G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 123
Điều Hy Hữu Thật · Nằm Ở Câu Cuối

Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp

Acchariyaabbhuta Sutta — MN 123 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp

Tôn giả Ānanda kể lại những điều hy hữu về Bồ-táthào quang chiếu khắp, mười ngàn thế giới chuyển động, bảy bước hoa sen. Nhưng chính Thế Tôn thêm vào một điều nữa ở cuối, và điều ấy mới là điều dùng được cho chúng ta.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 123
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm
  • Người thuyết chính — Tôn giả Ānanda, trước mặt Thế Tôn
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp (MN 123) được nói tại tịnh xá Cấp Cô Độc, rừng Kỳ-đà, thành Xá-vệ. Nhân một số đông Tỷ-kheo sau buổi khất thực ngồi tụ họp tại thị giả đường, tán thán đại thần thông lực của Như Lai vì Ngài biết được sanh tánh, danh tánh, tộc tánh, giới hạnh, pháp hạnh, tuệ hạnh, trú hạnh và sự giải thoát của chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn, Tôn giả Ānanda nói thêm rằng Như Lai đầy đủ các pháp hy hữu, vị tằng hữu. Câu chuyện bị gián đoạn khi Thế Tôn từ Thiền tịnh đứng dậy đi đến. Nghe lại câu chuyện, Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda hãy nói lên nhiều nữa những đặc tánh hy hữu ấy. Phần chính của kinh là lời Tôn giả Ānanda, mỗi điều đều mở đầu bằng "con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn" và kết bằng "con thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn". Các điều ấy thuật lại: Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác sanh và an trú tại Thiên chúng Tusita cho đến trọn thọ mạng; khi Bồ-tát nhập mẫu thai thì một hào quang vô lượng chiếu khắp, cả các cảnh giới tối tăm giữa các thế giới mà mặt trăng mặt trời không chiếu thấu, và mười ngàn thế giới chuyển động; bốn vị Thiên tử canh gác bốn phương; mẹ Bồ-tát giữ năm giới một cách hồn nhiên, không khởi dục tâm, không bệnh tật, và thấy Bồ-tát trong bào thai rõ như người có mắt nhìn sợi dây xâu qua viên ngọc lưu ly tám cạnh. Rồi đến sự đản sanh: mẹ Bồ-tát mệnh chung sau bảy ngày và sanh lên cõi Đâu-suất; bà mang thai đúng mười tháng và đứng mà sanh; chư Thiên đỡ lấy Ngài trước loài người; Ngài sanh ra thanh tịnh, không nhiễm ô, ví như viên ngọc ma-ni đặt trên tấm vải Ba-la-nại — cả hai đều thanh tịnh nên không làm nhiễm ô nhau; hai dòng nước lạnh và nóng từ hư không tắm rửa cho Ngài và mẹ; Ngài đứng vững trên hai chân, hướng phía Bắc bước bảy bước và thốt lời như ngưu vương: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời… Nay là đời sống cuối cùng". Cuối kinh, chính Thế Tôn thêm một điều hy hữu nữa, và điều này rất thiết thực cho người tu: nơi Như Lai, các cảm thọ, các tưởng, các tầm khởi lên đều được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Tôn giả Ānanda thọ trì lời ấy; bậc Đạo Sư chấp nhận và các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: câu chuyện tại thị giả đường — Tại Kỳ-đà-lâm (Jetavana), sau buổi khất thực, một số đông Tỷ-kheo ngồi bàn về đại thần thông lực của Như Lai, vì Ngài biết được sanh tánh, danh tánh, tộc tánh, giới hạnh, pháp hạnh, tuệ hạnh, trú hạnh, giải thoát của chư Phật quá khứ. Tôn giả Ānanda tán thán Như Lai đầy đủ các pháp hy hữu, vị tằng hữu. Thế Tôn đến, hỏi câu chuyện gì bị gián đoạn, rồi bảo Ānanda nói thêm nữa.
  • Ở cõi trời Tusita (Đâu-suất) — Ba điều: Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác sanh trong Thiên chúng Tusita; chánh niệm tỉnh giác an trú tại đó; an trú tại đó cho đến trọn thọ mạng.
  • Nhập mẫu thai — Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác từ Thiên chúng Tusita mạng chung, nhập mẫu thai; hào quang vô lượng chiếu khắp mười ngàn thế giới và các cảnh giới tối tăm giữa các thế giới, mười ngàn thế giới chuyển động; bốn Thiên tử canh gác bốn phương; mẹ Bồ-tát giữ năm giới một cách hồn nhiên; không khởi dục tâm và không bị xâm phạm; tận hưởng năm dục công đức; không bệnh tật, thấy Bồ-tát trong bào thai như thấy sợi dây xâu qua viên ngọc lưu ly tám cạnh.
  • Sự đản sanh — Sau khi sanh Bồ-tát bảy ngày, mẹ Bồ-tát mệnh chung, sanh lên cõi trời Đâu-suất; mang thai đúng mười tháng; đứng mà sanh; chư Thiên đỡ trước rồi mới đến loài người; bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài khi chưa đụng đất; Ngài sanh ra thanh tịnh, không nhiễm ô, ví như viên ngọc ma-ni đặt trên tấm vải Ba-la-nại; hai dòng nước lạnh và nóng từ hư không tắm rửa; Ngài đứng vững bước bảy bước hướng phía Bắc và thốt lời như ngưu vương; và một lần nữa hào quang vô lượng hiện ra, mười ngàn thế giới chuyển động.
  • Điều hy hữu Thế Tôn tự dạy: thọ, tưởng, tầm đều được biết đến — Thế Tôn bảo Ānanda hãy thọ trì thêm điều này là hy hữu vị tằng hữu của Như Lai: các cảm thọ, các tưởng, các tầm khởi lên nơi Như Lai đều được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Ānanda lặp lại và thọ trì.
  • Kết kinh — Tôn giả Ānanda nói như vậy. Bậc Đạo Sư chấp nhận. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ānanda nói.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 123.2.2 (bản Việt: SC 3)
“acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso. Tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā,
“Thật hy hữu thay chư Hiền! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, là đại thần thông lực, đại uy lực của Như Lai!
“It’s incredible, reverends, it’s amazing! The Realized One has such psychic power and might!
MN 123.2.6–2.7 (bản Việt: SC 4)
“acchariyā ceva, āvuso, tathāgatā acchariyadhammasamannāgatā ca; abbhutā ceva, āvuso, tathāgatā abbhutadhammasamannāgatā cā”ti.
“Thật hy hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp hy hữu! Thật vị tằng hữu thay chư Hiền, Như Lai được đầy đủ các pháp vị tằng hữu!”
“The Realized Ones are incredible, reverends, and they have incredible qualities. They’re amazing, and they have amazing qualities.”
MN 123.3.1–3.2 (bản Việt: SC 10)
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘sato sampajāno, ānanda, bodhisatto tusitaṁ kāyaṁ upapajjī’ti.
Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Chánh niệm tỉnh giác, này Ānanda, Bồ-tát sanh trong Thiên chúng (Kaya) Tusita”.
“Sir, I have heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘Mindful and aware, the being intent on awakening was reborn in the host of joyful gods.’
MN 123.8.2 (bản Việt: SC 15)
‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, cattāro devaputtā catuddisaṁ ārakkhāya upagacchanti—mā naṁ bodhisattaṁ vā bodhisattamātaraṁ vā manusso vā amanusso vā koci vā viheṭhesī’ti.
“Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ānanda, bốn vị Thiên tử đến canh gác bốn phương trời và nói: “Không cho một ai, người hay không phải loài người được phiền nhiễu Bồ-tát, hay mẹ vị Bồ-tát”.
‘When the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, four godlings approach to guard the four quarters, so that no human or non-human or anyone at all shall harm the being intent on awakening or his mother.’
MN 123.9.2 (bản Việt: SC 16)
‘yadā, ānanda, bodhisatto mātukucchiṁ okkanto hoti, pakatiyā sīlavatī bodhisattamātā hoti viratā pāṇātipātā viratā adinnādānā viratā kāmesumicchācārā viratā musāvādā viratā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā’ti.
“Khi Bồ-tát nhập mẫu thai, này Ānanda, mẹ Bồ-tát giữ giới một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống các thứ rượu nấu, rượu lên chất men”.
‘When the being intent on awakening is conceived in his mother’s womb, she becomes naturally ethical. She refrains from killing living creatures, stealing, sexual misconduct, lying, and beer, wine, and liquor intoxicants.’
MN 123.18.3–18.5 (bản Việt: SC 25)
Seyyathāpi, ānanda, maṇiratanaṁ kāsike vatthe nikkhittaṁ neva maṇiratanaṁ kāsikaṁ vatthaṁ makkheti nāpi kāsikaṁ vatthaṁ maṇiratanaṁ makkheti. Taṁ kissa hetu? Ubhinnaṁ suddhattā.
Này Ānanda, ví như một viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Viên ngọc không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nai cũng không làm nhiễm ô hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh.
Suppose a jewel-treasure was placed on a cloth from Kāsi. The jewel would not soil the cloth, nor would the cloth soil the jewel. Why is that? Because of the cleanliness of them both.
MN 123.20.2 (bản Việt: SC 27)
‘sampatijāto, ānanda, bodhisatto samehi pādehi pathaviyaṁ patiṭṭhahitvā uttarābhimukho sattapadavītihārena gacchati, setamhi chatte anudhāriyamāne, sabbā ca disā viloketi, āsabhiñca vācaṁ bhāsati—aggohamasmi lokassa, jeṭṭhohamasmi lokassa, seṭṭhohamasmi lokassa. Ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti.
“Bồ-tát khi sanh ra, này Ānanda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa”.
‘As soon as he’s born, the being intent on awakening stands firm with his own feet on the ground. Facing north, he takes seven strides with a white parasol held above him, surveys all quarters, and makes this dramatic proclamation: “I am the foremost in the world! I am the eldest in the world! I am the first in the world! This is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.”’
MN 123.22.1–22.5 (bản Việt: SC 29)
“Tasmātiha tvaṁ, ānanda, idampi tathāgatassa acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhārehi. Idhānanda, tathāgatassa viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti; viditā saññā uppajjanti …pe… viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Idampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatassa acchariyaṁ abbhutadhammaṁ dhārehī”ti.
—Do vậy, này Ānanda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ānanda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ānanda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.
“Well then, Ānanda, you should also remember this as an incredible and amazing quality of the Realized One. It’s that the Realized One knows feelings as they arise, as they remain, and as they go away. He knows perceptions as they arise, as they remain, and as they go away. He knows thoughts as they arise, as they remain, and as they go away. This too you should remember as an incredible and amazing quality of the Realized One.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
acchariyahy hữu — hiếm có, ít khi xảy raBản Anh của Sujato dịch là "incredible".
abbhutadhammavị tằng hữu pháp — điều chưa từng cóCũng là tên một trong chín thể loại kinh văn (navaṅga).
bodhisattaBồ-tát — vị hướng đến giác ngộ, chỉ Đức Phật khi chưa thành đạo
tusita kāyaThiên chúng Tusita — cõi trời Đâu-suất
sato sampajānochánh niệm tỉnh giác
tathāgataNhư Lai
vedanācảm thọ
saññātưởng
vitakkatầm — ý nghĩ khởi lên
papañcahý luậnTrong đoạn mở đầu: chư Phật quá khứ "đã đoạn các hý luận" (chinnapapañca).
dasasahassī lokadhātumười ngàn thế giới
veḷuriyangọc lưu lyTrong ví dụ viên ngọc tám cạnh có sợi dây xâu qua.
maṇiratanangọc ma-ni bảo châu
kāsika vatthavải Ba-la-nại (xứ Kāsi)
āsabhī vācālời như ngưu vương — lời tuyên bố hùng dũng

Duyên khởi rất đời thường: chư Tăng ngồi nói chuyện với nhau. Sau buổi khất thực, một số đông Tỷ-kheo tụ họp tại thị giả đường bàn về đại thần thông lực của Như Lai. Thế Tôn đi tới, nghe lại câu chuyện, rồi bảo Tôn giả Ānanda hãy nói lên nhiều nữa.

Xin để ý điều ấy. Ngài không ngăn, cũng không tự kể về mình — Ngài mời một người khác kể. Và người ấy là thị giả đã hầu Ngài lâu năm nhất.

Và cách Tôn giả Ānanda mở đầu mỗi điều rất đáng học: “con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn” — rồi kết bằng “con thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn”.

Xin thưa vì sao công thức ấy quý. Tôn giả nói rõ nguồn: ngài không tự nghĩ ra, không nghe truyền lạingài nghe tận mặt. Trong một bài kinh toàn chuyện phi thường, người kể vẫn ghi rõ mình lấy từ đâu.

Các điều hy hữu ấy kể theo thứ tự một đời. Trước là ở cõi Tusita (Đâu-suất): Bồ-tát chánh niệm tỉnh giác sanh tại Thiên chúng ấy, chánh niệm tỉnh giác an trú, và an trú cho tới trọn thọ mạng.

Xin để ý ba chữ “chánh niệm tỉnh giác” lặp lại ba lần. Đó là sợi chỉ xuyên suốt cả bài kinh: điều hy hữu không phải là đi đâu, mà là ĐI MÀ BIẾT.

Rồi tới lúc nhập mẫu thai: một hào quang vô lượng chiếu khắp, tới cả các cảnh giới tối tăm giữa các thế giới mà mặt trăng mặt trời không chiếu thấu, và mười ngàn thế giới chuyển động.

Chi tiết “chỗ mặt trăng mặt trời không chiếu thấu” rất đẹp. Ánh sáng ấy tới được chỗ tối nhấtchỗ mà ánh sáng thường không tới.

Rồi các điều về mẹ Bồ-tát, kể rất trân trọng: bốn vị Thiên tử canh gác bốn phương; bà giữ năm giới một cách hồn nhiên, không khởi dục tâm, không bệnh tật; và bà thấy Bồ-tát trong bào thai rõ như người có mắt nhìn sợi dây xâu qua viên ngọc lưu ly tám cạnh.

Rồi tới sự đản sanh: bà mang thai đúng mười thángđứng mà sanh; chư Thiên đỡ lấy Ngài trước loài người; bảy ngày sau bà mệnh chung và sanh lên cõi Đâu-suất.

Và một hình ảnh rất đẹp về sự thanh tịnh: Ngài sanh ra thanh tịnh, không nhiễm ô, ví như viên ngọc ma-ni đặt trên tấm vải Ba-la-nạicả hai đều thanh tịnh nên không làm nhiễm ô nhau.

Xin thưa ví dụ ấy tế nhị ở chỗ nào.không nói đứa bé sạch còn người mẹ thì không. Nó nói CẢ HAI đều thanh tịnhviên ngọc và tấm vải. Đây là một lời rất trọng đối với người mẹ.

Rồi hai dòng nước lạnh và nóng từ hư không tắm rửa cho Ngài và mẹ; và Ngài đứng vững trên hai chân, hướng phía Bắc bước bảy bước rồi thốt lời như ngưu vương: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời… Nay là đời sống cuối cùng.”

Xin nói một lời cho người mới đọc, kẻo thấy khó tin mà bỏ dở. Đây là ngôn ngữ tán thán của kinh điển, kể lại một sự kiện được nhớ bằng lòng kính. Bác không cần phải quyết định tin hay không tin từng chi tiết mới đọc được bài kinh — vì chính Thế Tôn sẽ chỉ ra điều hy hữu THẬT ở câu cuối.

Và đây là chỗ hay nhất của cả bài kinh. Sau khi Tôn giả Ānanda kể xong tất cả những điều phi thường ấy, chính Thế Tôn THÊM một điều hy hữu nữa. Và điều Ngài thêm không có hào quang, không có động đất, không có chư Thiên.

Điều ấy là: nơi Như Lai, các cảm THỌ, các TƯỞNG, các TẦM khởi lên đều ĐƯỢC BIẾT ĐẾN; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại.

Xin bác đọc lại câu ấy một lần nữa, chậm thôi. Giữa mười ngàn thế giới chuyển độngbảy bước trên đất, điều Thế Tôn tự tay chọn thêm vào lại là một việc rất lặng lẽ: biết cái gì đang khởi lên trong tâm mình.

Và đó chính là điều DUY NHẤT trong cả bài kinh mà chúng ta làm theo được. Không ai trong chúng ta làm mười ngàn thế giới chuyển động. Nhưng biết mình đang giận khi cơn giận vừa khởicái đó tập được.

Xin thưa vì sao ba nhịp “khởi lên — an trú — biến hoại” lại quý. Vì nó nói rằng cái gì được BIẾT thì tự nó đi qua. Không cần đuổi. Cái không được biết mới ở lại và làm chủ mình.

Xin thưa lời cuối. Bài kinh này bắt đầu bằng chuyện chư Tăng tán thán thần thôngvà kết thúc bằng chánh niệm. Chính Thế Tôn đã lặng lẽ chuyển hướng câu chuyện: từ chỗ đáng kinh ngạc sang chỗ đáng học theo.

  • “Phải tin hết các điều phi thường mới là người con Phật.” Chính Thế Tôn thêm vào điều hy hữu cuối cùngvà điều ấy là chánh niệm, không phải thần thông. Bài kinh tự chỉ ra trọng tâm của nó.
  • “Kinh này do Đức Phật nói.” Người thuyết chính là Tôn giả Ānanda, trước mặt Thế Tôn; Ngài chỉ thêm điều cuốichấp nhận.
  • “Ví dụ viên ngọc trên vải nghĩa là thai mẹ bất tịnh.” Ngược lại — ví dụ nói CẢ HAI đều thanh tịnh, nên không làm nhiễm ô nhau.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện đản sanh bảy bước, rồi dạy một câu: “Biết mình đang vui, biết mình đang buồn.”
  • Ngành Thiếu. Tập ba nhịp: khởi lên — ở lại — đi qua, áp dụng vào một cơn giận trong tuần.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao Thế Tôn chọn thêm điều ấy chứ không thêm một thần thông nào nữa?
  • Tôn giả Ānanda mở đầu mỗi điều bằng câu gì?
  • Ví dụ viên ngọc trên tấm vải nói lên điều gì?
  • Điều hy hữu Thế Tôn tự thêm vào là gì?
  • Ba nhịp của thọ, tưởng, tầm là ba nhịp nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.