G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 112
Không Tán Thán · Cũng Không Bác Bỏ · Hãy Hỏi

Kinh Sáu Thanh Tịnh

Chabbisodhana Sutta — MN 112 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Sáu Thanh Tịnh

Có người tự tuyên bố đã chứng đạo. Nên tin hay nên bác? Thế Tôn dạy một thái độ rất cân bằng: “không nên tán thán, cũng không nên bác bỏ” — mà hãy đặt câu hỏi. Rồi Ngài cho một bộ câu hỏi thẩm tracâu trả lời đúng pháp phải như thế nào.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 112
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm
  • Nghĩa tênChabbisodhana: “sáu thanh tịnh”
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Sáu Thanh tịnh dạy cách thẩm tra một vị Tỷ-kheo tự tuyên bố đã chứng chánh trí: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Thế Tôn dạy rằng đối với lời tuyên bố ấy, chúng ta "không nên tán thán cũng không nên bác bỏ" — mà phải đặt câu hỏi để kiểm chứng. Đây là điểm rất đáng học: đạo Phật không tin suông theo lời tự xưng, cũng không vội vàng chê bai, mà lấy sự tìm hiểu đúng pháp làm chuẩn. Thân kinh nêu ra NĂM loạt câu hỏi thẩm tra nối tiếp nhau (nhan đề Pāli là “sáu thanh tịnh”, nhưng cách đếm thành sáu là của Chú giải về sau — xin xem ghi chú cuối trang). Thứ nhất là bốn hình thức tuyên bố (thấy, nghe, cảm giác, nhận thức). Thứ hai là năm thủ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Thứ ba là sáu giới (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức). Thứ tư là sáu nội ngoại xứ (mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp). Thứ năm là câu hỏi về mạn tùy miên “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm” đối với thân có nhận thức này và tất cả tướng ở ngoài — đây là nguyên văn bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu (SC 32); Pāli <em>ahaṅkāra-mamaṅkāra-mānānusaya</em> sát nghĩa hơn là “ngã kiến, ngã sở kiến và mạn tùy miên”. Với mỗi đề mục, kinh ghi rõ "câu trả lời tùy pháp" (anudhamma) mà một vị đã thật sự đoạn tận lậu hoặc phải nói ra: vị ấy tuệ tri tâm mình được giải thoát nhờ sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả mọi chấp thủ, cố chấp, thiên chấp, tùy miên. Trả lời câu hỏi thứ năm, vị Tỷ-kheo thuật lại trọn con đường tu tập tuần tự: nghe pháp, khởi lòng tịnh tín, xuất gia, giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, tri túc, sống nơi thanh vắng, đoạn trừ năm triền cái, chứng bốn Thiền, rồi hướng tâm đến lậu tận trí và biết như thật Bốn Sự Thật. Cuối cùng, nếu các câu trả lời đều đúng pháp, chúng Tăng tán thán "Lành thay!" và nói: "Thật lợi ích thay cho chúng tôi... khi chúng tôi được thấy một vị sống Phạm hạnh như Tôn giả".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn trú tại Jetavana, gọi các Tỷ-kheo (SC 1 / mn112:1.1-1.6).
  • Lời tuyên bố chánh trí và thái độ cần có — Có Tỷ-kheo tuyên bố "Sanh đã tận…"; không nên tán thán cũng không nên bác bỏ, mà cần hỏi (SC 2-3 / mn112:2.1-3.2).
  • Thẩm tra thứ nhất: bốn hình thức tuyên bố — Thấy, nghe, cảm giác, nhận thức — hỏi và câu trả lời tùy pháp (SC 3-6 / mn112:3.3-5.2).
  • Thẩm tra thứ hai: năm thủ uẩn — Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là vô lực, biến hoại, không an ổn (SC 7-15 / mn112:5.3-7.2).
  • Thẩm tra thứ ba: sáu giới — Địa, thủy, hỏa, phong, không, thức — không phải tự ngã (SC 16-25 / mn112:7.3-9.2).
  • Thẩm tra thứ tư: sáu nội ngoại xứ — Mắt và sắc… ý và pháp; đoạn trừ dục, tham, hỷ, ái (SC 26-31 / mn112:9.3-11.2).
  • Thẩm tra thứ năm: mạn tùy miên và con đường tu tập tuần tự — Câu hỏi về ngã mạn "Ta là người làm"; vị ấy thuật lại từ lúc nghe pháp, xuất gia, giới, hộ trì căn, chánh niệm tỉnh giác, đoạn năm triền cái, bốn Thiền, đến lậu tận trí (SC 32-47 / mn112:11.3-20.4).
  • Kết: tán thán vị Phạm hạnh — Tán thán "Lành thay!" và nói lời hoan hỷ; các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (SC 48-49 / mn112:21.1-21.6).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 2 (mn112:2.1-2.2)
“Idha, bhikkhave, bhikkhu aññaṁ byākaroti: ‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói lên chánh trí (annam) như sau: "Ta tuệ tri như vầy:" Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa" ".
“Take a mendicant who declares enlightenment: ‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’
SC 3 (mn112:3.1-3.2)
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ. Anabhinanditvā appaṭikkositvā pañho pucchitabbo:
Này các Tỷ-kheo, lời nói của vi Tỷ-kheo ấy, không nên tán thán cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, cần hỏi câu hỏi:
You should neither approve nor reject that mendicant’s statement. Rather, you should question them:
SC 5 (mn112:4.2-4.6)
‘diṭṭhe kho ahaṁ, āvuso, anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharāmi. Sute kho ahaṁ, āvuso …pe… mute kho ahaṁ, āvuso … viññāte kho ahaṁ, āvuso, anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharāmi. Evaṁ kho me, āvuso, jānato evaṁ passato imesu catūsu vohāresu anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan’ti.
"Này chư Hiền, tôi không cảm thấy luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế, đối với những vật được thấy … được nghe … được cảm giác … được nhận thức. Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với bốn hình thức tuyên bố này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ".
‘Regarding what is seen, reverends, I live without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. Regarding what is heard … thought … or known, I live without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. That is how I know and see regarding these four kinds of expression so that my mind is freed from defilements by not grasping.’
SC 9 (mn112:6.2)
‘rūpaṁ kho ahaṁ, āvuso, abalaṁ virāgunaṁ anassāsikanti viditvā ye rūpe upāyūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā vimuttaṁ me cittanti pajānāmi.
"Này chư Hiền, sau khi biết sắc này là vô lực, biến hoại, không an ổn, đối với những sắc là những chấp thủ phương tiện (upayupadana), là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên, đối với những sắc ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
‘Reverends, knowing that form is powerless, faded, and unreliable, I understand that my mind is freed through the ending, fading away, cessation, giving away, and letting go of attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendency for form.
SC 18 (mn112:8.2-8.3)
‘pathavīdhātuṁ kho ahaṁ, āvuso, na attato upagacchiṁ, na ca pathavīdhātunissitaṁ attānaṁ. Ye ca pathavīdhātunissitā upāyūpādānā cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā tesaṁ khayā virāgā nirodhā cāgā paṭinissaggā vimuttaṁ me cittanti pajānāmi.
"Chư Hiền, tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc địa giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc địa giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
‘Reverends, I’ve not taken the earth element as self, nor is there a self based on the earth element. And I understand that my mind is freed through the ending, fading away, cessation, giving away, and letting go of attraction, grasping, mental fixation, insistence, and underlying tendency based on the earth element.
SC 32 (mn112:11.3)
‘Kathaṁ jānato panāyasmato, kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā samūhatā’ti?
"Nhưng này Hiền giả, do biết gì, thấy gì, do đối với các thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, Tôn giả có thể nói về mạn tùy miên: "Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm", mạn tùy miên của Tôn giả được đoạn trừ một cách hoàn toàn?".
‘Sir, how does the venerable know and see so that he has eradicated I-making, mine-making, and the underlying tendency to conceit for this conscious body and externally for all signs?’
SC 34 (mn112:12.2-12.8)
‘pubbe kho ahaṁ, āvuso, agāriyabhūto samāno aviddasu ahosiṁ. Tassa me tathāgato vā tathāgatasāvako vā dhammaṁ desesi. Tāhaṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhiṁ. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhiṁ: “sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan”ti.
"Chư Hiền, thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia, tôi còn ngu muội. Tôi được Như Lai, đệ tử Như Lai thuyết pháp. Sau khi nghe pháp. Tôi có lòng tịnh tín đối với Như Lai. Thành tựu được tịnh tín ấy, tôi suy nghĩ: "Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
‘Formerly, reverends, when I was still a layperson, I was ignorant. Then the Realized One or one of his disciples taught me the Dhamma. I gained faith in the Realized One, and reflected: “Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from lay life to homelessness?”
SC 48 (mn112:21.1-21.4)
‘lābhā no, āvuso, suladdhaṁ no, āvuso, ye mayaṁ āyasmantaṁ tādisaṁ sabrahmacāriṁ samanupassāmā’”ti.
Này các Tỷ-kheo Tỷ-kheo ấy cần phải được tán thán, cần phải được tùy hỷ với lời nói: "Lành thay!" Sau khi tán thán, tùy hỷ với lời nói: "Lành thay!", vị ấy cần phải nói thêm như sau: "Thật lợi ích thay cho chúng tôi, thật khéo lợi ích thay cho chúng tôi, khi chúng tôi được thấy một vị sống Phạm hạnh như Tôn giả".
‘We are fortunate, reverend, so very fortunate to see a venerable such as yourself as one of our spiritual companions!’”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
chabbisodhanaSáu thanh tịnh — sáu đề mục thẩm tra để làm sáng tỏ lời tuyên bố chứng đắcNhan đề kinh: Chabbisodhanasutta
aññāChánh trí — trí biết mình đã giải thoátBản Việt phiên là "chánh trí (annam)" ở SC 2
anudhammaTùy pháp — câu trả lời đúng theo phápBản Việt: "câu trả lời tùy pháp (anudhamma)" ở SC 4
vohāraHình thức tuyên bố, cách nói năngBốn vohāra: diṭṭha, suta, muta, viññāta
diṭṭha, suta, muta, viññātaĐược thấy, được nghe, được cảm giác, được nhận thức
pañcupādānakkhandhāNăm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức
cha dhātuyoSáu giới: địa, thủy, hỏa, phong, không, thức
ajjhattikabāhirāni āyatanāniSáu nội ngoại xứ: mắt–sắc, tai–tiếng, mũi–hương, lưỡi–vị, thân–xúc, ý–pháp
upāyūpādānaChấp thủ phương tiệnBản Việt ghi "chấp thủ phương tiện (upayupadana)" ở SC 9
anusayaTùy miên — khuynh hướng ngủ ngầm trong tâm
ahaṅkāramamaṅkāramānānusayaMạn tùy miên "ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm"
āsavaLậu hoặc: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
khīṇāsavaBậc đã đoạn tận các lậu hoặc
anupādāyaKhông có chấp thủ
nīvaraṇaTriền cái — năm pháp che lấp tâm

Bài kinh này trả lời một câu hỏi rất thực tế mà thời nào cũng có: khi có người tuyên bố mình đã chứng đắc, ta phải làm sao?

Lời tuyên bố ấy là câu quen thuộc: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.”

Và lời dạy của Thế Tôn là chỗ đáng học nhất của cả bài kinh: “không nên tán thán, cũng không nên bác bỏ”mà phải đặt câu hỏi.

Xin thưa vì sao thái độ này quý. Trước một lời như vậy, người ta thường ngả về một trong hai phía ngay: hoặc tin liền và tôn sùng, hoặc bĩu môi và gạt đi. Cả hai đều là phản ứng, không phải tìm hiểu.

Và xin để ý điều này rất tinh tế: KHÔNG BÁC BỎ cũng là một lời dạy. Đạo Phật không cho phép cái nghi ngờ dễ dãi kiểu “làm gì có ai chứng”. Nghi bừa cũng là một cách lười.

Rồi Ngài cho các loạt câu hỏi thẩm tra. Thứ nhất: về bốn hình thức tuyên bốthấy, nghe, cảm giác, nhận thức. Thứ hai: về năm thủ uẩn. Thứ ba: về sáu giới (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức). Thứ tư: về sáu nội ngoại xứ. Thứ năm: về mạn tùy miên.

Xin thưa một chỗ về con số, kẻo bác đếm mà thấy hụt. Nhan đề Pāli là “sáu thanh tịnh”, nhưng thân kinh chỉ nêu NĂM loạt câu hỏi. Cách đếm thành sáu là của Chú giải về sau, không phải chữ trong kinh. Trang này đi theo kinh văn.

Điều hay nhất là kinh không chỉ cho câu HỎI — kinh cho luôn câu ĐÁP đúng pháp. Nghĩa là ai hỏi cũng biết mình đang chờ nghe gì, và ai đáp cũng không thể đáp vòng vo.

Và câu đáp đúng pháp đều có chung một hình dáng: vị ấy tuệ tri tâm mình được giải thoát NHỜ SỰ ĐOẠN TẬN, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả mọi chấp thủ, cố chấp, thiên chấp, tùy miên.

Xin để ý câu đáp ấy KHÔNG nói về cảm giác.không nói “tôi thấy an lạc lắm”, không kể chuyện hào quang. Nó nói về cái đã BỚT ĐI.

Đây là một cái thước rất sắc và rất dùng được ngày nay. Người nói về chứng đắc mà toàn kể cảm giác lạ, thấy này thấy kia — thì chưa đúng khuôn của kinh. Khuôn của kinh là: bớt tham, bớt chấp, bớt dính.

Loạt thứ năm về mạn tùy miên có một cụm chữ xin thưa cho rõ. Bản Việt của Hoà thượng ghi: mạn tùy miên “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”. Pāli ahaṅkāra-mamaṅkāra-mānānusaya sát nghĩa hơn là “ngã kiến, ngã sở kiến và mạn tùy miên”. Chúng tôi giữ nguyên chữ của Hoà thượng và chỉ ghi thêm nghĩa Pāli.

Và câu trả lời cho loạt thứ năm không phải một câu — mà là CẢ CON ĐƯỜNG. Vị ấy thuật lại từ đầu: nghe phápkhởi lòng tịnh tínxuất giagiữ giớihộ trì các cănchánh niệm tỉnh giáctri túcsống nơi thanh vắngđoạn năm triền cáibốn Thiềnlậu tận tríbiết như thật Bốn Sự Thật.

Xin thưa vì sao chỗ này khéo. Người thật sự đi trọn đường thì kể lại được từng chặng. Người chỉ có một kinh nghiệm lạ rồi tưởng đã chứng thì không có gì để kể — vì không có đường nào phía sau lưng cả.

Và kết kinh rất đẹp, xin để ý giọng. Nếu các câu đáp đều đúng pháp thì chúng Tăng tán thán “Lành thay!” và nói: “Thật lợi ích thay cho chúng tôi… khi chúng tôi được thấy một vị sống Phạm hạnh như Tôn giả.”

Xin dừng ở giọng nói ấy. Sau khi hỏi rất kỹ, rất sát, chúng Tăng không nói “được rồi, chấp nhận” — mà nói “thật lợi ích thay CHO CHÚNG TÔI”. Người được thẩm tra hoá ra là món quà cho người thẩm tra.

Đây là chỗ bài kinh dạy chúng ta cách kiểm tra mà không làm tổn thương. Hỏi rất kỹnhưng hỏi trong tinh thần mong người kia thật, không phải mong bắt được lỗi.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này dùng được cho nhiều việc ngoài chuyện chứng đắc: khi nghe một lời quả quyết, khi đọc một tin lạđừng tin ngay, cũng đừng bác ngay, hãy hỏi. Và hỏi xong mà thấy đúng thì mừng, chứ không tiếc vì không bắt được lỗi.

  • “Kinh dạy nghi ngờ người tu.” Kinh cấm cả hai thái cực: không tán thán vội, cũng KHÔNG bác bỏ vội. Và kết kinh là lời tán thán chân thành.
  • “Nhan đề nói sáu thì kinh phải có sáu.” Thân kinh chỉ nêu năm loạt câu hỏi; số sáu là cách phân của Chú giải.
  • “Ta là người làm” là dịch sai. Không — đó là nguyên văn bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu (SC 32). Pāli sát nghĩa hơn là “ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên”; Hoà thượng dịch thoát. Chúng tôi giữ nguyên chữ của ngài.
  • Ngành Oanh. Dạy một thói quen: “Chưa biết thì hỏi.” Không vội tin, không vội cãi.
  • Ngành Thiếu. Lấy một tin trên mạng và tập không tin ngay, không bác ngayđặt ba câu hỏi.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về cái thước: lời nói về tu tập nên đo bằng “bớt được gì”, không đo bằng “thấy được gì”.
  • Trước một lời tự tuyên bố chứng đắc, nên làm gì?
  • Vì sao “không bác bỏ” cũng là một lời dạy?
  • Câu trả lời đúng pháp nói về điều gì?
  • Chúng Tăng kết thúc buổi thẩm tra bằng lời gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.