G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 115
Mọi Sợ Hãi Đều Sanh Từ Người Ngu

Kinh Đa Giới

Bahudhātuka Sutta — MN 115 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Đa Giới

Mở đầu là một lời rất mạnh: mọi sợ hãi, thất vọng, hoạn nạn đều sanh khởi từ NGƯỜI NGU, không phải từ người hiền trínhư tia lửa từ một mái nhà cỏ thiêu rụi cả toà lầu kiên cố. Rồi Tôn giả Ānanda hỏi: đến mức nào mới gọi là hiền trí? Và câu trả lời là bốn điều thiện xảo.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 115
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm
  • Năm tên gọi — Đa giới · Bốn chuyển · Pháp kính · Trống bất tử · Vô thượng chiến thắng
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Đa giới mở đầu bằng một lời dạy rất mạnh: mọi sợ hãi, thất vọng, hoạn nạn đều sanh khởi từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Thế Tôn ví như tia lửa từ một ngôi nhà bằng cỏ có thể thiêu cháy cả ngôi nhà lầu gác kiên cố được che chắn kỹ lưỡng. Từ đó Ngài khuyên các Tỷ-kheo phải học tập để "thành người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu". Tôn giả Ānanda hỏi: đến mức độ nào mới gọi là Tỷ-kheo hiền trí, biết suy tư tìm hiểu? Thế Tôn trả lời bằng bốn điều thiện xảo: thiện xảo về giới (dhātu), thiện xảo về xứ (āyatana), thiện xảo về duyên khởi (paṭiccasamuppāda), và thiện xảo về xứ phi xứ (ṭhānāṭhāna, tức điều có thể xảy ra và điều không thể xảy ra). Cuối kinh, Thế Tôn dạy thọ trì bài kinh này với tên “Bốn chuyển” (<em>catuparivaṭṭa</em> — nghĩa đen là “bốn vòng”, “bốn lượt”). Xin nói rõ: <strong>kinh văn chỉ nêu TÊN GỌI ấy chứ không giải thích</strong> (mn115:20.4); việc hiểu “bốn vòng” tức là bốn điều thiện xảo trên đây là <strong>cách hiểu theo Chú giải</strong>, không phải chữ trong kinh. Phần "giới" được Thế Tôn giảng theo nhiều cách, mỗi lần Ānanda hỏi "có pháp môn nào khác nữa không" thì Ngài lại mở thêm một cách nhìn: mười tám giới (sáu căn, sáu trần, sáu thức); sáu giới địa, thủy, phong, hỏa, không, thức; sáu giới lạc, khổ, hỷ, ưu, xả, vô minh; sáu giới dục, ly dục, sân, vô sân, hại, bất hại; ba giới dục giới, sắc giới, vô sắc giới; và hai giới hữu vi, vô vi. Phần "xứ" là sáu nội xứ và ngoại xứ: mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Phần "duyên khởi" nêu nguyên lý "cái này có, cái kia có" cùng mười hai chi từ vô minh đến lão tử, cả chiều tập khởi lẫn chiều đoạn diệt. Phần "xứ phi xứ" liệt kê những điều không thể xảy ra nơi một người đã thành tựu chánh kiến: không thể xem các hành là thường còn, là lạc, xem các pháp là tự ngã; không thể giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán, làm Như Lai chảy máu, phá hòa hợp Tăng, đề cao một Đạo sư khác — trong khi phàm phu thì có thể. Tiếp đó là các định luật về nghiệp: ác hành không thể sanh quả khả ái, thiện hành không thể sanh quả không khả ái. Kết thúc, Thế Tôn dạy Ānanda thọ trì bài kinh với năm tên gọi, trong đó có Pháp kính, Trống bất tử và Vô thượng chiến thắng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: mọi sợ hãi đều từ người ngu — Tại Sāvatthi, Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo rằng mọi sợ hãi, thất vọng, hoạn nạn đều sanh khởi cho người ngu chứ không cho người hiền trí; ví dụ tia lửa nhà cỏ thiêu cháy nhà lầu gác. Kết lại bằng lời khuyên học tập để thành người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu.
  • Câu hỏi của Tôn giả Ānanda và bốn điều thiện xảo — Ānanda hỏi đến mức độ nào là vừa đủ gọi Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu. Thế Tôn đáp: khi vị ấy thiện xảo về giới, về xứ, về duyên khởi và về xứ phi xứ.
  • (Giới) — sáu cách trình bày về giới — Mỗi lần Ānanda hỏi thêm pháp môn khác, Thế Tôn lại nêu một cách phân loại giới: mười tám giới; sáu giới địa-thủy-phong-hỏa-không-thức; sáu giới lạc-khổ-hỷ-ưu-xả-vô minh; sáu giới dục-ly dục-sân-vô sân-hại-bất hại; ba giới dục-sắc-vô sắc; hai giới hữu vi và vô vi.
  • (Xứ) — sáu nội ngoại xứ — Sáu nội xứ và ngoại xứ: mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp.
  • (Duyên khởi) — Nguyên lý 'nếu cái này có, cái kia có' và mười hai chi duyên khởi theo chiều tập khởi của khổ uẩn, rồi theo chiều đoạn diệt do vô minh diệt.
  • (Xứ, phi xứ) — Những điều không thể xảy ra nơi người thành tựu chánh kiến, đối chiếu với phàm phu: xem các hành là thường, là lạc, xem các pháp là tự ngã; năm nghịch tội (giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán, làm Như Lai chảy máu, phá hòa hợp Tăng), đề cao một Đạo sư khác; hai vị Chánh Đẳng Giác hay hai vua Chuyển Luân cùng xuất hiện trong một thế giới; các điều liên hệ nữ nhân và nam nhân; và các định luật nghiệp báo về thân-khẩu-ý ác hành, thiện hành cùng cảnh giới tái sanh tương ứng.
  • (Kết luận) — năm tên gọi của pháp môn — Ānanda tán thán và hỏi tên pháp môn. Thế Tôn dạy thọ trì với năm tên: Đa giới, Bốn chuyển, Pháp kính, Trống bất tử, Vô thượng chiến thắng. Ānanda hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 115.2 (SC 2)
“Yāni kānici, bhikkhave, bhayāni uppajjanti sabbāni tāni bālato uppajjanti, no paṇḍitato;
—Phàm có những sợ hãi gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi ấy sanh khởi cho người ngu, không phải cho người hiền trí (pandita).
“Whatever dangers there are, all come from the foolish, not from the astute.
MN 115.2 (SC 2)
Tasmātiha, bhikkhave, ‘paṇḍitā bhavissāma vīmaṁsakā’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, “Chúng tôi sẽ thành người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”, như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
So you should train like this: ‘We shall be astute, we shall be inquirers.’”
MN 115.3 (SC 5)
“Yato kho, ānanda, bhikkhu dhātukusalo ca hoti, āyatanakusalo ca hoti, paṭiccasamuppādakusalo ca hoti, ṭhānāṭhānakusalo ca hoti—ettāvatā kho, ānanda, paṇḍito bhikkhu ‘vīmaṁsako’ti alaṁvacanāyā”ti.
—Cho đến khi, này Ānanda, Tỷ-kheo thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi và thiện xảo về xứ phi xứ, cho đến mức độ như vậy, này Ānanda, là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo là người hiền trí, biết suy tư tìm hiểu”.
“Ānanda, it’s when a mendicant is skilled in the elements, in the sense fields, in dependent origination, and in the possible and the impossible. That’s how a mendicant is qualified to be called ‘astute, an inquirer’.”
MN 115.4 (SC 7)
“Aṭṭhārasa kho imā, ānanda, dhātuyo—cakkhudhātu, rūpadhātu, cakkhuviññāṇadhātu; sotadhātu, saddadhātu, sotaviññāṇadhātu; ghānadhātu, gandhadhātu, ghānaviññāṇadhātu; jivhādhātu, rasadhātu, jivhāviññāṇadhātu; kāyadhātu, phoṭṭhabbadhātu, kāyaviññāṇadhātu; manodhātu, dhammadhātu, manoviññāṇadhātu.
—Này Ānanda, có mười tám giới này: nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thân giới, xúc giới, thân thức giới; ý giới, pháp giới, ý thức giới.
“There are, Ānanda, these eighteen elements. The eye element, sight element, and eye consciousness element. The ear element, sound element, and ear consciousness element. The nose element, smell element, and nose consciousness element. The tongue element, taste element, and tongue consciousness element. The body element, touch element, and body consciousness element. The mind element, ideas element, and mind consciousness element.
MN 115.5 (SC 9)
Chayimā, ānanda, dhātuyo—pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu.
Này Ānanda, có sáu giới này: địa giới, thủy giới, phong giới, hỏa giới, không giới, thức giới.
There are these six elements: the elements of earth, water, fire, air, space, and consciousness.
MN 115.10 (SC 19)
“Cha kho panimāni, ānanda, ajjhattikabāhirāni āyatanāni—cakkhu ceva rūpā ca sotañca saddā ca ghānañca gandhā ca jivhā ca rasā ca kāyo ca phoṭṭhabbā ca mano ca dhammā ca.
—Này Ānanda, có sáu nội xứ, ngoại xứ này: mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp.
“There are these six interior and exterior sense fields: the eye and sights, the ear and sounds, the nose and smells, the tongue and tastes, the body and touches, and the mind and ideas.
MN 115.11 (SC 21)
‘imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati, imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati, yadidaṁ—
Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt.
‘When this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases. That is:
MN 115.20 (SC 35)
“Tasmātiha tvaṁ, ānanda, imaṁ dhammapariyāyaṁ ‘bahudhātuko’tipi naṁ dhārehi, ‘catuparivaṭṭo’tipi naṁ dhārehi, ‘dhammādāso’tipi naṁ dhārehi, ‘amatadundubhī’tipi naṁ dhārehi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’tipi naṁ dhārehī”ti.
—Do vậy, này Ānanda, Ông hãy thọ trì pháp môn này là Ða giới, hãy thọ trì pháp môn nầy là Bốn chuyển (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Pháp kính (Dhammadasa), hãy thọ trì pháp môn này là Trống bất tử, hãy thọ trì pháp môn này là Vô thượng chiến thắng.
“Well then, Ānanda, you may remember this exposition of the teaching as ‘The Many Elements’, or else ‘The Four Rounds’, or else ‘The Mirror of the Teaching’, or else ‘The Drum of Freedom From Death’, or else ‘The Supreme Victory in Battle’.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
bahudhātukaĐa giới — nhiều giớiTên bài kinh, lấy từ phần Thế Tôn giảng nhiều cách phân loại giới.
dhātuGiới — yếu tố, thành phầnBản Anh dịch là element.
āyatanaXứ — căn và trần (lãnh vực nhận biết)
paṭiccasamuppādaDuyên khởi — lý duyên sanh
ṭhānāṭhānaXứ phi xứ — điều có thể xảy ra và điều không thể xảy ra
paṇḍitaNgười hiền tríBản Việt có ghi chú (pandita) ngay trong kinh văn.
vīmaṁsakaNgười biết suy tư tìm hiểu
diṭṭhisampannaNgười thành tựu (chánh) kiến
puthujjanaPhàm phu
avijjāVô minh
saṅkhārāHànhBản Việt có chua chữ (samkhara) trong đoạn xứ phi xứ.
dhammādāsaPháp kính — tấm gương Chánh pháp
amatadundubhiTrống bất tử
anuttaro saṅgāmavijayoVô thượng chiến thắng
catuparivaṭṭaBốn chuyển — bốn vòng (bốn điều thiện xảo)
saṅkhatā dhātu / asaṅkhatā dhātuHữu vi giới / vô vi giới

Câu mở đầu của bài kinh nghe rất nặng, và cần đọc cho đúng. Thế Tôn dạy: mọi sợ hãi, thất vọng, hoạn nạn đều sanh khởi TỪ NGƯỜI NGU, không phải từ người hiền trí.

Xin thưa ngay kẻo hiểu lệch: “người ngu” ở đây KHÔNG phải người học ít. Suốt bài kinh, hiền trí được định nghĩa bằng bốn điều thiện xảotoàn là chuyện thấy cho đúng, không phải chuyện bằng cấp.

Và ví dụ đi kèm rất sắc: một tia lửa từ ngôi nhà bằng cỏ có thể thiêu cháy cả ngôi nhà lầu gác kiên cố được che chắn kỹ lưỡng.

Xin để ý ví dụ này công bằng đến mức nào.không nói người ngu là kẻ ác. Nó nói cái hại lan ra không cân xứng với chỗ nó khởi: một chút thấy sai cũng đủ đốt cháy nhiều thứ rất kiên cốmột gia đình, một đoàn thể.

Từ đó Ngài khuyên phải học tập để “thành người hiền trí, BIẾT SUY TƯ TÌM HIỂU”. Xin để ý chữ ấy là một động tác, không phải một danh hiệu.

Tôn giả Ānanda hỏi rất đúng chỗ: đến mức độ nào mới gọi là Tỷ-kheo hiền trí, biết suy tư tìm hiểu? Và Thế Tôn đáp bằng bốn điều thiện xảo.

Bốn điều ấy là: thiện xảo về GIỚI (dhātu, các yếu tố); thiện xảo về XỨ (āyatana, các chỗ tiếp xúc); thiện xảo về DUYÊN KHỞI (paṭiccasamuppāda); và thiện xảo về XỨ PHI XỨ (ṭhānāṭhāna, điều có thể xảy ra và điều không thể).

Phần “giới” được giảng theo nhiều cách, và cách bài kinh triển khai rất đáng học. Mỗi lần Tôn giả Ānanda hỏi “có pháp môn nào khác nữa không?”, Thế Tôn lại mở thêm một cách nhìn.

Các cách nhìn ấy: mười tám giới (sáu căn, sáu trần, sáu thức); sáu giới địa, thủy, phong, hỏa, không, thức; sáu giới lạc, khổ, hỷ, ưu, xả, vô minh; sáu giới dục, ly dục, sân, vô sân, hại, bất hại; ba giới dục giới, sắc giới, vô sắc giới; và hai giới hữu vi, vô vi.

Xin ghi một chỗ hai bản xếp khác thứ tự, để bác đối chiếu khỏi ngỡ. Về sáu giới, bản Việt ghi “địa, thủy, PHONG, HỎA…”, còn bản Pāli xếp tejo (hỏa) trước vāyo (gió). Chỉ khác thứ tự, không khác nội dung; chúng tôi giữ nguyên từng bản.

Phần “xứ phi xứ” là phần lạ nhất và cũng thú vị nhất. Nó liệt kê những điều KHÔNG THỂ xảy ra nơi một người đã thành tựu chánh kiến.

Chẳng hạn: người ấy KHÔNG THỂ xem các hành là thường còn, không thể xem các hành là lạc, không thể xem các pháp là tự ngã; không thể giết mẹ, giết cha, giết A-la-hán, làm Như Lai chảy máu, phá hoà hợp Tăng; không thể đề cao một Đạo sư khác. Trong khi phàm phu thì có thể.

Xin thưa vì sao cách nói bằng “không thể” lại quý. Người ta thường mô tả bậc chứng bằng những điều họ LÀM ĐƯỢC. Bài kinh mô tả bằng những điều họ KHÔNG CÒN LÀM ĐƯỢC NỮA — nghĩa là cái thấy đã đổi tới mức chuyện ấy không còn khởi lên trong lòng.

Và đây là một cái thước rất thật cho chúng ta. Giữ giới vì sợ khác với không còn muốn phạm. Bài kinh nói tới chỗ thứ hai.

Tiếp đó là các định luật về nghiệp, nói rất gọn: ác hành không thể sanh quả khả ái; thiện hành không thể sanh quả không khả ái.

Kết kinh, Thế Tôn dạy Tôn giả Ānanda thọ trì bài kinh với NĂM tên gọi: Đa giới, Bốn chuyển, Pháp kính, Trống bất tử, Vô thượng chiến thắng.

Xin nói rõ về chữ “Bốn chuyển”, vì dễ tưởng kinh có giải thích. Pāli là catuparivaṭṭa, nghĩa đen là “bốn vòng”, “bốn lượt”. Kinh văn chỉ nêu tên gọi ấy chứ không giải thích (mn115:20.4); việc hiểu “bốn vòng” tức là bốn điều thiện xảocách hiểu theo Chú giải.

Và xin thưa một chỗ bản Việt trên nguồn chú nhầm chữ Pāli — chúng tôi GIỮ NGUYÊN VĂN, không sửa lời Hoà thượng. Câu ấy ghi “Bốn chuyển (Dhammadasa)”, nhưng dhammādāsaPháp kính — tên đứng ngay sau đó. Chữ ấy bị lặp hai lần, lần đầu đặt sai chỗ. Đây là lỗi chú thích trong bản số hoá, không phải lỗi nghĩa; năm tên gọi vẫn đúng cả năm.

Xin thưa lời cuối. Trong năm tên gọi ấy, “Pháp kính” — tấm gương Pháp — là tên dễ nhớ nhất cho đoàn sinh. Cả bài kinh đúng là một tấm gương: soi vào để biết mình đang thấy đúng tới đâu, chứ không phải để biết mình thuộc bao nhiêu chữ.

  • “Người ngu là người ít học.” Bài kinh định nghĩa hiền trí bằng bốn điều thiện xảođều là chuyện thấy cho đúng. Người học rộng vẫn có thể thuộc hạng bị nói tới ở đây.
  • “Bốn chuyển là bốn điều thiện xảo — kinh nói vậy.” Kinh chỉ nêu tên gọi, không giải thích. Cách hiểu ấy là của Chú giải về sau.
  • “Bản Việt chép sai chữ Dhammadasa.” Xin nói cho công bằng: đó là lỗi chú thích trong bản số hoá, không phải lỗi nghĩa, và chúng tôi giữ nguyên văn chứ không sửa lời Hoà thượng.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ tia lửa từ mái nhà cỏ: một chuyện nhỏ cũng cháy to — nên đừng coi thường lời nói nhỏ.
  • Ngành Thiếu. Học bốn điều thiện xảo bằng bốn câu hỏi: cái gì đang có? chạm ở đâu? do đâu mà có? có thể xảy ra không?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về phần “không thể”: điều gì mình giữ vì sợ, điều gì mình đã không còn muốn làm?
  • Mọi sợ hãi hoạn nạn sanh khởi từ đâu?
  • Bốn điều thiện xảo là bốn điều nào?
  • Vì sao phần “xứ phi xứ” nói bằng chữ “không thể”?
  • Năm tên gọi của bài kinh là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.