G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 122
Ta Không Nâng Niu Như Đồ Gốm Chưa Nung

Kinh Đại Không

Mahāsuññata Sutta — MN 122 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Đại Không

Thế Tôn thấy một trú xứ sắp đặt rất nhiều sàng tọa — dấu hiệu đông người tụ họp — và Ngài dạy bài kinh này. Nội dung rất thẳng: vị nào ưa thích hội chúng thì “không chói sáng”. Và kinh kết bằng một hình ảnh nổi tiếng: Ngài sẽ không nâng niu như thợ gốm giữ đồ gốm chưa nung.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 122
  • Nơi thuyết — Kapilavatthu, tu viện Nigrodha
  • Bài trước — MN 121 Kinh Tiểu Không
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Đại không (MN 122) được Thế Tôn giảng cho Tôn giả Ānanda tại Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Nhân thấy trú xứ của Thích-ca Kalakhemaka sắp đặt rất nhiều sàng tọa — dấu hiệu đông Tỷ-kheo tụ họp — Thế Tôn dạy một bài kinh về hạnh độc cư và về chỗ an trú gọi là "không". Trước hết, Ngài nói một Tỷ-kheo ưa thích, hân hoan, hoan hỷ trong hội chúng của mình và của người thì "không chói sáng": vị ấy không thể chứng đắc viễn ly lạc, độc cư lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, cũng không an trú được tâm giải thoát. Chỉ vị sống một mình, xa lánh tụ hội mới có hy vọng. Lý do: không một sắc pháp nào mà khi biến dịch, đổi khác lại không sanh sầu, bi, khổ, ưu, não nơi người tham đắm. Kế đó Ngài chỉ chỗ an trú mà Như Lai đã hoàn toàn giác ngộ: không tác ý tất cả tướng, chứng đắc và an trú nội không. Muốn vậy, Tỷ-kheo phải an chỉ, an tọa, chuyên nhất, an định nội tâm qua bốn thiền, rồi lần lượt tác ý nội không, ngoại không, nội ngoại không, và bất động — tâm chưa hướng đến thì biết rõ là chưa, tâm đã hướng đến thì biết rõ là đã, luôn "ý thức rõ ràng". Sự an trú ấy được đem vào đời sống hằng ngày: đi, đứng, ngồi, nằm đều biết rõ tham ưu không chảy vào; bỏ các câu chuyện phàm tục mà chỉ nói mười luận đưa đến giải thoát (thiểu dục, tri túc, độc cư, bất chúng hội, tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến); bỏ dục tầm, sân tầm, hại tầm mà suy tư ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm; thường quán sát tâm mình đối với năm dục trưởng dưỡng; và tùy quán sanh diệt của năm thủ uẩn cho đến khi ngã mạn "tôi là" được đoạn tận. Phần sau, Thế Tôn nói vì sao đệ tử xứng đáng theo bậc Đạo sư dù bị hất hủi — không phải vì được nghe kinh điển, mà vì những lời khắc khổ khai tâm. Ngài cảnh giác ba sự phiền lụy: của Đạo sư, của đệ tử, và của người tu Phạm hạnh (nặng nhất, dẫn đến đọa lạc) khi sống viễn ly rồi bị vây quanh mà khởi tham ái, trở lui đời sống sung túc. Kinh kết bằng lời dạy hãy đối xử với Ngài bằng tâm thân hữu, và hình ảnh nổi tiếng: Ngài không nâng niu như thợ gốm giữ đồ gốm chưa nung, mà sẽ nói thẳng — "Cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ đứng vững tồn tại."

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Thế Tôn thấy nhiều sàng tọa ở trú xứ Thích-ca Kalakhemaka — Kinh 1-2 (SC 1-5): Thế Tôn trú tại Kapilavatthu, tu viện Nigrodha; sau khi khất thực, Ngài đến trú xứ của Thích-ca Kalakhemaka, thấy sắp đặt rất nhiều sàng tọa; buổi chiều Ngài đến trú xứ Thích-ca Ghataya, hỏi Tôn giả Ānanda có phải nhiều Tỷ-kheo trú ở đấy không.
  • Tỷ-kheo ưa thích hội chúng thì không chói sáng — Kinh 3-4 (SC 6-7): Ai thích thú, hân hoan, hoan hỷ trong hội chúng của mình và của người thì không thể chứng đắc viễn ly lạc, độc cư lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, cũng không thể an trú tâm giải thoát có hạn kỳ hay không hạn kỳ và bất động; chỉ vị sống một mình, xa lánh tụ hội mới có hy vọng.
  • Không một sắc pháp nào biến hoại mà không sanh sầu bi — Kinh 5 (SC 8): Thế Tôn không quán thấy một sắc pháp nào mà khi biến dịch, đổi khác lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não nơi người tham đắm.
  • An trú nội không — chỗ an trú Như Lai đã giác ngộ — Kinh 6 (SC 9): Chỗ an trú Như Lai hoàn toàn giác ngộ là: không tác ý tất cả tướng, chứng đắc và an trú nội không; khi có người đến yết kiến, Như Lai vẫn với tâm hướng đến viễn ly mà nói lời khích lệ [xin thưa cho rõ: <em>uyyojanika</em> nghĩa đen là lời nhằm cho khách CÁO LUI, tiễn khách ra về — nên bản Anh của Tỳ-kheo Sujato dịch “talk concerned with sending them away”. Bản Việt của Hoà thượng Minh Châu dịch thoát thành “liên hệ đến khích lệ”; chúng tôi giữ nguyên chữ của ngài và chỉ ghi chú] (uyyojanika).
  • Đường vào nội không: an chỉ nội tâm qua bốn thiền — Kinh 7-8 (SC 10-11): Muốn an trú nội không, Tỷ-kheo phải an chỉ, an tọa, chuyên nhất, an định nội tâm — tức là chứng và trú Sơ thiền cho đến Tứ thiền.
  • Tác ý nội không, ngoại không, nội ngoại không, bất động — Kinh 9-10 (SC 12-15): Nếu tâm chưa thích thú, tịnh tín, an trú, hướng đến các đề mục ấy thì vị ấy ý thức rõ ràng; rồi trở lại định tướng trước, và khi tâm đã thích thú, tịnh tín, an trú, hướng đến thì cũng ý thức rõ ràng.
  • Bốn oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm trong an trú ấy — Kinh 11 (SC 16-17): Khi tâm hướng đến kinh hành, đứng, ngồi, nằm, vị ấy làm với ý thức rõ ràng rằng tham và ưu, các ác bất thiện pháp không chảy vào.
  • Luận nào nên nói, luận nào không nên nói — Kinh 12 (SC 18-19): Không nói các câu chuyện hạ liệt, đê tiện, phàm phu (quốc vương luận, đạo tặc luận…); chỉ nói các luận khắc khổ, khai tâm: thiểu dục, tri túc, độc cư, bất chúng hội, tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến.
  • Suy tầm nào nên suy tư — Kinh 13 (SC 20-21): Không suy tư dục tầm, sân tầm, hại tầm; chỉ suy tư ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm.
  • Thường thường quán sát tâm đối với năm dục trưởng dưỡng — Kinh 14-15 (SC 22-23): Năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc); Tỷ-kheo thường quán sát tự tâm để tuệ tri dục tham đối với chúng đã đoạn diệt hay chưa.
  • Tùy quán sanh diệt năm thủ uẩn, đoạn tận ngã mạn — Kinh 16-18 (SC 24-26): Quán sanh diệt của sắc, thọ, tưởng, hành, thức; nhờ đó ngã mạn (asmimāna) đối với năm thủ uẩn được đoạn tận. Những pháp này thuần nhất liên hệ đến thiện, thuộc hiền Thánh, siêu thế, vượt ngoài tầm ác ma.
  • Vì sao đệ tử xứng đáng theo Đạo sư dù bị hất hủi — Kinh 19-20 (SC 27-29): Không phải vì được nghe khế kinh, phúng tụng, giải thuyết, mà vì những lời luận khắc khổ, khai tâm đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
  • Ba sự phiền lụy: Đạo sư, đệ tử, và người tu Phạm hạnh — Kinh 21-24 (SC 30-33): Vị sống viễn ly bị Bà-la-môn, gia chủ, thị dân, quốc dân bao vây rồi khởi nhiễm tâm, tham ái, trở lui đời sống sung túc — đó là phiền lụy của Đạo sư và của đệ tử. Phiền lụy của người tu Phạm hạnh (đệ tử bắt chước hạnh viễn ly của bậc Chánh Đẳng Giác mà thối thất) là nhiều quả khổ, nhiều quả não hơn, dẫn đến đọa lạc.
  • Hãy đối xử với Ta với tâm thân hữu — Kinh 25-26 (SC 34-35): Đệ tử không chịu nghe, chú tâm hướng khác, đi xa lời dạy là đối xử với Đạo sư bằng tâm thù nghịch; chịu nghe, lóng tai, không đi xa lời dạy là tâm thân hữu.
  • Kết: Ta không sách tấn như thợ gốm đối với đồ gốm chưa nung — Kinh 27 (SC 36-37): Thế Tôn nói Ngài sẽ nói hết lời chỉ trích này đến lời chỉ trích khác; cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ đứng vững tồn tại. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 122.1 (bản Việt SC 1)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú giữa các dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở tu viện Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
MN 122.3 (bản Việt SC 6)
“Na kho, ānanda, bhikkhu sobhati saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito.
—Này Ānanda, một Tỷ-kheo không chói sáng nếu thích thú trong hội chúng của mình, nếu hân hoan trong hội chúng của mình, nếu hoan hỷ trong hội chúng của mình, nếu thích thú trong hội chúng của người, nếu hân hoan trong hội chúng của người, nếu hoan hỷ trong hội chúng của người.
“Ānanda, a mendicant doesn’t shine who enjoys company and groups, who loves them and likes to enjoy them.
MN 122.5 (bản Việt SC 8)
Nāhaṁ, ānanda, ekaṁ rūpampi samanupassāmi yattha rattassa yathābhiratassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā.
Này Ānanda, Ta không quán thấy một sắc pháp nào trong ấy có hoan hỷ, trong ấy có hoan lạc, chịu sự biến dịch, chịu sự đổi khác mà không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ānanda, I do not see even a single sight which, with its decay and perishing, would not give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress in someone who has desire and lust for it.
MN 122.6.1–6.2 (bản Việt SC 9)
Ayaṁ kho panānanda, vihāro tathāgatena abhisambuddho yadidaṁ—sabbanimittānaṁ amanasikārā ajjhattaṁ suññataṁ upasampajja viharituṁ.
Nhưng sự (an) trú này, này Ānanda, đã được Như Lai hoàn toàn giác ngộ, tức là sau khi không tác ý với tất cả tướng, chứng đắc và (an) trú nội không.
But this meditation has been understood by the Realized One, namely to enter and remain in emptiness internally by not focusing on any signs.
MN 122.7 (bản Việt SC 10)
Tasmātihānanda, bhikkhu cepi ākaṅkheyya: ‘ajjhattaṁ suññataṁ upasampajja vihareyyan’ti, tenānanda, bhikkhunā ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ sannisādetabbaṁ ekodi kātabbaṁ samādahātabbaṁ.
Do vậy, này Ānanda, nếu Tỷ-kheo ước vọng: “Sau khi chứng đạt nội không, ta sẽ an trú”, vị Tỷ-kheo ấy, này Ānanda, cần phải an chỉ, an tọa, chuyên nhất và an định nội tâm.
Therefore, if a mendicant should wish, ‘May I enter and remain in emptiness internally!’ then they should still, settle, unify, and immerse their mind in samādhi internally.
MN 122.12.4–12.5 (bản Việt SC 19)
Yā ca kho ayaṁ, ānanda, kathā abhisallekhikā cetovinīvaraṇasappāyā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā iti: ‘evarūpiṁ kathaṁ kathessāmī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
Nhưng này Ānanda, đối với những lời nói nào khắc khổ, khai tâm, đưa đến nhứt hướng yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, như thiểu dục luận, tri túc luận, độc cư luận, bất chúng hội luận, tinh cần luận, giới luận, định luận, tuệ luận, giải thoát luận, giải thoát tri kiến luận, vị ấy nghĩ: “Ta sẽ nói các luận như vậy”. Ở đây, vị ấy ý thức rõ ràng như vậy.
‘But I will take part in talk about self-effacement that helps open the heart and leads solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.’ In this way they are aware of the situation.
MN 122.17 (bản Việt SC 25)
Tassa imesu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassino viharato yo pañcasu upādānakkhandhesu asmimāno so pahīyati.
Trong khi vị ấy an trú, tùy quán sự sanh diệt của năm thủ uẩn này, nếu có ngã mạn nào (asmimmano) (khởi lên) đối với năm thủ uẩn, ngã mạn ấy được đoạn tận.
As they do so, they give up the conceit ‘I am’ regarding the five grasping aggregates.
MN 122.27.1–27.4 (bản Việt SC 36)
Na vo ahaṁ, ānanda, tathā parakkamissāmi yathā kumbhakāro āmake āmakamatte. Niggayha niggayhāhaṁ, ānanda, vakkhāmi; pavayha pavayha, ānanda, vakkhāmi. Yo sāro so ṭhassatī”ti.
Ta không sách tấn các Ông như người thợ gốm đối với các đồ gốm chưa nung, chưa được nung chín. Ta sẽ nói hết lời chỉ trích này đến lời chỉ trích khác, hết lời tán thán này đến lời tán thán khác. Cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ đứng vững tồn tại.
I shall not mollycoddle you like a potter with their damp, unfired pots. I shall speak, curbing you again and again, pressing you again and again. The core will stand the test.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
suññatākhông, tánh khôngỞ đây là chỗ an trú của tâm: nội không (ajjhattaṁ suññataṁ), ngoại không (bahiddhā), nội ngoại không (ajjhattabahiddhā).
ajjhattaṁ suññataṁnội không (bên trong trống rỗng)
bahiddhā suññataṁngoại không (bên ngoài trống rỗng)
āneñjabất độngBản Việt HT. Minh Châu dịch là 'bất động'.
saṅgaṇikārāmathích thú trong hội chúng, ưa tụ hội
pavivekaviễn ly, sống một mình xa lánh tụ hội
nekkhammasukhaviễn ly lạc (an lạc của sự xuất ly)
cetovimuttitâm giải thoátKinh nói đến loại 'có hạn kỳ và thoải mái' (sāmāyika kanta) và 'không có hạn kỳ và bất động' (asāmāyika akuppa).
samādhinimittađịnh tướng (đề mục làm cơ sở cho định)Bản Việt ghi nguyên chú: (samadhinimitte).
sampajānaý thức rõ ràng, tỉnh giác
caṅkamakinh hànhBản Việt ghi nguyên chú: (cankamati).
vitakkasuy tầmBản Việt ghi nguyên chú: (vitakka). Gồm dục tầm, sân tầm, hại tầm và ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm.
kāmaguṇānăm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái)
chandarāgadục tham, dục áiBản Việt ghi nguyên chú: (chandaraga).
āyatanaxứBản Việt ghi nguyên chú: (āyatana).
upādānakkhandhānăm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức
asmimānangã mạn ('tôi là')Bản Việt ghi nguyên chú: (asmimmano).
upaddavasự phiền lụy, tai họaBản Việt ghi nguyên chú: (upaddava). Có ba: của Đạo sư, của đệ tử, của người tu Phạm hạnh.
senāsanatrú xứ, sàng tọa (chỗ nằm ngồi)Bản Việt ghi nguyên chú: (senasanam).
abhisallekhikakhắc khổ (lời nói làm mòn phiền não)
cīvarakammalàm yBản Việt ghi nguyên chú: (civarakamma).

Duyên khởi bài kinh rất tinh tế, và đáng kể cho rõ. Thế Tôn khất thực về, ghé trú xứ của Thích-ca Kalakhemaka để nghỉ trưa — và thấy nơi ấy sắp đặt RẤT NHIỀU SÀNG TỌA.

Ngài không nói gì lúc ấy. Buổi chiều Ngài đến chỗ khác, nơi Tôn giả Ānanda cùng nhiều Tỷ-kheo đang làm yrồi mới giảng bài kinh này.

Xin để ý cách dạy ấy. Ngài thấy một dấu hiệu nhỏchỉ là số giường — và hiểu ra chuyện đang xảy ra: chư Tăng đang tụ họp nhiều. Rồi Ngài không quở ai, không nêu tên chỗ nào, mà giảng chung một bài pháp.

Lời dạy mở đầu rất thẳng. Vị Tỷ-kheo ưa thích, hân hoan, hoan hỷ trong hội chúng của mình và của người thì “KHÔNG CHÓI SÁNG”.

Và Ngài nói rõ cái mất: vị ấy không thể chứng đắc viễn ly lạc, độc cư lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, cũng không an trú được tâm giải thoát.

Xin thưa bốn chữ “LẠC” ấy rất đáng để ý. Kinh không nói độc cư là khổ mà phải chịu. Kinh nói độc cư có cái LẠC riêng của nómột thứ vui mà người ở đông không nếm được.

Và lý do Ngài đưa ra rất sâu: không một sắc pháp nào mà khi biến dịch, đổi khác lại không sanh sầu, bi, khổ, ưu, não nơi người tham đắm.

Nghĩa là: chỗ hỏng không nằm ở việc CÓ NGƯỜI, mà ở chỗ MÌNH BÁM. Cái gì cũng đổibám vào cái đổi thì đau. Người, hội chúng, tình thân đều thuộc loại đổi.

Rồi Ngài chỉ chỗ an trú mà Như Lai đã hoàn toàn giác ngộ: không tác ý tất cả tướng, chứng đắc và an trú NỘI KHÔNG.

Và đường vào rất cụ thể, không mơ hồ: phải an chỉ, an tọa, chuyên nhất, an định nội tâm — tức là qua bốn thiền — rồi mới lần lượt tác ý nội không, ngoại không, nội ngoại không, và bất động.

Ở mỗi bước có một chi tiết rất đáng học: tâm CHƯA hướng đến thì biết rõ là chưa; tâm ĐÃ hướng đến thì biết rõ là đãluôn “ý thức rõ ràng”.

Xin thưa đây là chỗ rất thành thật của bài kinh.cho phép mình CHƯA làm đượcchỉ đòi mình BIẾT RÕ là chưa. Tự dối rằng mình đã tới mới là chỗ hỏng.

Rồi sự an trú ấy được đem vào đời sống hằng ngày, và phần này rất thiết thực. Đi, đứng, ngồi, nằm đều biết rõ tham ưu không chảy vào.

Về chuyện trò, Ngài kể rất rõ luận nào NÊN nói: mười luận đưa đến giải thoátthiểu dục, tri túc, độc cư, bất chúng hội, tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến.

Và luận không nên nói là các câu chuyện phàm tục — kinh liệt kê rất cụ thể: quốc vương luận, đạo tặc luận… tức là chuyện thời sự, chuyện người này người kia.

Xin thưa điều này rất hợp với sinh hoạt đoàn. Sau mỗi buổi lễ, chúng ta ngồi lại nói chuyện gì? Bài kinh không cấm nói chuyện — nó đưa ra một danh sách mười đề tài để khi hết chuyện thì có chỗ mà quay về.

Phần sau bài kinh là chỗ nghiêm khắc nhất, và cũng cảm động nhất. Thế Tôn nói vì sao đệ tử xứng đáng theo bậc Đạo sư DÙ BỊ HẤT HỦI: không phải vì được nghe kinh điển, mà vì những lời khắc khổ khai tâm.

Rồi Ngài cảnh giác BA SỰ PHIỀN LỤY: phiền lụy của Đạo sư, phiền lụy của đệ tử, và phiền lụy của người tu Phạm hạnh — cái sau cùng nặng nhất, dẫn đến đọa lạc.

Và cả ba đều cùng một câu chuyện: người sống viễn ly, rồi bị Bà-la-môn, gia chủ, thị dân, quốc dân bao vây, rồi khởi tham ái, rồi trở lui đời sống sung túc.

Xin thưa chỗ này rất đáng ngẫm cho người làm việc đạo. Cái làm hỏng không phải kẻ chống đối — mà là NGƯỜI ÁI MỘ. Bị vây quanh bởi lòng quý mến là một thử thách nặng hơn bị chê.

Kinh kết bằng lời dạy hãy đối xử với Ngài bằng TÂM THÂN HỮU: chịu nghe, lóng tai, không đi xa lời dạy. Còn không chịu nghe, chú tâm hướng khácđối xử bằng tâm thù nghịch.

Và hình ảnh cuối cùng rất nổi tiếng, xin đọc chậm. Ngài nói Ngài sẽ KHÔNG nâng niu như thợ gốm giữ đồ gốm CHƯA NUNG — Ngài sẽ nói hết lời chỉ trích này đến lời chỉ trích khác. Và: “Cái gì là lõi cây, cái ấy sẽ đứng vững tồn tại.”

Xin thưa vì sao hình ảnh này đẹp. Đồ gốm chưa nung thì phải nâng niu vì đụng vào là méo. Thế Tôn nói Ngài không đối xử với đệ tử như vậy — Ngài tin rằng có lõi thật bên trong, và chỉ có nói thẳng mới lộ ra được. Đó là một cách quý người rất cao.

  • “Kinh dạy phải xa lánh mọi người.” Cái bị chê là ưa thích, hân hoan, HOAN HỶ trong hội chúng — tức lòng bám. Và chính bài kinh dạy nói mười loại chuyện với nhau, nên không cấm sống chung.
  • “Thế Tôn nghiêm khắc quá.” Câu “không nâng niu như đồ gốm chưa nung”lời tin tưởng, không phải lời lạnh nhạt: Ngài tin có lõi cây bên trong.
  • Một chỗ ba cột nghe như “đá nhau”, xin thưa rõ. Về lời Như Lai nói với khách, bản Việt ghi “liên hệ đến khích lệ”, bản Anh ghi “sending them away” (tiễn về). Pāli uyyojanika nghĩa đen là lời hướng đến việc cho khách cáo lui. Một bản dịch sát, một bản dịch thoát — chúng tôi giữ nguyên từng bản.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện đồ gốm chưa nung: đụng vào là méo — nên phải nung cho cứng.
  • Ngành Thiếu. Chép mười đề tài nên nói và thử một buổi sinh hoạt chỉ nói trong mười đề tài ấy.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về ba sự phiền lụy: vì sao người ÁI MỘ lại nguy hơn người chống đối?
  • Vì sao vị ưa thích hội chúng “không chói sáng”?
  • Bốn thứ “lạc” mà vị ấy không chứng được là gì?
  • Mười loại luận nên nói là gì?
  • Hình ảnh thợ gốm và đồ gốm chưa nung nói lên điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.