G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 125
Người Dưới Chân Núi Không Tin Người Trên Đỉnh

Kinh Điều Ngự Địa

Dantabhūmi Sutta — MN 125 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Điều Ngự Địa

Một vương tử nghe pháp rồi bác bỏ: “sự việc không phải là như vậy”, và bỏ đi. Thế Tôn không trách vương tử — Ngài giải thích bằng ví dụ hai người bạn leo núi: người đứng dưới chân núi không tin bạn mình trên đỉnh thấy được vườn rừng, cho tới khi chính mình được dắt lên.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 125
  • Nơi thuyết — Rājagaha, Trúc Lâm
  • Nghĩa têndantabhūmi: “địa vị của bậc đã được điều phục”
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Ðiều ngự địa (Dantabhūmi: "địa vị của bậc đã được điều phục") mở đầu bằng cuộc đàm thoại giữa vương tử Jayasena và Sa-di Aciravata. Vương tử nghe nói rằng Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần thì chứng được nhứt tâm, nên xin Sa-di thuyết pháp. Sa-di thuyết đúng như đã được nghe, được học, nhưng vương tử bác bỏ: "sự việc không phải là như vậy", rồi đứng dậy ra đi. Khi Sa-di trình lại, Thế Tôn dạy: điều gì chỉ có ly dục mới biết, mới thấy, mới đạt, mới chứng, thì một người sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, không thể nào biết hay thấy được. Ngài đưa hai ví dụ: hai con voi (ngựa, bò) được khéo điều phục thì đạt đến điều phục địa, con không được điều phục thì không; và hai người bạn leo núi — người đứng dưới chân núi bảo rằng đứng trên đỉnh không thể thấy vườn rừng khả ái, chỉ khi tự mình được dắt lên đỉnh mới thấy, và hiểu ra rằng trước đó mình "bị che khuất bởi sườn núi này". Cũng vậy, vương tử Jayasena bị vô minh uẩn che khuất, chận đứng, bao vây. Phần chính của kinh là ví dụ dài về nghề điều phục voi: người tượng sư bắt voi rừng cột vào cổ vương tượng kéo ra chỗ ngoài trời, rồi người điều phục voi đóng cọc trụ lớn, cột cổ voi, nói lời nhẹ nhàng, cho cỏ nước, dạy từng động tác "nhặt lên — đặt xuống", "đi tới — đi lui", "đứng dậy — ngồi xuống", cho đến động tác "bất động", khiến voi nhẫn chịu được đao kiếm tên búa và tiếng trống, xứng đáng được vua dùng. Song song đó là lộ trình huấn luyện của Như Lai đối với vị Thánh đệ tử: xuất gia (ra chỗ ngoài trời), giữ giới bổn Pātimokkha, hộ trì các căn, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, sống nơi thanh vắng, đoạn trừ năm triền cái, rồi tu Bốn Niệm Xứ — được ví như cọc trụ cột tâm để điều phục tâm tư cư sĩ. Tiếp đến là các thiền chứng, ba minh, và giải thoát. Kinh kết bằng lời dạy: Tỷ-kheo dù trưởng lão, trung niên hay thiếu niên mà chết với lậu hoặc chưa đoạn tận thì gọi là chết với cái chết không được điều phục; nếu lậu hoặc đã đoạn tận thì gọi là chết với cái chết được điều phục.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: vương tử Jayasena hỏi đạo Sa-di Aciravata (SC 1–12) — Vương tử Jayasena nghe rằng Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần sẽ được nhứt tâm; xin Sa-di Aciravata thuyết pháp như đã được nghe, như đã được học. Nghe xong, vương tử bác bỏ rằng sự việc không phải như vậy, rồi đứng dậy ra đi.
  • 2. Sa-di trình lên Thế Tôn — lời dạy về ly dục (SC 13–15) — Thế Tôn dạy: người sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, không thể biết, thấy, đạt hay chứng điều chỉ có ly dục mới biết được.
  • 3. Ví dụ hai con voi (ngựa, bò) được điều phục và không được điều phục (SC 16–20) — Chỉ những con được khéo điều phục, khéo huấn luyện mới đi đến khả năng điều phục và đạt đến điều phục địa (dantabhūmi).
  • 4. Ví dụ hai người bạn leo núi (SC 21–24) — Người đứng dưới chân núi không tin bạn mình đứng trên đỉnh thấy được vườn rừng khả ái; khi tự mình được dắt lên đỉnh mới thấy và hiểu ra mình đã bị núi che khuất. Cũng vậy, vương tử Jayasena bị vô minh uẩn che khuất.
  • 5. Ví dụ nghề điều phục voi rừng (SC 26–29) — Từ việc bắt voi rừng ra chỗ ngoài trời, đóng cọc trụ, nói lời nhẹ nhàng, cho cỏ nước, dạy các động tác nhặt lên–đặt xuống, đi tới–đi lui, đứng dậy–ngồi xuống, cho đến động tác 'bất động', khiến voi xứng đáng được vua dùng.
  • 6. Như Lai huấn luyện vị Thánh đệ tử: từ xuất gia đến đoạn trừ năm triền cái (SC 30–37) — Như Lai xuất hiện ở đời và thuyết pháp; người nghe pháp phát tín tâm, xuất gia (đi đến chỗ ngoài trời); rồi lần lượt được huấn luyện: giữ giới bổn Pātimokkha, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác, sống nơi trú xứ thanh vắng, đoạn trừ năm triền cái.
  • 7. Bốn Niệm Xứ là cọc trụ cột tâm (SC 38–41) — Vị ấy sống quán thân, thọ, tâm, pháp; bốn niệm xứ này là những dây cột tâm tư để điều phục tánh cư sĩ, để đạt được chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn. Rồi Như Lai dạy thêm: quán thân trên thân mà chớ suy tư trên tầm liên hệ đến thân...
  • 8. Các thiền chứng và ba minh (SC 42–46) — Chứng và trú Thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư; rồi hướng tâm đến túc mạng trí, sanh tử trí (thiên nhãn), và lậu tận trí; tuệ tri Bốn Sự Thật và các lậu hoặc; tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
  • 9. Phẩm chất bậc đã được điều phục và kết luận về cái chết được điều phục (SC 47–50) — Tỷ-kheo kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát..., được gột sạch tham sân si, là vô thượng phước điền trên đời. Trưởng lão, trung niên hay thiếu niên Tỷ-kheo chết với lậu hoặc chưa đoạn tận là chết với cái chết không được điều phục; với lậu hoặc đã đoạn tận là chết với cái chết được điều phục.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 125, SC 3 (mn125:2.4–2.5)
“Sutaṁ metaṁ, bho aggivessana: ‘idha bhikkhu appamatto ātāpī pahitatto viharanto phuseyya cittassa ekaggatan’”ti.
—Tôn giả Aggivessana, tôi có nghe như sau: “Ở đây Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ được nhứt tâm”.
“Worthy Aggivessana, I have heard that a mendicant who meditates diligently, keenly, and resolutely can experience unification of mind.”
MN 125, SC 15 (mn125:7.2–7.3)
“‘taṁ kutettha, aggivessana, labbhā. Yaṁ taṁ nekkhammena ñātabbaṁ nekkhammena daṭṭhabbaṁ nekkhammena pattabbaṁ nekkhammena sacchikātabbaṁ taṁ vata jayaseno rājakumāro kāmamajjhe vasanto kāme paribhuñjanto kāmavitakkehi khajjamāno kāmapariḷāhena pariḍayhamāno kāmapariyesanāya ussuko ñassati vā dakkhati vā sacchi vā karissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
—Như vậy, này Aggivessana, nào có lợi ích gì? Vương tử Jayasenna sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốt, tha thiết truy cầu dục, lại có thể biết, có thể thấy, hay có thể chứng (quả vị) chỉ có ly dục mới biết được, chỉ có ly dục mới thấy được. Chỉ có ly dục mới đạt được, hay chỉ có ly dục mới chứng được; sự kiện như vậy không xảy ra.
“How could it possibly be otherwise, Aggivessana? Prince Jayasena dwells in the midst of sensual pleasures, enjoying them, consumed by thoughts of them, burning with fever for them, and eagerly seeking more. It’s simply impossible for him to know or see or realize what can only be known, seen, and realized by renunciation.
MN 125, SC 22 (mn125:9.19)
‘tathā hi panāhaṁ, samma, iminā mahatā pabbatena āvuto daṭṭheyyaṁ nāddasan’ti.
“Này Bạn thân, vì tôi bị che khuất bởi sườn núi này, nên không thấy được những điều đáng thấy”.
‘But my dear, it was because I was obstructed by this big mountain that I didn’t see what could be seen.’
MN 125, SC 23 (mn125:10.1)
Ato mahantatarena, aggivessana, ‘avijjākhandhena jayaseno rājakumāro āvuto nivuto ophuṭo pariyonaddho.
Cũng vậy, nhưng to lớn hơn, này Aggivessana, là Vương tử Jayasena, bị che khuất, bị chận đứng, bị chướng ngại, bị bao vây bởi vô minh uẩn này.
But bigger than that is the mass of ignorance by which Prince Jayasena is obstructed, hindered, engulfed, and enveloped.
MN 125, SC 39 (mn125:23.5)
evameva kho, aggivessana, ariyasāvakassa ime cattāro satipaṭṭhānā cetaso upanibandhanā honti gehasitānañceva sīlānaṁ abhinimmadanāya gehasitānañceva sarasaṅkappānaṁ abhinimmadanāya gehasitānañceva darathakilamathapariḷāhānaṁ abhinimmadanāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya.
cũng vậy, này Aggivessana, bốn niệm xứ này là những dây cột tâm tư để điều phục tánh cư sĩ, để điều phục tâm tư cư sĩ, để điều phục sự ưu tư mệt nhọc nhiệt não của các cư sĩ, để đạt được chánh lý (naya), để chứng ngộ Niết-bàn.
In the same way, a noble disciple has these four kinds of mindfulness meditation as tethers for the mind so as to subdue behaviors tied to domestic life, memories and thoughts tied to domestic life, stress, weariness, and fever tied to domestic life, to discover the system, and to realize extinguishment.
MN 125, SC 41 (mn125:24.2–24.5)
‘ehi tvaṁ, bhikkhu, kāye kāyānupassī viharāhi, mā ca kāmūpasaṁhitaṁ vitakkaṁ vitakkesi. Vedanāsu … citte … dhammesu dhammānupassī viharāhi, mā ca kāmūpasaṁhitaṁ vitakkaṁ vitakkesī’ti.
—Hãy đến, này Tỷ-kheo, hãy trú quán thân trên thân, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến thân; hãy trú quán thọ trên các cảm thọ, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến cảm thọ; hãy trú quán tâm trên tâm, chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến tâm; hãy trú quán pháp trên các pháp, và chớ có suy tư trên tầm liên hệ đến các pháp.
‘Come, mendicant, meditate observing an aspect of the body, but don’t think thoughts connected with sensual pleasures. Meditate observing an aspect of feelings … mind … principles, but don’t think thoughts connected with sensual pleasures.’
MN 125, SC 46 (mn125:29.6)
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
MN 125, SC 49 (mn125:32.4)
evameva kho, aggivessana, thero cepi bhikkhu khīṇāsavo kālaṁ karoti, ‘dantamaraṇaṁ thero bhikkhu kālaṅkato’tveva saṅkhaṁ gacchati;
Cũng vậy, này Aggivessana, nếu một Trưởng lão Tỷ-kheo với lậu hoặc đã đoạn tận chết đi, thời Trưởng lão Tỷ-kheo được gọi là đã chết, với cái chết được điều phục.
In the same way, if a mendicant—whether senior, middle, or junior—passes away having ended the defilements, they’re reckoned a mendicant who passed away tamed.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dantabhūmiÐiều ngự địa — địa vị, cảnh giới của bậc đã được điều phụcTên kinh; bản Sujato dịch "The Level of the Tamed".
dantakāraṇakhả năng điều phục, việc làm của con vật đã được điều phụcBản Việt ghi chú trong ngoặc: (dantakaranam).
cittassa ekaggatānhứt tâm, sự chuyên nhất của tâm
nekkhammaly dục, sự xuất ly
appamatta ātāpī pahitattakhông phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần
avijjākhandhavô minh uẩn
cattāro satipaṭṭhānābốn niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp)
pañca nīvaraṇānăm triền cái — các pháp làm ô nhiễm tâm tư, làm yếu ớt trí tuệ
Pātimokkhagiới bổnGiữ nguyên trong bản Việt.
āneñjabất độngTên động tác cuối cùng dạy cho voi; cũng là trạng thái của tâm định.
āsava / khīṇāsavalậu hoặc / bậc đã đoạn tận lậu hoặcBa lậu: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
ñāyachánh lýBản Việt ghi chú trong ngoặc: (naya).
aññāsự hiểu biết, chánh tríBản Việt để nguyên chữ aññā ở đoạn con voi "trú tâm vào học hỏi".
pañca kāmaguṇānăm dục công đức
purisadammasārathiÐiều Ngự Trượng PhuMột trong mười hiệu Như Lai; cùng gốc chữ danta/dama với tên kinh.
nava bhikkhuTỷ-kheo mới tu (bản Việt: “thiếu niên Tỷ-kheo”)Xin phân biệt kẻo hiểu thành tuổi đời: <em>nava</em> nghĩa là MỚI, tức Tỷ-kheo hạ lạp còn thấp — đối lại với <em>thera</em> (trưởng lão) và <em>majjhima</em> (trung niên, hạ lạp vừa). Bản Việt của Hoà thượng dịch là “thiếu niên Tỷ-kheo”, tương ứng với con voi <em>dahara</em> (voi trẻ) trong cùng ví dụ.

Câu chuyện mở đầu rất thật, và ai dạy đạo cũng từng gặp. Vương tử Jayasena nghe nói rằng Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần thì chứng được nhứt tâm, nên xin Sa-di Aciravata thuyết pháp.

Vị Sa-di thuyết đúng như đã được nghe, như đã được học. Nhưng vương tử bác bỏ: “sự việc không phải là như vậy”, rồi đứng dậy ra đi.

Xin để ý vị Sa-di không làm gì sai. Ngài nói đúng lời đã học. Vậy mà người nghe vẫn không nhận. Nói đúng chưa chắc người đã nghe được.

Và Thế Tôn giải thích chỗ ấy rất rộng lượng, KHÔNG trách vương tử. Ngài dạy: điều gì chỉ có LY DỤC mới biết, mới thấy, mới đạt, mới chứng, thì một người đang sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, bị tư tưởng dục nhai nghiến, bị nhiệt não dục thiêu đốtkhông thể nào biết hay thấy được.

Xin thưa hai chữ “nhai nghiến” và “thiêu đốt” rất mạnh. Kinh không nói vương tử ngu, cũng không nói ông kiêu ngạo. Kinh nói ông ĐANG BỊ ĐỐT. Người đang bị đốt thì không nghe được chuyện mát mẻ.

Rồi tới ví dụ hai người bạn leo núi, và đây là ví dụ đẹp nhất bài kinh. Một người lên tới đỉnh, gọi xuống rằng trên này thấy vườn rừng khả ái. Người đứng dưới chân núi bảo: không thể có chuyện ấy.

Rồi người bạn xuống, DẮT TAY người kia lên đỉnh. Lên tới nơi, người ấy thấy tận mắt — và hiểu ra rằng trước đó mình “bị che khuất bởi SƯỜN NÚI NÀY”.

Xin dừng ở ba chữ “sườn núi này”. Cái che ông không phải trí ông kém — mà là CHỖ ÔNG ĐANG ĐỨNG. Cùng đôi mắt ấy, đứng chỗ khác thì thấy.

Và Thế Tôn nói thẳng: vương tử Jayasena bị VÔ MINH UẨN che khuất, chận đứng, bao vây.

Xin thưa đây là một cách nhìn rất từ bi về người không nghe mình. Không phải họ xấu; là họ đang đứng ở chỗ không thấy được. Và việc của mình không phải cãi to hơn, mà là dắt tay lên từng bậc.

Phần chính của kinh là ví dụ dài về nghề điều phục voi rừng, kể rất tỉ mỉ. Người tượng sư bắt voi rừng, cột vào cổ vương tượng, kéo ra chỗ ngoài trời. Rồi người điều phục voi đóng cọc trụ lớn, cột cổ voi.

Và điều đầu tiên người ấy làm không phải là đánh. Ông NÓI LỜI NHẸ NHÀNG, và CHO CỎ NƯỚC.

Rồi mới dạy từng động tác một: “nhặt lên — đặt xuống”, “đi tới — đi lui”, “đứng dậy — ngồi xuống”, cho đến động tác “bất động” — khiến voi nhẫn chịu được đao kiếm, tên, búa và tiếng trống.

Xin để ý thứ tự ấy: NHẸ trước, KHÓ sau. Không ai bắt con voi rừng chịu tiếng trống ngay ngày đầu. Điều này rất đáng cho Huynh Trưởng: các em cũng phải qua “nhặt lên — đặt xuống” đã.

Và song song với đó là lộ trình Như Lai huấn luyện vị Thánh đệ tử: xuất gia (ví như ra chỗ ngoài trời) → giữ giới bổnhộ trì các căntiết độ ăn uốngchú tâm cảnh giácchánh niệm tỉnh giácsống nơi thanh vắngđoạn trừ năm triền cái.

Rồi Bốn Niệm Xứ được ví như CỌC TRỤ — cột tâm lại. Kinh nói rõ: bốn niệm xứ là “những dây cột tâm tư để điều phục tánh cư sĩ”.

Hình ảnh cọc trụ rất đáng nhớ. Cột voi không phải để hành hạ nó — mà vì voi rừng chưa quen thì chạy mất. Chánh niệm cũng vậy: không phải xiềng xích, mà là chỗ buộc để tâm khỏi chạy rông cho tới khi nó quen.

Rồi tới các thiền chứng, ba minh, và giải thoát. Vị ấy trở thành bậc kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, đã gột sạch tham sân si, là vô thượng phước điền trên đờigiống con voi đã xứng đáng được vua dùng.

Và câu kết của bài kinh rất nghiêm, xin đọc chậm. Tỷ-kheo dù trưởng lão, trung niên hay “thiếu niên”chết với lậu hoặc chưa đoạn tận thì gọi là chết với cái chết KHÔNG ĐƯỢC ĐIỀU PHỤC; nếu lậu hoặc đã đoạn tận thì chết với cái chết ĐƯỢC ĐIỀU PHỤC.

Xin thưa một chữ cho khỏi hiểu lệch. Bản Việt ghi “thiếu niên Tỷ-kheo” — Pāli là nava bhikkhu, nghĩa là Tỷ-kheo MỚI TU, hạ lạp còn thấp, không phải nói tuổi đời. Đối lại là thera (trưởng lão) và majjhima (trung niên).

Xin thưa lời cuối. Bài kinh mở ra bằng một người bỏ đi vì không tin — và không hề kết tội người ấy. Nó chỉ nói: ông đang đứng dưới chân núi. Với anh chị em đang lo cho đoàn sinh, đây là một lời rất an ủi: người chưa nghe được hôm nay không phải là người hỏngchỉ là chưa được dắt lên tới chỗ thấy.

  • “Vương tử Jayasena là người xấu.” Kinh không kết tội ông. Kinh nói ông bị vô minh uẩn che khuấtvấn đề là CHỖ ĐỨNG, không phải phẩm chất.
  • “Vị Sa-di thuyết pháp dở.” Kinh ghi rõ ngài thuyết đúng như đã được nghe, như đã được học. Nói đúng mà người chưa nghe được là chuyện thường.
  • “Thiếu niên Tỷ-kheo là Tỷ-kheo ít tuổi.” Pāli nava bhikkhu nghĩa là mới tu, hạ lạp thấp. Bản Việt dịch “thiếu niên”; xin hiểu theo hạ lạp, không theo tuổi đời.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện hai người bạn leo núi: đứng dưới thì không thấy, lên trên mới thấy.
  • Ngành Thiếu. Bàn về người điều phục voi nói lời nhẹ nhàng và cho cỏ nước TRƯỚC: vì sao không đánh ngay?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Nghĩ về một người đã bỏ đoàn vì “không tin”: mình đã cãi to hơn, hay đã dắt tay?
  • Vì sao vương tử Jayasena không nhận được lời dạy?
  • Ví dụ hai người bạn leo núi nói lên điều gì?
  • Người điều phục voi làm gì trước tiên?
  • Bốn Niệm Xứ được ví như cái gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.