G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 124
Đừng Hỏi Tôi Đã Làm Bao Nhiêu Lần

Kinh Bạc-câu-la

Bākula Sutta — MN 124 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Bạc-câu-la

Người bạn cũ hỏi: “Tám mươi năm ấy, bạn đã hành dâm dục bao nhiêu lần?” Tôn giả không trả lời — ngài sửa lại câu hỏi: “Hãy hỏi tôi đã bao nhiêu lần KHỞI LÊN DỤC TƯỞNG.” Cả bài kinh nằm trong câu sửa ấy. Và đây là bài kinh hiếm hoi trong Trung Bộ không do Đức Phật thuyết.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 124
  • Nơi thuyết — Rājagaha, Trúc Lâm
  • Đặc điểmĐức Phật không xuất hiện; toàn bài là lời tự thuật
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Bạc-câu-la là một bài kinh rất ngắn và rất lạ trong Trung Bộ: Đức Phật không xuất hiện, toàn bài là cuộc đối thoại giữa Tôn giả Bakkula và người bạn cũ thời cư sĩ, nay là lõa thể Kassapa. Kassapa hỏi: "Bạn xuất gia đã bao lâu?" Tôn giả đáp: tám mươi năm. Kassapa hỏi tiếp trong tám mươi năm đó đã bao nhiêu lần hành dâm dục. Tôn giả Bakkula sửa lại câu hỏi: đừng hỏi như vậy, hãy hỏi rằng trong tám mươi năm ấy đã bao nhiêu lần khởi lên dục tưởng. Câu sửa này chính là điểm then chốt của bài kinh: bậc đã thanh tịnh không tính chuyện đã làm hay chưa làm, mà tính đến cả cái niệm khởi lên trong tâm. Rồi Tôn giả lần lượt kể ra một chuỗi dài những điều "tôi không nhận thấy" trong suốt tám mươi năm: không khởi dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; không khởi dục tầm, sân tầm, hại tầm; không nhận y của cư sĩ, không cắt y, không may y, không nhuộm y; không nhận lời mời ăn, không mong được mời; không ngồi ăn trong nhà; không ghi nhận tướng đặc biệt của nữ nhân, không thuyết pháp cho nữ nhân dù chỉ bốn câu kệ; không cho ai xuất gia, không thọ đại giới cho ai, không nhận đệ tử hầu hạ; không tắm nhà tắm, không tắm bột thơm, không nhờ ai xoa bóp; không hề có bệnh khởi lên dù chỉ chốc lát, không mang theo thuốc dù một miếng nhỏ; không nằm dựa ván, không nằm dài ngủ; không an cư mùa mưa ở trú xứ gần làng. Sau mỗi lời, Kassapa đều thốt lên: đây là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula. Tôn giả cho biết chỉ bảy ngày còn "uế nhiễm" mà ăn "đồ ăn của nội địa" (đây là chữ của bản Hoà thượng Minh Châu; Pāli raṭṭhapiṇḍa, tức đồ khất thực trong nước), đến ngày thứ tám chánh trí khởi lên. Cảm phục, Kassapa xin xuất gia, thọ đại giới, và không bao lâu chứng A-la-hán. Về sau, Tôn giả Bakkula cầm chìa khóa đi từng trú xứ báo tin hôm nay Ngài sẽ nhập Niết-bàn, rồi ngồi giữa chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn. Bài kinh là một chân dung sống về đời sống thiểu dục, tri túc, ít bệnh và trọn vẹn thanh tịnh — nói bằng chính hành trạng, không bằng lý thuyết.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Tôn giả Bakkula trú tại Trúc Lâm, Vương Xá; lõa thể Kassapa, bạn cũ thời cư sĩ, đến chào hỏi và ngồi xuống một bên (đoạn 1-2).
  • 2. Câu hỏi được sửa lại: từ hành vi sang tâm niệm — Kassapa hỏi tám mươi năm hành dâm dục bao nhiêu lần; Tôn giả bảo hãy hỏi về dục tưởng khởi lên, và đáp rằng không hề nhận thấy dục tưởng nào khởi lên (đoạn 3).
  • 3. Chuỗi hy hữu về tâm: các tưởng và các tầm — Không khởi sân tưởng, hại tưởng; không khởi dục tầm, sân tầm, hại tầm (đoạn 4-8).
  • 4. Chuỗi hy hữu về y phục và ăn uống — Không thâu nhận y của cư sĩ, không cắt y bằng dao, không may y bằng kim, không nhuộm y, không may y kathina, không may y cho các vị đồng Phạm hạnh; không nhận lời mời ăn, không khởi tâm mong được mời, không ngồi trong nhà, không ăn trong nhà (đoạn 9-19).
  • 5. Chuỗi hy hữu về giao tiếp với nữ giới — Không ghi nhận chi tiết các tướng đặc biệt của nữ nhân, không thuyết pháp cho nữ nhân dù bốn câu kệ, không đến trú phòng Tỷ-kheo-ni, không thuyết pháp cho Tỷ-kheo-ni, học pháp nữ, Sa-di-ni (đoạn 20-25).
  • 6. Chuỗi hy hữu về trách nhiệm đồ chúng và thân thể — Không cho ai xuất gia, không thọ đại giới cho ai, KHÔNG CHO AI Y CHỈ (tức không làm thầy y chỉ cho ai — Pāli <em>nissayaṁ dātā</em>; bản Việt ghi “có nhận làm y chỉ (cho ai)”), không có Sa-di hầu hạ; không tắm nhà tắm, không tắm bột thơm, không nhờ xoa bóp; không hề có bệnh khởi lên dù một chốc lát, không mang thuốc dù một miếng a-li-lặc; không nằm dựa ván, không nằm dài ngủ (đoạn 26-36).
  • 7. Không an cư gần làng — Trong tám mươi năm không đi an cư mùa mưa tại trú xứ gần làng (đoạn 37).
  • 8. Bảy ngày còn uế nhiễm, ngày thứ tám chánh trí khởi — Tôn giả cho biết chỉ bảy ngày còn uế nhiễm mà ăn đồ ăn của nội địa, đến ngày thứ tám chánh trí khởi lên (đoạn 38).
  • 9. Kassapa xuất gia và chứng A-la-hán — Kassapa xin xuất gia, thọ đại giới, sống độc cư viễn ly tinh cần, chứng ngộ cứu cánh Phạm hạnh, trở thành một vị A-la-hán (đoạn 39).
  • 10. Tôn giả Bakkula nhập Niết-bàn — Ngài cầm chìa khóa đi từ trú xứ này đến trú xứ khác báo tin, rồi ngồi giữa chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn (đoạn 40-41).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 124.1
ekaṁ samayaṁ āyasmā bākulo rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Một thời Tôn giả Bakkula trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các loài sóc (kalandakanivapa).
At one time Venerable Bakkula was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels' feeding ground.
MN 124.3 (Việt: SC 6)
"Na kho maṁ, āvuso kassapa, evaṁ pucchitabbaṁ: 'imehi pana te, āvuso bākula, asītiyā vassehi katikkhattuṁ methuno dhammo paṭisevito'ti. Evañca kho maṁ, āvuso kassapa, pucchitabbaṁ: 'imehi pana te, āvuso bākula, asītiyā vassehi katikkhattuṁ kāmasaññā uppannapubbā'"ti?
Hiền giả Kassapa, chớ có hỏi tôi như vậy: "Hiền giả Kassapa, trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiều lần Hiền giả hành dâm dục?" Hiền giả Kassapa, hãy hỏi tôi như sau: "Hiền giả Bakkula, trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiêu lần Hiền giả khởi lên dục tưởng?"
"You shouldn't ask me such a question. Rather, you should ask me this: 'But in these eighty years, how many times have sensual perceptions ever arisen in you?'"
MN 124.3 (Việt: SC 8-9)
"Asīti me, āvuso, vassāni pabbajitassa nābhijānāmi kāmasaññaṁ uppannapubbaṁ". "Yampāyasmā bākulo asītiyā vassehi nābhijānāti kāmasaññaṁ uppannapubbaṁ idampi mayaṁ āyasmato bākulassa acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhārema".
Hiền giả Kassapa, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không bao giờ nhận thấy có dục tưởng khởi lên. — Vì rằng Tôn giả Bakkula trong tám mươi năm không nhận thấy có dục tưởng khởi lên, chúng tôi thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula.
"In these eighty years, I don't recall that any sensual perception has ever arisen in me." This we remember as an incredible and amazing quality of Venerable Bakkula.
MN 124.4-5 (Việt: SC 10)
"Asīti me, āvuso, vassāni pabbajitassa nābhijānāmi byāpādasaññaṁ …pe… vihiṁsāsaññaṁ uppannapubbaṁ".
Này Hiền giả, trong tám mươi năm từ khi tôi xuất gia, tôi không bao giờ nhận thấy có sân tưởng, hại tưởng khởi lên.
"In these eighty years, I don't recall that any perception of ill will … or cruelty has ever arisen in me."
MN 124.30-36 (Việt: SC 30)
nābhijānāmi ābādhaṁ uppannapubbaṁ, antamaso gaddūhanamattampi …
Tôi không bao giờ nhận thấy có bệnh khởi lên, dầu cho một chốc lát.
being ill, even for as long as it takes to pull a cow's udder …
MN 124.38 (Việt: SC 32)
"Sattāhameva kho ahaṁ, āvuso, saraṇo raṭṭhapiṇḍaṁ bhuñjiṁ; atha aṭṭhamiyaṁ aññā udapādi.
Vừa đúng trong bảy ngày, này Hiền giả, còn uế nhiễm, tôi đã ăn đồ ăn của nội địa, rồi đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.
"Reverend, for seven days I ate the nation's almsfood as a debtor. Then on the eighth day I became enlightened."
MN 124.40 (Việt: SC 35-36)
Atha kho āyasmā bākulo aparena samayena avāpuraṇaṁ ādāya vihārena vihāraṁ upasaṅkamitvā evamāha: "abhikkamathāyasmanto, abhikkamathāyasmanto. Ajja me parinibbānaṁ bhavissatī"ti.
Rồi Tôn giả Bakkula, sau một thời gian, cầm chìa khóa, đi từ trú xứ này đến trú xứ khác và nói như sau — Chư Tôn giả hãy đi ra! Chư Tôn giả hãy đi ra! Hôm nay tôi sẽ nhập Niết-bàn.
Then some time later Venerable Bakkula, taking a latchkey, went from dwelling to dwelling, saying, "Come forth, venerables, come forth! Today will be my full extinguishment."
MN 124.41 (Việt: SC 38)
Āyasmā bākulo majjhe bhikkhusaṅghassa nisinnakova parinibbāyi.
Rồi Tôn giả Bakkula ngồi giữa chúng Tỷ-kheo nhập Niết-bàn.
And Venerable Bakkula became fully extinguished while seated right in the middle of the Saṅgha.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
acchariya abbhutadhammahy hữu, vị tằng hữu — điều hiếm có chưa từng cóCâu lặp lại nhiều lần trong kinh, làm thành nhịp điệu của toàn bài.
kāmasaññādục tưởng — tưởng về dụcBản Sujato: sensual perception.
byāpādasaññāsân tưởng
vihiṁsāsaññāhại tưởng — tưởng làm hại
kāmavitakkadục tầm — ý nghĩ về dục
byāpādavitakka / vihiṁsāvitakkasân tầm / hại tầm
gahapaticīvaray của cư sĩ (do gia chủ cúng)
kathinay kathina — lễ dâng y sau mùa an cư
nissayay chỉ — sự nương tựa thầy của vị tân Tỷ-kheo
sikkhamānāhọc pháp nữ — nữ tu đang tập sự trước khi thọ giới Tỷ-kheo-ni
sāmaṇerīSa-di-ni
bhikkhunupassayatrú phòng Tỷ-kheo-ni
gāmantasenāsanatrú xứ gần làng
raṭṭhapiṇḍađồ ăn của nội địa — thức ăn khất thực trong nướcBản Sujato: the nation's almsfood.
saraṇacòn uế nhiễm (chưa đoạn tận lậu hoặc)Bản Sujato dịch theo nghĩa "as a debtor" — người còn mắc nợ tín thí.
aññāchánh trí — trí giác ngộ hoàn toàn
parinibbānanhập Niết-bàn (Bát-niết-bàn)
haritakikhaṇḍamiếng a-li-lặc (haritaki) — một vị thuốc thông dụng
kalandakanivāpachỗ nuôi dưỡng các loài sóc — tên khu Trúc Lâm

Bài kinh này rất ngắn và rất lạ trong Trung Bộ, nên nói rõ trước. Đức Phật không xuất hiện một câu nào. Toàn bài là cuộc đối thoại giữa Tôn giả Bakkula và người bạn cũ thời còn cư sĩ — nay là lõa thể Kassapa, một người tu theo phái khác.

Xin để ý cái tình trong đó. Hai người quen nhau từ thuở còn ở đời. Một người theo Phật, một người theo phái lõa thể. Vậy mà vẫn tới thăm nhau, vẫn ngồi xuống hỏi chuyện.

Kassapa hỏi câu đầu rất bình thường: “Bạn xuất gia đã bao lâu?”“Tám mươi năm.”

Rồi ông hỏi câu thứ hai, và đây là câu rất người: trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiêu lần hành dâm dục?

Xin thưa câu hỏi ấy không phải để chọc ghẹo. Đó là câu hỏi rất thật của một người muốn đo: đo xem tám mươi năm ấy có thật hay chỉ là hình thức.

Và Tôn giả không trả lời. Ngài SỬA LẠI CÂU HỎI. “Hiền giả Kassapa, chớ có hỏi tôi như vậy… hãy hỏi tôi như sau: trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiêu lần Hiền giả KHỞI LÊN DỤC TƯỞNG?”

Xin dừng lại, vì cả bài kinh nằm ở câu sửa ấy. Người thường đo mình bằng việc ĐÃ LÀM: chưa làm là còn tốt. Bậc đã thanh tịnh đo mình bằng cái KHỞI LÊN TRONG TÂMvì tới chỗ ấy thì chuyện “nhịn được” không còn là vấn đề nữa.

Và câu đáp là: trong tám mươi năm, ngài KHÔNG BAO GIỜ NHẬN THẤY CÓ DỤC TƯỞNG KHỞI LÊN.

Rồi bắt đầu một chuỗi dài những điều “tôi không nhận thấy”, và chuỗi ấy rất đáng đọc chậm. Về tâm: không khởi dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng; không khởi dục tầm, sân tầm, hại tầm.

Về y phục: không nhận y của cư sĩ, không cắt y, không may y, không nhuộm y. Về ăn uống: không nhận lời mời ăn, không khởi tâm MONG được mời, không ngồi ăn trong nhà.

Xin để ý bốn chữ “không MONG được mời”. Không nhận thì người ngoài thấy được. Không mong thì chỉ mình biết. Ngài kể luôn cả điều không ai kiểm được.

Về giao tiếp với nữ giới: không ghi nhận tướng đặc biệt của nữ nhân, không thuyết pháp cho nữ nhân dù chỉ bốn câu kệ, không đến trú phòng Tỷ-kheo-ni.

Xin thưa một lời cho công bằng ở chỗ này, vì đây là chỗ dễ hiểu lệch nhất. Đây là hạnh riêng của MỘT vị, kể lại như một sự thật về đời mìnhkhông phải một điều luật cho tất cả. Chính Đức Phật đã thuyết pháp cho nữ giới rất nhiều, và lập cả Ni đoàn. Bài kinh không hề nêu hạnh này thành khuôn cho người khác.

Về đồ chúng: không cho ai xuất gia, không thọ đại giới cho ai, không cho ai y chỉ, không nhận Sa-di hầu hạ.

Về thân: không tắm nhà tắm, không tắm bột thơm, không nhờ ai xoa bóp; không hề có bệnh khởi lên dù chỉ chốc lát, không mang theo thuốc dù một miếng nhỏ; không nằm dựa ván, không nằm dài ngủ.

Sau mỗi lời, Kassapa đều thốt lên cùng một câu: đây là một hy hữu, một vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula.

Rồi tới câu ngắn nhất mà lớn nhất trong bài kinh. Tôn giả cho biết: chỉ VỪA ĐÚNG BẢY NGÀY còn “uế nhiễm” mà ăn “đồ ăn của nội địa”đến ngày thứ tám thì chánh trí khởi lên.

Xin thưa vì sao câu ấy cảm động. Cả bài kinh kể tám mươi năm. Nhưng ngài đếm rất kỹ BẢY NGÀYbảy ngày mình còn chưa xứng với bát cơm của người ta. Sau tám mươi năm, cái ngài nhớ rõ nhất vẫn là món nợ bảy ngày ấy.

Cảm phục, Kassapa xin xuất gia, thọ đại giới, và không bao lâu chứng A-la-hán. Người bạn tới hỏi một câu tò mò, ra về là một người khác.

Và kết kinh rất lặng. Về sau, Tôn giả Bakkula cầm chìa khoá đi từng trú xứ báo tin hôm nay Ngài sẽ nhập Niết-bàn, rồi ngồi giữa chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn.

Chi tiết “cầm chìa khoá” rất người và rất đẹp. Ngài không hiện thần thông, không dặn dò dài dòng. Ngài làm nốt việc thường ngày — đi mở từng cửarồi ngồi xuống.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này không đòi ai bắt chước tám mươi năm ấy. Điều đáng mang về là CÁCH ĐO: đừng chỉ hỏi “tôi đã làm gì sai chưa”, mà thử hỏi “điều gì đã KHỞI LÊN trong lòng tôi hôm nay”. Câu hỏi thứ hai thành thật hơn nhiều.

  • “Kinh dạy không được thuyết pháp cho nữ giới.” Không hề. Đây là hạnh riêng của một vị, kể lại về đời mình. Đức Phật thuyết pháp cho nữ giới rất nhiềulập Ni đoàn; bài kinh không nêu hạnh này thành khuôn cho ai.
  • “Không bệnh suốt tám mươi năm là chuyện khó tin.” Đó là lời tự thuật được ghi lại, và Kassapa nghe cũng thấy hy hữuchính kinh gọi đó là hy hữu, tức chuyện hiếm có, không phải chuyện thường.
  • Một chỗ chúng tôi suýt đọc ngược, xin nói rõ chứ không sửa thầm. Bản tóm tắt trước ghi Tôn giả “không nhận y chỉ”. Đối chiếu lại bản Hoà thượng Minh Châu, nguyên văn là “có nhận làm y chỉ (CHO AI)” — Pāli nissayaṁ dātā nghĩa là CHO y chỉ, tức không làm thầy y chỉ cho ai. Lời Hoà thượng không sai; bản tóm tắt của chúng tôi đã bỏ mất phần trong ngoặc.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện hai người bạn cũ đi hai đường mà vẫn tới thăm nhau.
  • Ngành Thiếu. Đổi câu hỏi: thay vì “hôm nay em có làm gì sai không?”, thử hỏi “hôm nay trong lòng em đã khởi lên điều gì?”
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về bảy ngày: vì sao sau tám mươi năm ngài vẫn nhớ rõ bảy ngày ấy?
  • Tôn giả Bakkula sửa lại câu hỏi như thế nào?
  • Vì sao “không mong được mời” lại đáng để ý?
  • Bảy ngày ấy có ý nghĩa gì?
  • Ngài nhập Niết-bàn theo cách nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.