G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 120
Tâm Hướng Về Đâu · Đời Sau Đi Về Đó

Kinh Hành Sanh

Saṅkhārupapatti Sutta — MN 120 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hành Sanh

Bài kinh dạy một điều rất thiết thực: chỗ tái sanh không phải do may rủi, mà do tâm nguyện được nuôi dưỡng lâu ngày đặt trên một nền công đức có thật. Rồi Thế Tôn kể hết mọi cảnh giới an vui đáng mongđể cuối cùng chỉ tới một tâm nguyện khác hẳn.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 120
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm, tinh xá ông Cấp Cô Độc
  • Nghĩa tênsaṅkhāra (hành) + upapatti (sự thọ sanh)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

MN 120 – Kinh Hành sanh – dạy một điều rất thiết thực: chỗ tái sanh của một người không phải do may rủi, mà do "hành" (saṅkhāra), tức là do tâm nguyện được nuôi dưỡng cộng với nền tảng công đức đã tạo. Mở đầu, Thế Tôn nêu người có năm điều đầy đủ: đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn (nghe pháp, học pháp), đầy đủ thí (bố thí, xả), đầy đủ trí tuệ. Đây là năm vốn liếng làm nền cho tất cả những gì tiếp theo. Nếu thiếu năm điều này thì mong ước suông không thành. Kế đó, kinh lặp lại một khuôn mẫu nhiều lần. Vị ấy khởi lên ước nguyện: "Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh cộng trú với..." — rồi kể lần lượt: đại gia tộc Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ; kế đến các cõi trời dục giới (chư Thiên Bốn Đại Thiên vương, Ba mươi ba, Dạ-ma, Đâu-suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại); rồi cõi Phạm thiên và các cõi trời sắc giới cao hơn; rồi các cõi vô sắc. Với mỗi cõi, vị ấy đã từng nghe rằng cõi ấy "có thọ mạng lâu dài, có mỹ tướng, có nhiều lạc thọ". Rồi "vị ấy chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy" — và chính các hành ấy, các trú ấy, được tu tập và làm cho sung mãn, đưa vị ấy thọ sanh vào chỗ ấy. Điểm kết thúc mới là chỗ Thế Tôn muốn đưa người nghe tới. Sau khi kể hết mọi cảnh giới an vui đáng mong, Ngài nói tới một tâm nguyện khác hẳn: mong với sự đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình chứng ngộ và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. Vị Tỷ-kheo ấy chứng đạt điều đó — và Thế Tôn kết: vị Tỷ-kheo ấy không còn sanh ở bất cứ đâu nữa (na katthaci upapajjati). Bài học cho đoàn sinh: tâm hướng về đâu, huân tập lâu ngày, thì đời sau đi về đó; nhưng đích cuối cùng của người con Phật không phải là một cõi trời đẹp, mà là giải thoát.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn trú tại Jetavana, Sāvatthi, gọi các Tỷ-kheo và tuyên bố: 'Ta sẽ giảng cho các Ông sự tái sanh do hành đưa lại' (saṅkhārupapatti), dạy hãy nghe và khéo tác ý.
  • Năm pháp làm nền: tín, giới, văn, thí, tuệ — Khuôn mẫu mở đầu mỗi đoạn: 'Tỷ-kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn, đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ.'
  • Nguyện sanh vào các đại gia tộc loài người — Nguyện sanh cộng trú trong đại gia tộc Sát-đế-lỵ, đại gia tộc Bà-la-môn, đại gia tộc gia chủ (khattiya-, brāhmaṇa-, gahapatimahāsāla).
  • Nguyện sanh lên sáu cõi trời Dục giới — Vị ấy nghe rằng chư Thiên các cõi ấy 'có thọ mạng lâu dài, có mỹ tướng, có nhiều lạc thọ', rồi hướng tâm: Bốn Đại Thiên vương (Cātumahārājika), Ba mươi ba (Tāvatiṁsa), Dạ-ma (Yāma), Đâu-suất (Tusita), Hóa Lạc (Nimmānarati), Tha Hóa Tự Tại (Paranimmitavasavattī).
  • Nguyện sanh lên các cõi Phạm thiên và cõi trời Sắc giới — Tiếp tục khuôn mẫu ấy với cõi Phạm thiên (Brahmakāyika) và các cõi trời sắc giới cao hơn, cho đến các cõi Tịnh cư.
  • Nguyện sanh vào các cõi Vô sắc — Khuôn mẫu ấy áp dụng cho Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
  • Tâm nguyện cuối cùng: lậu tận giải thoát — Vị Tỷ-kheo đủ năm pháp ấy khởi nguyện chứng ngộ tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu ngay trong hiện tại do đoạn tận các lậu hoặc; vị ấy chứng đạt, và Thế Tôn kết luận vị ấy không còn sanh ở bất cứ nơi nào.
  • Kết kinh — Thế Tôn thuyết giảng như vậy; các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 120.1
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery.
MN 120.2
Saṅkhārupapattiṁ vo, bhikkhave, desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī'ti.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông sự tái sanh do hành đưa lại. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
I shall teach you rebirth by choice. Listen and apply your mind well, I will speak.
MN 120.3.1
Idha, bhikkhave, bhikkhu saddhāya samannāgato hoti, sīlena samannāgato hoti, sutena samannāgato hoti, cāgena samannāgato hoti, paññāya samannāgato hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn (suta), đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ.
Take a mendicant who has faith, ethics, learning, generosity, and wisdom.
MN 120.3.3
'Aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā khattiyamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan'ti.
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh cọng trú trong đại gia tộc Sát đế lỵ!
'If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of well-to-do aristocrats!'
MN 120.3.4
So taṁ cittaṁ dahati, taṁ cittaṁ adhiṭṭhāti, taṁ cittaṁ bhāveti.
Vị ấy chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy.
They settle on that thought, stabilize it, and develop it.
MN 120.6.3
'Cātumahārājikā devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā'ti.
Bốn Ðại Thiên vương có thọ mạng lâu dài, có mỹ tướng, có nhiều lạc thọ.
'The gods of the four great kings are long-lived, beautiful, and very happy.'
MN 120.37.6
'Aho vatāhaṁ āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan'ti.
Mong rằng, với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí, ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu!
'If only I might realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements!'
MN 120.37.8
Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhu na katthaci upapajjatī'ti.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này không sinh ra một nơi nào, không sinh ra một chỗ nào.
And, mendicants, that mendicant is not reborn anywhere.
MN 120.37.9–37.10
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saṅkhārupapattiSự tái sanh do hành đưa lại; tựa kinh (HT. Minh Châu dịch là 'Hành sanh')saṅkhāra (hành) + upapatti (sự thọ sanh). Bhikkhu Sujato dịch là 'rebirth by choice'.
saddhāTín, lòng tin
sīlaGiới
sutaVăn — sự nghe pháp, học rộng
cāgaThí, sự buông xả, bố thí
paññāTrí tuệ
adhiṭṭhāti / bhāvetiAn trú (quyết định) tâm ấy / tu tập tâm ấyBa động từ dahati – adhiṭṭhāti – bhāveti tạo thành khuôn mẫu lặp suốt bài kinh.
cātumahārājikā devāChư Thiên Bốn Đại Thiên vương
āsavānaṁ khayāDo đoạn trừ (đoạn tận) các lậu hoặc
cetovimutti – paññāvimuttiTâm giải thoát – tuệ giải thoát
anāsavaVô lậu, không còn lậu hoặc
na katthaci upapajjatiKhông còn thọ sanh ở bất cứ nơi nào

Trước hết xin nói về cái tên, vì cái tên đã là bài học. Saṅkhārupapatti gồm saṅkhāra — hành, tức những gì tâm mình tạo tác, huân tập — cộng với upapatti — sự thọ sanh. Nghĩa là: đời sau sanh về đâu là do cái mình đã huân tập.

Và điều bài kinh nói ngay từ đầu rất đáng để ý: chỗ tái sanh KHÔNG do may rủi, cũng không do ai ban cho — mà do chính tâm nguyện của mình, nuôi dưỡng lâu ngày.

Nhưng — và đây là chỗ bài kinh rất nghiêm — mong ước suông thì không thành. Phải có NĂM điều đầy đủ làm nền: đầy đủ TÍN, đầy đủ GIỚI, đầy đủ VĂN (nghe pháp, học pháp), đầy đủ THÍ (bố thí, xả), đầy đủ TRÍ TUỆ.

Xin thưa vì sao năm điều này quan trọng đến vậy. Chúng là vốn liếng. Không có vốn thì ước nguyện chỉ là mơ mộng. Bài kinh không dạy cầu nguyện — nó dạy làm cho có rồi mới hướng.

Rồi kinh lặp lại một khuôn mẫu nhiều lần, và xin bác để ý khuôn ấy. Vị ấy khởi lên ước nguyện: “Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh cộng trú với…” — rồi “vị ấy CHUYÊN ĐỊNH tâm ấy, AN TRÚ tâm ấy, TU TẬP tâm ấy”.

Ba động từ ấy mới là chỗ then chốt, không phải lời ước. Chuyên địnhan trútu tập. Nghĩa là không phải mong một lần rồi thôi, mà là để tâm hướng về đó lâu dài cho tới khi nó thành nếp.

Và danh sách các chỗ đáng mong thì rất dài. Trước là các đại gia tộc loài người: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ. Rồi sáu cõi trời Dục giới: Bốn Đại Thiên vương, Ba mươi ba, Dạ-ma, Đâu-suất, Hoá Lạc, Tha Hoá Tự Tại.

Rồi lên nữa: cõi Phạm thiên và các cõi trời sắc giới cao hơn; rồi các cõi vô sắcKhông vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Với MỖI cõi, vị ấy đã từng NGHE rằng cõi ấy “có thọ mạng lâu dài, có mỹ tướng, có nhiều lạc thọ”.

Xin dừng ở chữ “đã từng NGHE”. Bài kinh rất thành thật: người ấy chưa thấy, chỉ nghe nói. Và chính cái nghe ấy đủ để kéo tâm hướng về suốt một đời. Điều này rất đúng với chúng ta: phần lớn những gì ta đang gắng đạt tới, ta cũng chỉ mới nghe nói là tốt.

Và bây giờ tới chỗ Thế Tôn muốn đưa người nghe tới. Sau khi kể hết mọi cảnh giới an vui đáng mong, Ngài nói tới một tâm nguyện KHÁC HẲN: mong rằng với sự đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình chứng ngộ và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu.

Xin để ý hai chữ “NGAY TRONG HIỆN TẠI”. Tất cả các nguyện trước đều nói “sau khi thân hoại mạng chung”đều là chuyện đời sau. Riêng nguyện cuối này là chuyện đời này.

Và câu kết của bài kinh rất gọn mà rất lớn: vị Tỷ-kheo ấy “không sinh ra một nơi nào, không sinh ra một chỗ nào” (na katthaci upapajjati).

Xin thưa cách đọc câu ấy cho khỏi thấy lạnh.không phải là hư vô. Cả bài kinh nói về chỗ ĐI TỚI: đi tới cõi này, cõi kia. Câu cuối nói: người này không còn phải ĐI đâu nữavì không còn cái sức đẩy nào đẩy đi.

Và xin để ý cách Thế Tôn sắp xếp bài kinh, vì rất khéo. Ngài không chê các cõi trời. Ngài kể chúng ra rất trân trọng, công nhận chúng đẹp thật, công nhận nguyện sanh về đó là chính đángrồi mới đặt cạnh đó một chọn lựa khác, và để người nghe tự so.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, vì bài kinh này rất dùng được. Điều đáng nhớ không phải danh sách các cõi trời, mà là ba động từ: chuyên định — an trú — tu tập. Tâm mình đang chuyên định vào cái gì suốt mấy năm nay? Cái ấy chính là chỗ mình đang đi tới, dù mình có gọi tên nó hay không.

  • “Vậy chỉ cần cầu nguyện là được sanh về cõi lành.” Kinh nói rõ phải đủ NĂM điều làm nền: tín, giới, văn, thí, tuệ. Thiếu nền thì mong ước suông không thành.
  • “Kinh chê việc nguyện sanh cõi trời.” Không hề. Kinh kể các cõi ấy rất trân trọng. Nó chỉ đặt thêm một chọn lựa nữa bên cạnh.
  • “Không sinh ra nơi nào nghĩa là mất hẳn.” Câu ấy nằm trong mạch bàn về chỗ ĐI TỚI. Ý là không còn bị đẩy đi đâu nữa, không phải là tan biến.
  • Ngành Oanh. Hỏi các em: “Em hay nghĩ tới điều gì nhất trước khi ngủ?” — rồi nói: nghĩ hoài thì thành thói quen.
  • Ngành Thiếu. Học năm điều làm nền: tín, giới, văn, thí, tuệ — mỗi em tự chấm mình điều nào yếu nhất.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về ba động từ chuyên định — an trú — tu tập: mấy năm nay tâm mình đang tu tập điều gì mà mình không để ý?
  • Năm điều làm nền cho mọi ước nguyện là gì?
  • Ba động từ nói về cách nuôi dưỡng tâm nguyện?
  • Tâm nguyện cuối cùng khác các nguyện trước ở chỗ nào?
  • “Không sinh ra một nơi nào” nên hiểu thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.