G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 114
Một Cây Thước Duy Nhất · Dùng Được Cho Mọi Việc

Kinh Nên Hành Trì, Không Nên Hành Trì

Sevitabbāsevitabba Sutta — MN 114 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Nên Hành Trì, Không Nên Hành Trì

Bài kinh này cho một cây thước duy nhất, giản dị đến mức ai cũng dùng được ngay: điều gì mình làm theo, mình gần gũi, mà làm cho điều xấu trong lòng lớn lên và điều tốt nhỏ đi — thì ĐỪNG. Ngược lại thì NÊN. Rồi Ngài đem cây thước ấy đo hết mọi thứ: việc làm, lời nói, ý nghĩ, chỗ ở, thức ăn — và cả người mình chơi.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 114
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm
  • Người giảng rộng — Tôn giả Sāriputta, được Thế Tôn khen ba lần
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Đây là bài kinh đưa ra một cây thước đo rất đơn giản mà dùng được cho cả đời tu lẫn đời thường: bất cứ điều gì, khi mình làm theo, khi mình gần gũi, mà các pháp bất thiện tăng trưởng và các pháp thiện thối giảm, thì điều ấy KHÔNG nên hành trì; ngược lại, điều gì làm cho pháp bất thiện thối giảm và pháp thiện tăng trưởng, thì điều ấy NÊN hành trì. Kinh gồm ba lời giảng vắn tắt của Thế Tôn, mỗi lần đều được Tôn giả Sāriputta giải nghĩa rộng rãi rồi được Thế Tôn xác nhận và lặp lại. Lời giảng thứ nhất áp dụng thước đo ấy cho bảy mục thuộc về chính con người mình: thân hành, khẩu hành, ý hành, tâm sanh, tưởng đắc, kiến đắc, ngã tánh đắc. Tôn giả Sāriputta giảng rộng bằng những thí dụ rất cụ thể: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục là thân hành không nên hành trì; từ bỏ những điều ấy là thân hành nên hành trì. Vọng ngữ, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm là khẩu hành không nên hành trì; nói lời chơn thật, hòa hợp, nhu hòa, đúng thời là khẩu hành nên hành trì. Tham ái và sân tâm là ý hành không nên hành trì; không tham, không sân, mong chúng sanh được an lạc là ý hành nên hành trì. Tà kiến (không có bố thí, không có quả dị thục nghiệp thiện ác, không có đời này đời khác, không có cha mẹ…) là kiến đắc không nên hành trì; chánh kiến ngược lại là kiến đắc nên hành trì. Lời giảng thứ hai áp dụng thước đo cho sáu trần: sắc do mắt nhận thức, tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân, pháp do ý — mỗi thứ đều có hai loại nên và không nên hành trì. Lời giảng thứ ba áp dụng cho hoàn cảnh sống bên ngoài: y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, làng, thị trấn, đô thị, quốc độ, và người (puggala) mình gần gũi. Nghĩa là chỗ ở, thức ăn, và nhất là bạn mình chọn cũng phải được cân bằng chính cây thước ấy. Kết luận, Thế Tôn dạy nếu tất cả những vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Vessa, Thủ-đà hiểu được ý nghĩa rộng rãi của lời nói vắn tắt này thì tất cả đều được hưởng hạnh phúc, an lạc lâu dài. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika, gọi các Tỷ-kheo và tuyên bố sẽ giảng pháp môn về nên hành trì, không nên hành trì (SC 1).
  • Lời giảng thứ nhất (vắn tắt): bảy mục nơi tự thân — Thân hành, khẩu hành, ý hành, tâm sanh, tưởng đắc, kiến đắc, ngã tánh đắc — mỗi thứ có hai loại: nên hành trì và không nên hành trì (SC 2).
  • Tôn giả Sāriputta giảng rộng lời thứ nhất — Sāriputta nêu tiêu chuẩn: cái gì khiến bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm thì không nên hành trì, và ngược lại; rồi giảng rộng từng mục bằng thí dụ cụ thể về mười nghiệp, tham sân, tà kiến và chánh kiến (SC 3-33).
  • Thế Tôn khen và tự lặp lại — "Lành thay, lành thay, này Sāriputta!" Thế Tôn lặp lại toàn bộ lời giải ấy (SC 34-43).
  • Lời giảng thứ hai: sáu trần — Sắc do mắt, tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân, pháp do ý nhận thức — mỗi thứ hai loại; Sāriputta giảng rộng, Thế Tôn khen và lặp lại (SC 44-64).
  • Lời giảng thứ ba: vật dụng, trú xứ và người — Y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, làng, thị trấn, đô thị, quốc độ, người (puggala) — mỗi thứ hai loại; Sāriputta giảng rộng, Thế Tôn khen và lặp lại (SC 65-86).
  • Kết luận — Nếu tất cả Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Vessa, Thủ-đà hiểu rộng lời nói vắn tắt này, tất cả sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ (SC 87-88).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 114, SC 1 (mn114:1.1-1.6)
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca: “sevitabbāsevitabbaṁ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti. “Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Bạch Thế Tôn”. Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn về nên hành trì, không nên hành trì. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng”:: “Thưa vâng bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied. The Buddha said this: “Mendicants, I will teach you an exposition of the teaching on what should and should not be cultivated. Listen and apply your mind well, I will speak.” “Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
MN 114, SC 2 (mn114:3.1-3.21)
“Kāyasamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ kāyasamācāraṁ. Vacīsamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ vacīsamācāraṁ. Manosamācārampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ manosamācāraṁ. Cittuppādampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ cittuppādaṁ. Saññāpaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ saññāpaṭilābhaṁ. Diṭṭhipaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ diṭṭhipaṭilābhaṁ. Attabhāvapaṭilābhampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; tañca aññamaññaṁ attabhāvapaṭilābhan”ti.
—Này các Tỷ-kheo, Ta nói thân hành có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa thân hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói khẩu hành cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa khẩu hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói ý hành cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa ý hành”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói tâm sanh cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tâm sanh”. Này các Tỷ-kheo, Ta nói tưởng đắc cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tưởng đắc”. Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa kiến đắc (ditthipatilabha)”. Ngã tánh đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa ngã tánh đắc”.
“I say that there are two kinds of bodily behavior: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. And each of these is a kind of bodily behavior. I say that there are two kinds of verbal behavior: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. And each of these is a kind of verbal behavior. I say that there are two kinds of mental behavior: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. And each of these is a kind of mental behavior. I say that there are two arisings of thought: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. And each of these is an arising of thought. I say that there are two acquisitions of perception: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. And each of these is an acquisition of perception. I say that there are two acquisitions of views: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. And each of these is an acquisition of views. I say that there are two kinds of incarnation: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. And these are equally incarnation.”
MN 114, SC 5 (mn114:5.4-5.7) — tiêu chuẩn cốt lõi của bài kinh
iti kho panetaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ? Yathārūpaṁ, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo kāyasamācāro na sevitabbo; yathārūpañca kho, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpo kāyasamācāro sevitabbo.
Thân hành, này các Tỷ-kheo, tôi nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì; và như vậy là sự tương đối giữa thân hành”. Thế Tôn đã nói như vậy. Và do duyên gì lời nói ấy được nói lên? Bạch Thế Tôn nếu một thân hành nào khi hành trì, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp thối giảm, thân hành như vậy không nên hành trì. Bạch Thế Tôn, và một thân hành nào khi hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng, thân hành như vậy nên hành trì.
That’s what the Buddha said, but why did he say it? You should not cultivate the kind of bodily behavior which causes unskillful qualities to grow while skillful qualities decline. And you should cultivate the kind of bodily behavior which causes unskillful qualities to decline while skillful qualities grow.
MN 114, SC 8 (mn114:5.13-5.17)
Idha, bhante, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati; adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti, yaṁ taṁ parassa paravittūpakaraṇaṁ gāmagataṁ vā araññagataṁ vā taṁ nādinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātā hoti; kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, yā tā māturakkhitā piturakkhitā mātāpiturakkhitā bhāturakkhitā bhaginirakkhitā ñātirakkhitā gottarakkhitā dhammarakkhitā sassāmikā saparidaṇḍā antamaso mālāguḷaparikkhittāpi tathārūpāsu na cārittaṁ āpajjitā hoti— evarūpaṁ, bhante, kāyasamācāraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Ở đây, bạch Thế Tôn, có người từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Người ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; bất cứ tài vật gì của người khác, hoặc tại thôn làng, hoặc tại rừng núi, không cho người ấy, người ấy không lấy trộm tài vật ấy. Người ấy từ bỏ sống tà hạnh trong các dục vọng, không giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Thân hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng.
It’s when someone gives up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. They give up stealing. They don’t, with the intention to commit theft, take the wealth or belongings of others from village or wilderness. They give up sexual misconduct. They don’t have relations with women who have their mother, father, both mother and father, brother, sister, relatives, or clan as guardian. They don’t have relations with a woman who is protected on principle, or who has a husband, or whose violation is punishable by law, or even one who has been garlanded as a token of betrothal. That kind of bodily behavior causes unskillful qualities to decline while skillful qualities grow.
MN 114, SC 20 (mn114:8.13-8.17) — tâm sanh nên hành trì
Kathaṁrūpaṁ, bhante, cittuppādaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti? Idha, bhante, ekacco anabhijjhālu hoti, anabhijjhāsahagatena cetasā viharati; abyāpādavā hoti, abyāpādasahagatena cetasā viharati; avihesavā hoti, avihesāsahagatena cetasā viharati— evarūpaṁ, bhante, cittuppādaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti.
Tâm sanh gì, bạch Thế Tôn, khi hành trì bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người không có tham dục; sống với tâm không câu hữu với tham dục; người ấy không có sân hận và sống với tâm không câu hữu với sân hận; người ấy không có hại tâm và sống với tâm không câu hữu với hại tâm. Tâm sanh như vậy, bạch Thế Tôn, nếu hành trì thời bất thiện pháp thối giảm, thiện pháp tăng trưởng.
And what arising of thought causes unskillful qualities to decline while skillful qualities grow? It’s when someone is content, and lives with their heart full of contentment. They have good will, and live with their heart full of good will. They’re kind, and live with their heart full of kindness. That arising of thought causes unskillful qualities to decline while skillful qualities grow.
MN 114, SC 44 (mn114:22.1-22.12) — sáu trần
Cakkhuviññeyyaṁ rūpampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; sotaviññeyyaṁ saddampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi asevitabbampi; ghānaviññeyyaṁ gandhampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; jivhāviññeyyaṁ rasampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; kāyaviññeyyaṁ phoṭṭhabbampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi; manoviññeyyaṁ dhammampāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī”ti.
Sắc do mắt nhận thức, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Tiếng do tai nhận thức, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Hương do mũi nhận thức, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Vị do lưỡi nhận thức, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Xúc do thân nhận thức, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Pháp do ý nhận thức, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.
“I say that there are two kinds of sight known by the eye: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. I say that there are two kinds of sound known by the ear … two kinds of smell known by the nose … two kinds of taste known by the tongue … two kinds of touch known by the body … two kinds of idea known by the mind: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate.”
MN 114, SC 65 (mn114:39.1-39.10) — y, thức ăn, trú xứ và người
Cīvaraṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampi …pe… piṇḍapātaṁpāhaṁ, sāriputta … senāsanaṁpāhaṁ, sāriputta … gāmampāhaṁ, sāriputta … nigamampāhaṁ, sāriputta … nagarampāhaṁ, sāriputta … janapadampāhaṁ, sāriputta … puggalaṁpāhaṁ, sāriputta, duvidhena vadāmi— sevitabbampi, asevitabbampī”ti.
Y, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ðồ ăn khất thực, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Sàng tọa, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Làng, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Thị trấn, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Ðô thị, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Quốc độ, này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”. Người (Puggala), này Sāriputta, Ta nói có hai loại: “Nên hành trì, không nên hành trì”.
“I say that there are two kinds of robes: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate. I say that there are two kinds of almsfood … lodging … village … town … city … country … individual: that which you should cultivate, and that which you should not cultivate.”
MN 114, SC 87-88 (mn114:60.1-61.2) — kết luận
Sabbepi ce, sāriputta, khattiyā imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājāneyyuṁ, sabbesānampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbepi ce, sāriputta, brāhmaṇā …pe… sabbepi ce, sāriputta, vessā … sabbepi ce, sāriputta, suddā imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājāneyyuṁ, sabbesānampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā sāriputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Này Sāriputta, nếu tất cả những vị Sát đế lỵ, đối với lời nói này được Ta nói vắn tắt, có thể hiểu ý nghĩa lời nói ấy một cách rộng rãi như vậy, tất cả những vị ấy sẽ được hưởng hạnh phúc, an lạc lâu dài. Này Sāriputta, nếu tất cả những vị Bà-la-môn. Nếu tất cả những vị Vessa … Này Sāriputta, nếu tất cả những vị Thủ đà (Sudda), đối với lời nói này được Ta nói vắn tắt, có thể hiểu ý nghĩa lời nói ấy một cách rộng rãi như vậy, tất cả những vị ấy sẽ được hưởng hạnh phúc, an lạc lâu dài. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
“If all the aristocrats, brahmins, peasants, and menials were to understand the detailed meaning of my brief statement in this way, it would be for their lasting welfare and happiness. That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Sāriputta approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sevitabba / asevitabbanên hành trì / không nên hành trìTên kinh Sevitabbāsevitabbasutta lấy từ cặp chữ này.
kusalā dhammā / akusalā dhammāthiện pháp / bất thiện pháp
abhivaḍḍhanti / parihāyantităng trưởng / thối giảmHai động từ làm nên cây thước đo suốt bài kinh.
kāyasamācārathân hành (cách cư xử về thân)
vacīsamācārakhẩu hành
manosamācāraý hành
cittuppādatâm sanh (sự khởi lên của tâm)
saññāpaṭilābhatưởng đắc
diṭṭhipaṭilābhakiến đắcChính bản Việt có ghi chú chữ Pāli này trong SC 2.
attabhāvapaṭilābhangã tánh đắc
puggalangười (cá nhân mình gần gũi, giao du)Bản Việt ghi kèm chữ Pāli trong SC 65.
abhijjhā / byāpāda / vihesātham dục / sân hận / hại tâm
cīvara, piṇḍapāta, senāsanay, đồ ăn khất thực, sàng tọa
dīgharattaṁ hitāya sukhāyađưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài

Bài kinh này có một hình thức rất đẹp nên nói trước. Thế Tôn nói vắn tắt; Tôn giả Sāriputta giải nghĩa rộng ra; rồi Thế Tôn khen “Lành thay!” và TỰ MÌNH lặp lại nguyên lời giải ấy. Ba lần như vậy.

Xin để ý điều này, vì nó dạy cách làm việc chung. Bậc Thầy không sửa lại cho thành lời mình — Ngài lặp lại y nguyên lời học trò. Đó là cách công nhận cao nhất.

Và bây giờ là cây thước, xin bác đọc chậm vì cả bài kinh nằm ở đây. Điều gì khi mình làm theo, mình gần gũi, mà CÁC PHÁP BẤT THIỆN TĂNG TRƯỞNG và CÁC PHÁP THIỆN THỐI GIẢM — thì KHÔNG nên hành trì. Ngược lại thì NÊN hành trì.

Xin thưa vì sao cây thước này quý hơn một bảng điều cấm. Bảng điều cấm chỉ nói được những việc đã liệt kê. Cây thước này đo được cả những việc chưa ai kịp nghĩ tớikể cả những thứ thời nay mới có.

Và xin để ý cây thước ấy KHÔNG hỏi “việc này có bị cấm không”. Nó hỏi: “sau khi làm việc này, lòng mình ra sao?”rộng hơn hay hẹp lại, dịu hơn hay gắt hơn.

Lời giảng thứ nhất đem cây thước đo BẢY MỤC thuộc về chính mình: thân hành, khẩu hành, ý hành, tâm sanh, tưởng đắc, kiến đắc, ngã tánh đắc.

Tôn giả Sāriputta giảng rộng bằng những thí dụ rất cụ thể, không nói lý. Về thân hành: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dụcKHÔNG nên; từ bỏ những điều ấyNÊN.

Về khẩu hành: vọng ngữ, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếmkhông nên; nói lời chơn thật, hoà hợp, nhu hoà, đúng thờinên.

Bốn chữ “chơn thật, hoà hợp, nhu hoà, đúng thời” nên chép ra dán ở nhà. Chúng cho thấy nói thật chưa đủ: thật mà chia rẽ thì hỏng, thật mà thô thì hỏng, thật mà sai lúc cũng hỏng.

Về ý hành: tham ái và sân tâmkhông nên; không tham, không sân, mong chúng sanh được an lạcnên.

Về kiến đắc: tà kiến — cho rằng không có bố thí, không có quả của nghiệp thiện ác, không có đời này đời khác, không có cha mẹ — là không nên; chánh kiến ngược lạinên.

Lời giảng thứ hai đem cây thước đo SÁU TRẦN: sắc do mắt nhận thức, tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân, pháp do ýmỗi thứ đều có hai loại.

Xin thưa phần này rất hợp thời. Kinh không cấm nhìn, không cấm nghe — kinh nói có thứ nên nhìn và có thứ không nên, và tiêu chuẩn vẫn là cây thước cũ. Với các em ngày nay, đây chính là chuyện xem gì trên điện thoại.

Lời giảng thứ ba đem cây thước đo HOÀN CẢNH SỐNG: y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa (chỗ ở), làng, thị trấn, đô thị, quốc độ — và sau cùng là NGƯỜI (puggala) mình gần gũi.

Xin dừng lại ở mục cuối cùng ấy. Cả một chuỗi dài về đồ mặc, đồ ăn, chỗ ở — rồi kết bằng CON NGƯỜI. Nghĩa là bạn mình chọn cũng phải cân bằng chính cây thước ấy.

Và đây là chỗ cây thước trở nên rất sắc, cũng rất khó.không hỏi người ấy tốt hay xấu. Nó hỏi: gần người ấy thì trong lòng mình điều xấu lớn lên hay nhỏ đi?

Xin nói cho công bằng, kẻo bị hiểu lệch. Cây thước này không cho phép mình chê ai cả. Nó chỉ nói về chỗ mình đứng gần. Có người rất tốt mà mình gần thì hay tranh hơn thua; cũng có người vụng về mà gần thì mình hiền ra. Đây là chuyện của mình, không phải bản án cho người kia.

Kết kinh có một câu rất rộng lượng. Thế Tôn dạy: nếu tất cả những vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Vessa, Thủ-đà — nghĩa là cả bốn giai cấp, tức mọi ngườihiểu được ý nghĩa rộng rãi của lời nói vắn tắt này, thì tất cả đều được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Nếu chỉ mang được một câu duy nhất từ trang này về nhà, xin mang câu này: “Làm xong việc ấy, lòng tôi rộng ra hay hẹp lại?” Hỏi được câu ấy mỗi tối, là đã có cả bài kinh.

  • “Vậy cứ thấy dễ chịu là nên làm.” Không. Cây thước không đo cảm giác dễ chịu — nó đo pháp thiện tăng hay giảm. Nhiều việc rất dễ chịu mà làm lòng hẹp lại.
  • “Kinh dạy tránh xa người xấu.” Kinh không xếp loại người tốt xấu. Nó hỏi gần ai thì mình thành ra thế nàovà đó là chuyện của mình.
  • “Bài kinh chỉ dành cho người xuất gia.” Câu kết nói tới cả bốn giai cấp, và ba mục cuối là ăn, ở, chơi với aitoàn chuyện đời thường.
  • Ngành Oanh. Dạy một câu hỏi: “Chơi xong trò này, em thấy dễ thương hơn hay quạu hơn?”
  • Ngành Thiếu. Cho các em liệt kê ba thứ hay xem trên điện thoại rồi đo bằng cây thước: xem xong lòng rộng ra hay hẹp lại?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đem bốn chữ “chơn thật, hoà hợp, nhu hoà, đúng thời” soi lại một lời mình đã nói tuần qua.
  • Cây thước đo của bài kinh là gì?
  • Bốn đặc điểm của lời nói nên hành trì?
  • Vì sao mục cuối cùng lại là “người mình gần gũi”?
  • Thế Tôn đã làm gì sau khi Tôn giả Sāriputta giảng rộng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.