G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 113
Mọi Ưu Điểm Đều Có Thể Thành Chỗ Nuôi Ngã Mạn

Kinh Chân Nhân

Sappurisa Sutta — MN 113 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Chân Nhân

Bài kinh này lặp đi lặp lại một khuôn duy nhất, và chính sự lặp lại ấy là bài học. Gia thếtiếng tămđược cúng dường nhiềuhọc rộnggiữ giới nghiêmtu khổ hạnhcho tới chứng thiền: thứ nào cũng có thể đem ra khen mình chê người.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 113
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm, tinh xá ông Cấp Cô Độc
  • Nghĩa tênsappurisa: người chơn chánh, bậc chân nhân
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Chân Nhân (Sappurisasutta) là bài kinh thứ 113 của Trung Bộ, Thế Tôn giảng tại tịnh xá Cấp Cô Ðộc ở Sāvatthi. Nội dung chỉ ra rất rõ ràng đâu là "phi Chân nhân pháp" và đâu là "Chân nhân pháp", qua một khuôn mẫu lặp đi lặp lại rất dễ nhớ. Khuôn mẫu ấy như sau: người phi Chân nhân có được một điều gì đó tốt — sinh trong gia đình cao sang, gia đình lớn, gia đình đại phú, gia đình quý phái; được nhiều người biết đến, có danh xưng; nhận được nhiều cúng dường y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh; là người nghe nhiều (đa văn); là bậc trì luật; là người thuyết pháp; sống ở rừng núi, mặc phấn tảo y, khất thực, sống dưới gốc cây, sống tại nghĩa địa, sống ngoài trời, thường ngồi không nằm, ngồi tại chỗ mời, chỉ ăn một lần ngồi — rồi lấy chính điều tốt ấy mà "khen mình chê người". Ðó là phi Chân nhân pháp. Người Chân nhân thì suy xét ngược lại: không phải nhờ những điều ấy mà các tham pháp, sân pháp, si pháp đi đến đoạn trừ; ai không có những điều ấy nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, thì người ấy vẫn được kính trọng, được tán thán. Vị ấy "lấy đạo lộ làm chánh yếu", không khen mình chê người. Ðó là Chân nhân pháp. Ðến phần thiền định, khuôn mẫu chuyển sang một tầng sâu hơn: với sơ Thiền cho đến Thiền thứ tư, rồi Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, người phi Chân nhân vẫn có thể lấy chứng đắc mà khen mình chê người; còn người Chân nhân nhớ lời Thế Tôn rằng các định ấy "tự tánh là vô tham ái" (atammayatā), nên lấy vô tham ái làm chánh yếu. Kinh kết thúc ở chỗ cao nhất: người Chân nhân vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định, các lậu hoặc được đoạn trừ, và vị ấy "không nghĩ mình là bất cứ vật gì, không nghĩ đến bất cứ chỗ nào, không nghĩ đến bất cứ vì sự việc gì". Ðây là bài kinh rất thiết thực cho Huynh Trưởng và đoàn sinh: mọi ưu điểm — gia thế, tiếng tăm, học rộng, giữ giới nghiêm, tu hạnh khổ hạnh, cả đến chứng thiền — đều có thể trở thành chỗ nuôi ngã mạn nếu đem ra so hơn thua với người khác.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tịnh xá ông Cấp Cô Ðộc; Ngài tuyên bố sẽ giảng Chân nhân pháp và phi Chân nhân pháp (SC 1).
  • Gia thế: cao sang, gia đình lớn, đại phú, quý phái — Phi Chân nhân lấy gia thế khen mình chê người; Chân nhân biết gia thế không đoạn trừ tham sân si, lấy đạo lộ làm chánh yếu (SC 2–5).
  • Danh xưng, lợi dưỡng — Ðược nhiều người biết, có danh xưng; nhận được y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, y liệu trị bệnh (SC 6–9).
  • Ða văn, trì luật, thuyết pháp — Là người nghe nhiều, là bậc trì luật, là người thuyết pháp (SC 10–15).
  • Các hạnh đầu đà — Sống ở rừng núi, mặc phấn tảo y, khất thực, sống dưới gốc cây, sống tại nghĩa địa, sống ngoài trời, thường ngồi không nằm, ngồi tại chỗ mời, chỉ ăn một lần ngồi (SC 16–25).
  • Bốn Thiền — Sơ Thiền cho đến Thiền thứ tư; Chân nhân nhớ lời Thế Tôn: định ấy tự tánh là vô tham ái (SC 26–29).
  • Bốn Vô sắc xứ — Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ (SC 30–37).
  • Diệt thọ tưởng định và kết kinh — Người Chân nhân chứng và trú Diệt thọ tưởng định, các lậu hoặc đoạn trừ, không còn nghĩ mình là bất cứ vật gì; các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (SC 38–39).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 1 (mn113:2.1)
sappurisadhammañca vo, bhikkhave, desessāmi asappurisadhammañca. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông Chân nhân pháp và phi Chân nhân pháp. Các Ông hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng
“Mendicants, I will teach you the qualities of a true person and the qualities of an untrue person. Listen and apply your mind well, I will speak.”
SC 2 (mn113:3.2–3.6)
Idha, bhikkhave, asappuriso uccākulā pabbajito hoti. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi uccākulā pabbajito, ime panaññe bhikkhū na uccākulā pabbajitā’ti. So tāya uccākulīnatāya attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayaṁ, bhikkhave, asappurisadhammo.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân xuất gia từ một gia đình cao sang. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta xuất gia từ một gia đình cao sang. Còn các Tỷ-kheo này không xuất gia từ một gia đình cao sang”. Vì người ấy thuộc gia đình cao sang nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Take an untrue person who has gone forth from an eminent family. They reflect: ‘I have gone forth from an eminent family, unlike these other mendicants.’ And they glorify themselves and put others down on account of that. This is a quality of an untrue person.
SC 3 (mn113:3.8–3.12)
‘na kho uccākulīnatāya lobhadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, dosadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, mohadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti. No cepi uccākulā pabbajito hoti; so ca hoti dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tattha pujjo, so tattha pāsaṁso’ti. So paṭipadaṁyeva antaraṁ karitvā tāya uccākulīnatāya nevattānukkaṁseti na paraṁ vambheti. Ayaṁ, bhikkhave, sappurisadhammo.
Và này các Tỷ-kheo, người Chân nhân suy nghĩ như sau: “Không phải vì thuộc một gia đình cao sang mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người xuất gia, không phải từ một gia đình cao sang, và người ấy hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ (patipadam) làm chánh yếu (antaram), không khen mình chê người vì tự mình thuộc vào gia đình cao sang. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
‘It’s not because of one’s eminent family that thoughts of greed, hate, or delusion come to an end. Even if someone has not gone forth from an eminent family, if they practice in line with the teaching, practice properly, and live in line with the teaching, they are worthy of honor and praise for that.’ Keeping the practice to themselves, they don’t glorify themselves and put others down on account of their eminent family. This is a quality of a true person.
SC 6 (mn113:7.1–7.5)
Puna caparaṁ, bhikkhave, asappuriso ñāto hoti yasassī. So iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khomhi ñāto yasassī, ime panaññe bhikkhū appaññātā appesakkhā’ti. So tena ñattena attānukkaṁseti, paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, asappurisadhammo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có người phi Chân nhân được nhiều người biết, có danh xưng. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ta được nhiều người biết, có danh xưng, còn các Tỷ-kheo này được ít người biết đến, không được trọng vọng”. Vì người ấy tự mình được nhiều người biết đến nên khen mình chê người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là phi Chân nhân pháp.
Furthermore, take an untrue person who is well-known and famous. They reflect: ‘I’m well-known and famous. These other mendicants are obscure and insignificant.’ And they glorify themselves and put others down on account of that. This too is a quality of an untrue person.
SC 25 (mn113:16-20.11–16-20.15)
‘na kho ekāsanikattena lobhadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, dosadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti, mohadhammā vā parikkhayaṁ gacchanti. No cepi ekāsaniko hoti; so ca hoti dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tattha pujjo, so tattha pāsaṁso’ti. So paṭipadaṁyeva antaraṁ karitvā tena ekāsanikattena nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, sappurisadhammo.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Không phải vì mình theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi mà các tham pháp đi đến đoạn trừ, hay các sân pháp đi đến đoạn trừ, hay các si pháp đi đến đoạn trừ. Nếu một người không theo hạnh chỉ ăn một lần, nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, hành trì thuận pháp, thời ở đây, người ấy được kính trọng, ở đây, người ấy được tán thán”. Người ấy, sau khi lấy đạo lộ làm chánh yếu, không khen mình chê người vì tự mình sống chỉ ăn một lần ngồi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
‘It’s not because of eating in one sitting per day that thoughts of greed, hate, or delusion come to an end. Even if someone eats in more than one sitting per day, if they practice in line with the teaching, practice properly, and live in line with the teaching, they are worthy of honor and praise for that.’ Keeping the practice to themselves, they don’t glorify themselves and put others down on account of their eating in one sitting per day. This too is a quality of a true person.
SC 27 (mn113:21.7–21.10)
‘paṭhamajjhānasamāpattiyāpi kho atammayatā vuttā bhagavatā. Yena yena hi maññanti tato taṁ hoti aññathā’ti. So atammayataññeva antaraṁ karitvā tāya paṭhamajjhānasamāpattiyā nevattānukkaṁseti, na paraṁ vambheti. Ayampi, bhikkhave, sappurisadhammo.
Và người Chân nhân, này các Tỷ-kheo, suy nghĩ như sau: “Ðịnh sơ Thiền, tự tánh là vô tham ái, Thế Tôn đã nói như vậy. Những ai nghĩ thế này, thế khác, thời tự tánh liền đổi khác”. Người ấy sau khi lấy vô tham ái làm chánh yếu, không khen mình chê người vì chứng được định sơ Thiền. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Chân nhân pháp.
‘The Buddha has spoken of not being determined even by the attainment of the first absorption. For however they imagine it, it turns out to be something else.’ Keeping to themselves the fact that they are not determined by that, they don’t glorify themselves and put others down on account of their attainment of the first absorption. This too is a quality of a true person.
SC 38 (mn113:29.1–29.2)
Puna caparaṁ, bhikkhave, sappuriso sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti. Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhu na kiñci maññati, na kuhiñci maññati, na kenaci maññatī”ti.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người Chân nhân sau khi vượt lên Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định, sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này không nghĩ mình là bất cứ vật gì, không nghĩ đến bất cứ chỗ nào, không nghĩ đến bất cứ vì sự việc gì.
Furthermore, take a true person who, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, their defilements come to an end. This is a mendicant who does not conceive with anything, does not conceive regarding anything, does not conceive through anything.”
SC 39 (mn113:29.3–29.4)
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sappurisaChân nhân — bậc chân thật, người tốt lànhSujato dịch "a true person"
asappurisaphi Chân nhânSujato: "an untrue person"
sappurisadhamma / asappurisadhammaChân nhân pháp / phi Chân nhân pháp
attānukkaṁseti, paraṁ vambhetikhen mình chê người
lobhadhammā, dosadhammā, mohadhammācác tham pháp, sân pháp, si pháp
paṭipadāđạo lộ — con đường hành trìBản Việt ghi chú nguyên chữ (patipadam)
antaraṁ karitvālấy làm chánh yếuBản Việt ghi chú nguyên chữ (antaram)
dhammānudhammappaṭipannahành trì đúng pháp và thuận pháp
atammayatāvô tham ái (bản HT. Thích Minh Châu); Sujato: "not being determined by that"
bahussutanghe nhiều, đa văn
vinayadharabậc trì luật
paṁsukūlikangười theo hạnh mặc phấn tảo y
piṇḍapātikangười theo hạnh khất thực
ekāsanikangười theo hạnh chỉ ăn một lần ngồi
jhānaThiền (sơ Thiền đến Thiền thứ tư)
ākāsānañcāyatanaKhông vô biên xứ
viññāṇañcāyatanaThức vô biên xứ
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ
saññāvedayitanirodhaDiệt thọ tưởng định
āsavālậu hoặc

Xin thưa trước về hình thức bài kinh, vì nếu không biết thì đọc sẽ thấy chán. Bài kinh lặp đi lặp lại một khuôn duy nhất qua rất nhiều trường hợp. Chính sự lặp lại ấy là bài học — nó nói rằng KHÔNG THỨ NÀO được miễn.

Khuôn ấy như sau. Người phi Chân nhân có được một điều gì đó tốt — rồi lấy chính điều tốt ấy mà KHEN MÌNH CHÊ NGƯỜI. Người Chân nhâncùng điều tốt ấy — nhưng suy xét khác hẳn.

Danh sách những “điều tốt” ấy rất dài, và xin đọc chậm cho thấy hết. Sinh trong gia đình cao sang, gia đình lớn, gia đình đại phú, gia đình quý phái. Được nhiều người biết đến, có danh xưng. Nhận được nhiều cúng dường — y phục, đồ ăn, sàng tọa, thuốc men.

Rồi tới những điều tốt về ĐẠO: là người nghe nhiều (đa văn); là bậc trì luật; là người thuyết pháp.

Rồi tới các hạnh khắc khổ: sống ở rừng núi, mặc phấn tảo y, khất thực, sống dưới gốc cây, sống tại nghĩa địa, sống ngoài trời, thường ngồi không nằm, ngồi tại chỗ được mời, chỉ ăn một lần ngồi.

Xin để ý danh sách này đi từ chỗ dễ thấy tới chỗ khó ngờ. Ai cũng biết khoe giàu là dở. Nhưng khoe mình giữ giới nghiêm? Khoe mình ăn ngày một bữa? Khoe mình ngủ ngồi? — Bài kinh xếp tất cả vào cùng một hàng.

Và người Chân nhân suy xét thế nào? Vị ấy nghĩ: không phải nhờ những điều ấy mà các tham pháp, sân pháp, si pháp đi đến đoạn trừ.

Rồi vị ấy nghĩ tiếp một điều rất rộng lượng: ai KHÔNG có những điều ấy nhưng hành trì đúng pháp và thuận pháp, hành trì chơn chánh, thì người ấy vẫn được kính trọng, được tán thán.

Xin thưa vì sao ý này quý. Người Chân nhân không những không khoe cái mình có — ông còn chủ động nghĩ tới người không có, và công nhận họ trước.

Và câu then chốt: vị ấy “LẤY ĐẠO LỘ LÀM CHÁNH YẾU”. Nghĩa là điều quan trọng là con đường, không phải hành trang. Hành trang tốt thì mừng, nhưng không ai tới đích nhờ khoe hành trang.

Đến phần thiền định, bài kinh chuyển sang một tầng sâu hơn hẳn. Với sơ Thiền cho tới Thiền thứ tư, rồi bốn Vô sắc xứngười phi Chân nhân VẪN có thể lấy chứng đắc mà khen mình chê người.

Xin dừng lại, vì chỗ này làm ta phải giật mình. Người này đã chứng thiền thậtkhông phải giả. Vậy mà vẫn còn chỗ để ngã mạn chen vào. Chứng đắc không tự nó dọn sạch lòng người.

Còn người Chân nhân thì nhớ lời Thế Tôn rằng các định ấy “tự tánh là VÔ THAM ÁI” (Pāli atammayatā) — nên vị ấy lấy vô tham ái làm chánh yếu.

Xin giải chữ atammayatā cho dễ hiểu. Nó có nghĩa “không làm bằng cái đó”, không đồng hoá mình với cái đó. Nghĩa là: chứng được một tầng thiền không có nghĩa “TÔI là người chứng thiền”. Trạng thái là trạng thái; nó không phải một danh hiệu.

Và kinh kết ở chỗ cao nhất. Người Chân nhân vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định, các lậu hoặc được đoạn trừ; và vị ấy “không nghĩ mình là bất cứ vật gì, không nghĩ đến bất cứ chỗ nào, không nghĩ đến bất cứ vì sự việc gì”.

Xin đọc lại câu cuối ấy thật chậm. Cả bài kinh dài đi từ “khoe gia thế” cho tới đây — và đích đến không phải là khoe được điều gì cao hơn, mà là không còn gì để lấy làm mình.

Xin thưa lời cuối, và đây là lý do bài kinh này rất cần cho Gia Đình Phật Tử. Trong đoàn, mọi thứ đều có thể thành chỗ so hơn thua: đi sinh hoạt đều hơn, thuộc kinh nhiều hơn, giữ giới kỹ hơn, đóng góp nhiều hơn, cấp bậc cao hơn. Bài kinh không bảo bỏ những điều ấychúng đều tốt. Nó chỉ hỏi: anh chị đang lấy chúng làm ĐƯỜNG ĐI hay làm CHỖ ĐỨNG?

Và có một dấu hiệu rất giản dị để tự biết. Nếu điều tốt ấy làm mình thấy nhẹ hơn, thương người hơn — thì nó đang là đường. Nếu nó làm mình thấy hơn người — thì nó đã thành chỗ đứng.

  • “Vậy đừng học nhiều, đừng giữ giới kỹ.” Hoàn toàn không. Người Chân nhân trong kinh cũng có đủ những điều ấykhác nhau ở chỗ dùng chúng thế nào.
  • “Chứng thiền rồi thì hết ngã mạn.” Bài kinh nói ngược lại: tới Phi tưởng phi phi tưởng xứ vẫn có thể khen mình chê người.
  • “Không khen mình chê người nghĩa là không được nhận mình có gì.” Kinh không cấm biết mình có gì. Nó cấm lấy cái mình có mà hạ người khác xuống.
  • Ngành Oanh. Dạy một câu: “Em giỏi việc này, bạn giỏi việc khác.”
  • Ngành Thiếu. Cho mỗi em viết ra một điều mình hơn bạn, rồi hỏi: điều đó có làm em thương bạn hơn không?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc danh sách trong kinh và tìm xem trong đoàn mình những gì đang bị đem ra so: cấp bậc? thâm niên? thuộc kinh?
  • Khuôn mẫu lặp lại của bài kinh là gì?
  • Người Chân nhân suy xét thế nào về ưu điểm của mình?
  • “Lấy đạo lộ làm chánh yếu” nghĩa là gì?
  • Chữ atammayatā nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.