ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ pīḷeyya. Āsañcepi karitvā tilapiṭṭhaṁ doṇiyā ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ pīḷeyya, bhabbo telassa adhigamāya; … Taṁ kissa hetu? Yoni hesā, bhūmija, telassa adhigamāya.
Ví như, này Bhumija, một người cần dầu, cầu tìm dầu, đi chỗ này chỗ kia để tìm dầu, sau khi đổ những hột giống dầu vào cái thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cho ra dầu). Nếu người ấy có ước nguyện, sau khi đổ những giống dầu vào trong cái thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cho ra dầu), thời người ấy lấy được dầu. … Vì cớ sao? Này Bhumija, đây là phương pháp để lấy được dầu.
Suppose there was a person in need of oil. While wandering in search of oil, they tried heaping sesame flour in a bucket, sprinkling it little by little with water, and pressing it out. By doing this, they could extract oil, regardless of whether they made a wish, didn’t make a wish, both did and did not make a wish, or neither did nor did not make a wish. Why is that? Because that’s a rational way to extract oil.
MN 126.19 (bản Việt: SC 20-22)
Sace kho taṁ, bhūmija, jayasenassa rājakumārassa imā catasso upamā paṭibhāyeyyuṁ anacchariyaṁ te jayaseno rājakumāro pasīdeyya, pasanno ca te pasannākāraṁ kareyyā”ti. “Kuto pana maṁ, bhante, jayasenassa rājakumārassa imā catasso upamā paṭibhāyissanti anacchariyā pubbe assutapubbā, seyyathāpi bhagavantan”ti? Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā bhūmijo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Nếu bốn ví dụ này, này Bhumija, khởi đến từ nơi Ông cho vương tử Jayasena, thời vương tử Jayasena tự nhiên tin tưởng Ông, và khi đã tin tưởng, sẽ hành động đúng theo cung cách một người đã tin tưởng Ông. —Nhưng làm sao, bạch Thế Tôn, bốn ví dụ này khởi đến từ nơi con cho vương tử Jayasena, khởi lên một cách tự nhiên, từ trước chưa từng được nghe, như Thế Tôn được? Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Bhumja hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy:
Bhūmija, it would be no wonder if, had these four similes occurred to you, Prince Jayasena would have gained confidence in you and shown his confidence.” “But sir, how could these four similes have occurred to me as they did to the Buddha, since they were neither supernaturally inspired, nor learned before in the past?” That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Bhūmija approved what the Buddha said.
Phần IV · Thuật Ngữ & Giảng Giải
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
| āsā | ước nguyện, mong cầu | Bản Việt dịch là "ước nguyện"; bản Anh của Sujato dịch "make a wish". Kinh nêu bốn cách: có ước nguyện, không ước nguyện, vừa có vừa không, không có cũng không không có. |
| brahmacariya | Phạm hạnh, đời sống phạm hạnh | |
| yoniso | một cách chánh đáng, đúng phương pháp, đúng gốc | |
| ayoniso | không chánh đáng, không đúng phương pháp | Bản Việt ghi rõ chữ Pali trong ngoặc: "hành Phạm hạnh không chánh đáng (ayoni so)". |
| phalassa adhigama | đạt được quả vị | |
| bhabba / abhabba | có thể / không thể (đạt được quả vị) | |
| micchādiṭṭhi … micchāsamādhi | tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định (tám tà chi) | |
| sammādiṭṭhi … sammāsamādhi | chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định (Bát Thánh đạo) | |
| upamā | ví dụ, thí dụ | Kinh này nổi tiếng với "bốn ví dụ" (catasso upamā): dầu, sữa, sanh tô, lửa. |
| navanīta | sanh tô (bơ tươi) | |
| dadhi | lạc (sữa đông, sữa chua) | Bản Việt giữ nguyên chữ Pali trong ngoặc: "đổ lạc (dadhi) vào trong một cái ghè". |
| uttarāraṇi | phần phía trên của đồ quay lửa (thanh cọ lửa) | |
| vuttavādī | nói đúng lời (bậc Ðạo sư) đã nói | |
| dhammassa anudhamma | đúng pháp, tùy pháp | |
| thālipāka | bát ăn (phần cơm) của mình | Bản Việt phiên là "bát ăn (thalipaka)". |
Bài kinh này cùng một nhân vật với bài trước — vương tử Jayasena. Lần này Tôn giả Bhūmija đi khất thực đến trú xứ của ông, và ông hỏi một câu triết lý.
Câu hỏi ấy là: có Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương rằng dù CÓ ước nguyện, KHÔNG ước nguyện, VỪA CÓ VỪA KHÔNG, hay KHÔNG CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG CÓ mà hành Phạm hạnh, thì cũng không đạt được quả vị. Vậy bậc Đạo sư của Tôn giả dạy thế nào?
Xin thưa cách hỏi bốn vế ấy là lối tranh luận thời đó: bịt hết mọi ngả để người trả lời không còn chỗ nào chui ra.
Và câu trả lời của Tôn giả Bhūmija rất đáng học, ở HAI điểm. Điểm thứ nhất: ngài THÀNH THẬT nói trước — “tôi chưa từng tận mặt nghe Thế Tôn nói điều ấy”.
Xin dừng ở chỗ này. Ngài đang đứng trước một vương tử, đang được hỏi về thầy mình — lúc dễ nói quá lên nhất. Vậy mà ngài rào trước rằng đây là điều mình suy ra.
Điểm thứ hai: ngài gạt cả bốn vế của câu hỏi. Ngài đáp rằng điều quyết định KHÔNG nằm ở chỗ có ước nguyện hay không, mà nằm ở chỗ hành Phạm hạnh có CHÁNH ĐÁNG (yoniso) hay KHÔNG chánh đáng (ayoniso).
Vương tử tán thán, rồi MỜI Tôn giả dùng phần ăn của chính mình. Cùng một vương tử đã bỏ đi ở bài kinh trước — lần này ông ngồi lại và cúng dường.
Về bạch lại Thế Tôn, Tôn giả được ấn chứng bằng một câu rất trọng: “Ông nói đúng lời Thế Tôn nói, Ông không xuyên tạc Thế Tôn với điều không đúng sự thực.”
Xin để ý điều này rất an ủi cho người đi giảng. Tôn giả không chắc, đã nói rõ là mình suy ra — và vẫn được xác nhận là đúng. Thành thật về chỗ mình không chắc không làm hỏng lời nói đúng.
Rồi Thế Tôn khai triển rõ ra. Người có TÁM TÀ CHI — tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định — thì ước nguyện cách nào cũng không đạt quả vị, vì “đây không phải là phương pháp”.
Ngược lại, người có BÁT THÁNH ĐẠO thì ước nguyện cách nào cũng ĐẠT ĐƯỢC quả vị, vì “đây là phương pháp”.
Xin thưa ba chữ “đây là phương pháp” mới là trọng tâm. Bài kinh không chê việc cầu nguyện, cũng không khen việc không cầu nguyện. Nó nói: cầu hay không cầu đều KHÔNG PHẢI LÀ CHỖ QUYẾT ĐỊNH.
Và bốn cặp ví dụ thì rất dễ nhớ, xin kể đủ. Một: ép CÁT lấy dầu — không ra; ép HỘT GIỐNG dầu — ra.
Hai: nắm SỪNG bò cái mà vắt sữa — không có; vắt nơi VÚ bò — có. Ba: đổ NƯỚC vào ghè mà khuấy lấy sanh tô — không được; đổ LẠC (dadhi, sữa đông) vào mà khuấy — được.
Bốn: cọ xát khúc cây ƯỚT CÒN NHỰA để lấy lửa — không cháy; cọ xát khúc cây KHÔ KHÔNG NHỰA — cháy.
Xin thưa cả bốn ví dụ đều có chung một điểm rất tinh tế. Trong cả bốn, người kia ĐỀU CÓ LÀM — có ép, có vắt, có khuấy, có cọ xát. Không ai lười cả. Cái hỏng là làm đúng động tác trên SAI VẬT LIỆU.
Và đây là chỗ bài kinh nghiêm khắc mà cũng rất công bằng. Nó không nói ai lười. Nó nói có những cố gắng rất thật mà vẫn không ra kết quả, vì đặt sai chỗ. Chăm chỉ không thay được đúng đường.
Kết kinh có một chi tiết rất dễ thương. Thế Tôn dạy: nếu bốn ví dụ ấy khởi lên nơi Bhūmija để nói cho vương tử thì vương tử tất tin tưởng. Và Tôn giả thưa lại rất thật thà: “Làm sao bốn ví dụ ấy tự nhiên khởi lên nơi con như nơi Thế Tôn được?”
Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này rất cần cho người hay cầu nguyện. Nó không cấm cầu nguyện — nhưng nó nói rõ: cầu nguyện suông mà làm sai phương pháp thì như ép cát lấy dầu; còn đi đúng Bát Thánh đạo thì dù không cầu mong, kết quả vẫn tự đến.
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm
- “Kinh dạy không được cầu nguyện.” Kinh không chê việc cầu nguyện; nó nói cầu hay không cầu đều không phải chỗ quyết định — phương pháp mới là chỗ quyết định.
- “Vậy cứ đi đúng đường là khỏi cần cố gắng.” Bốn ví dụ đều có người ĐANG LÀM: ép, vắt, khuấy, cọ xát. Cố gắng vẫn cần — chỉ phải đặt đúng chỗ.
- Một lời ngờ đã được kiểm và bác bỏ. Lượt soi ngờ rằng ô tiếng Anh đoạn mn126:4.10 chép sai. Chúng tôi đã tải lại bản Tỳ-kheo Sujato và đối chiếu: cả hai đoạn 4.6 và 4.10 đều dùng dạng “don’t”. Ô trích đúng nguyên văn; lời ngờ ấy là báo oan.
Phần VI · Dùng Trong Sinh Hoạt Đoàn
- Ngành Oanh. Cho các em bóp một nắm cát và hỏi: có ra dầu không? Rồi kể bốn ví dụ.
- Ngành Thiếu. Hỏi: “Em ước được điểm cao — nhưng em có học không?” Rồi nói về ép cát.
- Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Xét lại một việc mình đã rất cố mà không thành: có phải mình đã ép cát không?
Phần VII · Câu Hỏi Thảo Luận
- Vương tử Jayasena hỏi bằng mấy vế?
- Điều quyết định quả vị là gì?
- Bốn cặp ví dụ là những gì?
- Điểm chung của bốn ví dụ hỏng là gì?
✦
Nguồn
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.