G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 111
Nửa Tháng Soi Từng Pháp Một

Kinh Bất Đoạn

Anupada Sutta — MN 111 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Bất Đoạn

Đây là bài kinh Đức Phật tự tán thán Tôn giả Xá-lợi-phấtkể lại cách ngài tu. Suốt nửa tháng, ngài quán từng pháp một, nối tiếp không gián đoạn, qua chín tầng thiền chứng. Và ở mỗi tầng, dù cao đến đâu, ngài vẫn biết một câu: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa.”

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 111
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm, tinh xá ông Cấp Cô Độc
  • Đặc điểmtoàn kinh là lời Phật nói, không có đối thoại
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Bất đoạn (Anupada) là bài kinh Đức Phật tán thán Tôn giả Xá-lợi-phất và mô tả cách ngài tu tập. Mở đầu, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và nói Sāriputta là bậc Hiền trí, Đại tuệ, Quảng tuệ, Hỷ tuệ, Tiệp tuệ, Lợi tuệ, Quyết trạch tuệ; suốt nửa tháng, Sāriputta "quán bất đoạn pháp quán" — nghĩa là quán sát các pháp nối tiếp nhau, không gián đoạn, từng pháp một. Phần thân kinh đi theo chín tầng thiền chứng theo thứ lớp: sơ Thiền, Thiền thứ hai, Thiền thứ ba, Thiền thứ tư; rồi Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ; sau cùng là Diệt thọ tưởng định. Ở mỗi tầng, kinh lặp lại một khuôn mẫu rất rõ: Sāriputta chứng và an trú tầng thiền ấy; kế đó ngài nêu ra từng pháp có mặt trong tầng thiền đó (như tầm, tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý); ngài biết rõ các pháp ấy khi chúng khởi lên, khi chúng an trú, khi chúng đoạn diệt; ngài hiểu rằng các pháp ấy trước không có, nay hiện hữu, rồi lại đoạn diệt; và ngài không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc đối với chúng, an trú với tâm không có hạn chế. Điểm then chốt cho người học: sau mỗi tầng, dù cao đến đâu, Sāriputta vẫn biết "còn có sự giải thoát hơn thế nữa" nên không dừng lại. Chỉ đến khi vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng Diệt thọ tưởng, thấy với trí tuệ và các lậu hoặc được đoạn tận, ngài mới biết "không có sự giải thoát nào vô thượng hơn thế nữa". Kết kinh, Thế Tôn xác nhận: nói một cách chơn chánh thì Sāriputta là người được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ, Thánh giải thoát; là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ Pháp, thừa tự Chánh pháp chứ không thừa tự vật chất; và là người chơn chánh chuyển vận Pháp luân vô thượng mà Như Lai đã chuyển. Bài học thực tiễn: định phải đi đôi với tuệ quán, và không được tự mãn với bất cứ sở đắc nào.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi (SC 1) — Thế Tôn trú tại Jetavana, tinh xá ông Cấp Cô Độc, gọi các Tỷ-kheo và nói kinh này.
  • Tán thán trí tuệ Sāriputta và nêu đề tài (SC 2) — Bảy loại tuệ của Sāriputta; suốt nửa tháng ngài quán bất đoạn pháp quán. Phật nói: đây là bất đoạn pháp quán của Sāriputta.
  • Bốn Thiền sắc giới (SC 3-9) — Sơ Thiền, Thiền thứ hai, Thiền thứ ba, Thiền thứ tư; mỗi tầng đều liệt kê các pháp thuộc tầng ấy, biết chúng khởi - trú - diệt, không luyến ái, và biết còn có giải thoát hơn nữa.
  • Bốn Vô sắc xứ (SC 10-17) — Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ theo cùng khuôn mẫu; đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì ngài với chánh niệm xuất khỏi định rồi mới quán các pháp đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại.
  • Diệt thọ tưởng định và đoạn tận lậu hoặc (SC 18-19) — Vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú Diệt thọ tưởng; sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Xuất định, ngài biết không còn sự giải thoát nào vô thượng hơn nữa.
  • Lời xác chứng của Thế Tôn (SC 20-22) — Sāriputta được tự tại, cứu cánh trong Thánh giới - Thánh định - Thánh tuệ - Thánh giải thoát; là con chánh tông của Thế Tôn; chơn chánh chuyển Pháp luân vô thượng.
  • Kết kinh (SC 23) — Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 2 (mn111:2.1-2.9)
Paṇḍito, bhikkhave, sāriputto; mahāpañño, bhikkhave, sāriputto; puthupañño, bhikkhave, sāriputto; hāsapañño, bhikkhave, sāriputto; javanapañño, bhikkhave, sāriputto; tikkhapañño, bhikkhave, sāriputto; nibbedhikapañño, bhikkhave, sāriputto; sāriputto, bhikkhave, aḍḍhamāsaṁ anupadadhammavipassanaṁ vipassati.
Này các Tỷ-kheo, Sāriputta (Xá-lợi-phất) là bậc Hiền trí; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Ðại tuệ; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Quảng tuệ; này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Hỷ tuệ (Hasupanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Tiệp tuệ (javanapanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Lợi tuệ (tikkhapanna); này các Tỷ-kheo, Sāriputta là bậc Quyết trạch tuệ (nibbedhikapanna). Này các Tỷ-kheo, cho đến nửa tháng, Sāriputta quán bất đoạn pháp quán.
Sāriputta is astute, mendicants. He has great wisdom, widespread wisdom, laughing wisdom, swift wisdom, sharp wisdom, and penetrating wisdom. For a fortnight he practiced discernment of phenomena one by one.
SC 3 (mn111:3.1)
Idha, bhikkhave, sāriputto vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sāriputta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, he entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
SC 4 (mn111:4.1-4.2)
Ye ca paṭhame jhāne dhammā vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti. Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti.
Và những pháp thuộc về Thiền thứ nhất như tầm, tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm, và xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý; các pháp ấy được an trú bất đoạn. Các pháp ấy được Sāriputta biết đến khi chúng khởi lên, được Sāriputta biết đến khi an trú, được Sāriputta biết đến khi đoạn diệt.
And he distinguished the phenomena of the first absorption one by one: placing and keeping and rapture and bliss and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind. He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away.
SC 4 (mn111:4.4-4.6)
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti. So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati. So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
Sāriputta biết rõ như sau: “Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt”. Sāriputta đối với những pháp ấy, cảm thấy không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế. Sāriputta biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Đối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn nữa.”
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’ Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries. He understood: ‘There is an escape beyond.’
SC 18 (mn111:19.1)
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Sāriputta vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú Diệt thọ tưởng (định). Sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận.
Furthermore, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, he entered and remained in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, his defilements came to an end.
SC 19 (mn111:20.5)
So ‘natthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
Sāriputta biết: “Không có sự giải thoát nào vô thượng hơn thế nữa. Ðối với Sāriputta, không có việc phải làm nhiều hơn thế nữa”.
He understood: ‘There is no escape beyond.’
SC 21 (mn111:22.1-22.2)
Yaṁ kho taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya: ‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo no āmisadāyādo’ti, sāriputtameva taṁ sammā vadamāno vadeyya.
Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, một người có thể nói về người ấy như sau: “Người này là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ miệng, sanh ra từ Pháp, do Pháp hóa thành, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất”.
And if there’s anyone of whom it may be rightly said that they’re the Buddha’s bosom son, born from his mouth, born of the teaching, created by the teaching, heir in the teaching, not in things of the flesh, it’s Sāriputta.
SC 22 (mn111:23.1)
Sāriputto, bhikkhave, tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavattetī”ti.
Sāriputta, này các Tỷ-kheo, chơn chánh chuyển Pháp luân vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.
Sāriputta rightly keeps rolling the supreme Wheel of Dhamma that was rolled forth by the Realized One.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
anupadabất đoạn, từng pháp một nối tiếp không gián đoạnTên kinh: anupada-dhamma-vipassanā, HT. Minh Châu dịch là 'bất đoạn pháp quán'.
vipassanāquán, minh sát
jhānathiền (định); bốn tầng thiền sắc giới
vitakka / vicāratầm / tứ
pīti / sukhahỷ / lạc
cittekaggatānhứt tâm, tâm chuyên nhất
phassa, vedanā, saññā, cetanā, cittaxúc, thọ, tưởng, tư, tâm
chanda, adhimokkha, vīriya, sati, upekkhā, manasikāradục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý
ākāsānañcāyatanaKhông vô biên xứ
viññāṇañcāyatanaThức vô biên xứ
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ
saññāvedayitanirodhaDiệt thọ tưởng định
āsavā parikkhīṇācác lậu hoặc được đoạn tận
nissaraṇasự xuất ly, sự giải thoát (vượt ra khỏi)
dhammadāyādathừa tự Chánh phápđối lại với āmisadāyāda: thừa tự vật chất

Bài kinh này có một điều đặc biệt nên nói ngay: đây là lời Đức Phật KHEN một đệ tử, và khen rất dài. Ngài gọi Tôn giả Sāriputta là bậc Hiền trí, Đại tuệ, Quảng tuệ, Hỷ tuệ, Tiệp tuệ, Lợi tuệ, Quyết trạch tuệbảy loại tuệ.

Xin để ý Ngài khen mà không nói suông. Ngài kể ra cách Tôn giả tu — nghĩa là lời khen kèm theo bằng chứng, và bằng chứng ấy ai cũng học theo được.

“Bất đoạn pháp quán” nghĩa là gì?quán sát các pháp NỐI TIẾP NHAU, không gián đoạn, TỪNG PHÁP MỘT. Suốt nửa tháng.

Xin thưa hai chữ “từng pháp một” cho rõ, vì đây là cả bài kinh. Người ta thường gộp cả một trạng thái làm một khối: “tôi đang vui”, “tôi đang định”. Tôn giả thì tách ra: trong sơ Thiềntầm, tứ, hỷ, lạc, nhứt tâm, rồi xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ýmỗi thứ được nhìn riêng.

Và với mỗi pháp ấy, ngài biết ba thì: biết khi nó KHỞI LÊN, biết khi nó AN TRÚ, biết khi nó ĐOẠN DIỆT.

Rồi ngài rút ra một câu rất gọn mà là toàn bộ tuệ quán: “Như vậy các pháp ấy trước không có nơi ta, nay có hiện hữu, sau khi hiện hữu, chúng đoạn diệt.”

Xin dừng ở câu này, vì nó dùng được cho cả cơn giận lẫn nỗi buồn. Trước không cónay córồi hết. Chỉ ba nhịp ấy thôi, mà đủ để không bị một cảm xúc cuốn đi: vì mình đang nhìn nó, không phải đang là nó.

Và thái độ của ngài đối với các pháp ấy được kể rất kỹ: không luyến ái, không chống đối, độc lập, không trói buộc, giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không có hạn chế.

Hai chữ “không chống đối” đáng nói riêng. Ta thường tưởng tu là phải ĐẨY cái xấu ra. Nhưng đẩy cũng là một cách dính. Ngài không luyến ái mà cũng không chống đốichỉ nhìn cho rõ.

Rồi bài kinh đi lên chín tầng theo đúng khuôn mẫu ấy: bốn Thiền sắc giới; rồi Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ; sau cùng là Diệt thọ tưởng định.

Có một chi tiết kỹ thuật rất hay ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tới tầng ấy, ngài không quán ngay trong định — mà với chánh niệm XUẤT khỏi định rồi mới quán các pháp đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại.

Chi tiết ấy nói lên rằng có chỗ quá vi tế để soi ngay tại chỗ. Phải bước ra rồi mới nhìn lại được. Điều này rất đúng cả trong đời thường: đang trong cơn thì khó thấy; ra khỏi cơn rồi nhìn lại thì thấy rõ.

Nhưng điểm then chốt của cả bài kinh là một câu lặp lại ở MỖI tầng: sau khi quán xong, Tôn giả biết: “Còn có sự giải thoát hơn thế nữa. Đối với Sāriputta, còn có nhiều việc phải làm hơn nữa.”

Xin đọc chậm câu ấy. Đây là bậc trí tuệ đệ nhất, đã chứng tới các tầng thiền rất cao — mà vẫn nói “còn nhiều việc phải làm hơn nữa”. Không một lần tự khen.

Chỉ tới một chỗ duy nhất câu ấy mới đổi. Sau khi vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng Diệt thọ tưởng, thấy với trí tuệ và các lậu hoặc được đoạn tận — bấy giờ ngài mới biết: “không có sự giải thoát nào vô thượng hơn thế nữa”.

Xin để ý một điều rất quan trọng về giáo lý ở đây: không phải nhập định là xong. Kinh ghi rõ “sau khi THẤY VỚI TRÍ TUỆ, các lậu hoặc được đoạn tận”. Định là chỗ đứng; tuệ mới là cái nhìn.

Đây cũng là điều bài kinh này bổ túc cho MN 106. MN 106 cảnh báo chấp vào cái xả; bài này cho thấy cách KHÔNG chấp: ở trong mỗi bậc, nhìn cho rõ, rồi đi tiếp.

Kết kinh, Thế Tôn xác chứng bằng những lời rất trọng: Sāriputta là người được tự tại, được cứu cánh trong Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ, Thánh giải thoát; là con chánh tông của Thế Tôn, sanh ra từ Pháp; thừa tự Chánh pháp chứ không thừa tự vật chất; và là người chơn chánh chuyển vận Pháp luân vô thượng.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em áo lam. Bài học lớn nhất ở đây không phải chín tầng thiềnphần lớn chúng ta chưa tới. Bài học là hai thói quen: tách ra mà nhìn từng thứ một, và đừng dừng lại vì hài lòng. Hai thói quen ấy dùng được ngay từ hôm nay.

  • “Phải chứng chín tầng thiền mới giải thoát.” Kinh kể lại đường của Tôn giả Sāriputta, không nói đó là con đường duy nhất. Nhiều bài kinh khác ghi các vị giải thoát mà không đủ chín tầng ấy.
  • “Định là đủ.” Kinh nói rõ “sau khi THẤY VỚI TRÍ TUỆ, các lậu hoặc được đoạn tận”. Định không tự nó đoạn lậu hoặc.
  • “Không chống đối nghĩa là mặc kệ điều xấu.” “Không chống đối” ở đây là không bị cuốn vào phản ứng, chứ không phải buông xuôi — vì ngay câu sau, ngài vẫn thấy “còn nhiều việc phải làm”.
  • Ngành Oanh. Dạy ba nhịp: “Trước không có — nay có — rồi hết.” Áp dụng khi em đang giận.
  • Ngành Thiếu. Cho các em tách một cảm xúc ra từng phần: trong lúc giận có gì? nóng mặt? nghĩ gì? muốn làm gì?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kỹ câu “còn nhiều việc phải làm hơn nữa” và tự hỏi: mình đã dừng ở đâu vì thấy đủ rồi?
  • “Bất đoạn pháp quán” nghĩa là gì?
  • Với mỗi pháp, Tôn giả biết ba thì nào?
  • Câu nào được lặp lại ở mỗi tầng thiền?
  • Điều gì mới thật sự đoạn tận các lậu hoặc?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.