G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 109
Đêm Rằm · Hỏi Cho Hết Về Năm Uẩn

Đại Kinh Mãn Nguyệt

Mahāpuṇṇama Sutta — MN 109 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Mãn Nguyệt

Một đêm trăng rằm, Thế Tôn ngồi giữa trời, chúng Tỷ-kheo vây quanh. Một vị xin phép hỏi — rồi hỏi một mạch chín câu về năm thủ uẩn, câu sau nối câu trước. Đây là bảng tóm tắt mạch lạc nhất về ngũ uẩn trong Trung Bộ, và đêm ấy sáu mươi vị được giải thoát.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 109
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Đông Viên, Lộc Mẫu Giảng đường
  • Thời điểm — ngày Bố-tát, đêm trăng tròn
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Ðại kinh Mãn nguyệt là bài kinh vấn đáp về năm thủ uẩn, được nói trong một đêm trăng rằm tại Lộc Mẫu Giảng đường. Một vị Tỷ-kheo lần lượt thưa hỏi và Thế Tôn lần lượt trả lời, tạo thành một bảng tóm tắt rất mạch lạc về giáo lý ngũ uẩn. Các câu hỏi đi theo thứ tự: (1) Có phải có năm thủ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức? (2) Năm thủ uẩn lấy gì làm căn bản? — lấy dục (chanda) làm căn bản. (3) Chấp thủ với năm thủ uẩn là một hay khác? — không phải một, cũng không phải khác; chính lòng dục lòng tham đối với năm thủ uẩn là chấp thủ. (4) Có sự sai khác trong lòng dục lòng tham không? — có, khi người ta mong "mong rằng có sắc như thế này trong tương lai". (5) Thế nào là ý nghĩa chữ uẩn? — bất cứ sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần. (6) Nhân duyên của mỗi uẩn? — bốn đại là nhân của sắc uẩn, xúc là nhân của thọ, tưởng, hành uẩn, danh sắc là nhân của thức uẩn. (7) Thế nào là thân kiến và không thân kiến? — hai mươi cách chấp ngã trên năm uẩn, và sự vắng mặt của chúng. (8) Vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của mỗi uẩn. (9) Biết thế nào, thấy thế nào để <strong>không còn mạn tùy miên rằng “Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”</strong> đối với tự thân có ý thức và đối với cả tướng ở ngoài — đây là nguyên văn bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu (SC 26); Pāli là <em>ahaṅkāra-mamaṅkāra-mānānusaya</em>, tức <strong>ngã kiến (chấp “ta”), ngã sở kiến (chấp “của ta”) và mạn tùy miên</strong> — thấy như thật với trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Phần cuối, một Tỷ-kheo khởi nghi: nếu năm uẩn là vô ngã thì nghiệp do vô ngã làm, ngã nào cảm thọ kết quả? Thế Tôn quở đó là ý nghĩ của kẻ ngu si muốn vượt qua lời dạy bậc Ðạo sư, rồi dẫn chúng Tỷ-kheo qua bài quán quen thuộc: uẩn là vô thường - khổ - biến hoại, nên không hợp lý xem là "của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi". Do quán như vậy mà yếm ly, ly tham, giải thoát. Khi kinh được nói, tâm của sáu mươi vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: đêm trăng rằm ở Lộc Mẫu Giảng đường — Thế Tôn ngồi giữa trời giữa chúng Tỷ-kheo trong ngày Bố-tát, một Tỷ-kheo đứng dậy xin phép hỏi.
  • Năm thủ uẩn và căn bản của chúng — Xác nhận có năm thủ uẩn; năm thủ uẩn lấy dục làm căn bản.
  • Chấp thủ là một hay khác năm uẩn — Không phải một, không phải khác; dục tham đối với năm thủ uẩn chính là chấp thủ.
  • Sự sai khác trong dục tham — Có sự sai khác, thấy nơi ước mong về sắc thọ tưởng hành thức trong tương lai.
  • Ý nghĩa chữ uẩn — Bất cứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào quá khứ vị lai hiện tại, nội ngoại, thô tế, liệt thắng, xa gần.
  • Nhân duyên của mỗi uẩn — Bốn đại đối với sắc uẩn; xúc đối với thọ, tưởng, hành uẩn; danh sắc đối với thức uẩn.
  • Thân kiến và không thân kiến — Kẻ vô văn phàm phu xem năm uẩn theo bốn cách chấp ngã; vị Ða văn Thánh đệ tử thì không.
  • Vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly — Lạc hỷ duyên uẩn khởi lên là vị ngọt; vô thường khổ biến hoại là nguy hiểm; nhiếp phục và đoạn diệt dục tham là xuất ly.
  • Ðoạn tận mạn tùy miên ngã và ngã sở — Thấy như thật với trí tuệ mọi uẩn: cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.
  • Nghi vấn về nghiệp và vô ngã — Một Tỷ-kheo khác thầm nghĩ: nghiệp do vô ngã làm thì ngã nào cảm thọ? Thế Tôn biết tâm và quở trách ý nghĩ ấy.
  • Bài quán vô thường - khổ - vô ngã — Hỏi đáp về năm uẩn là thường hay vô thường, khổ hay lạc, có hợp lý xem là tự ngã chăng.
  • Yếm ly, ly tham, giải thoát và kết kinh — Vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly, ly tham, giải thoát và tự biết đã giải thoát; sáu mươi Tỷ-kheo được giải thoát khỏi lậu hoặc.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 109.5 (SC 10-11)
“ime pana, bhante, pañcupādānakkhandhā kiṁmūlakā”ti?
“Ime kho, bhikkhu, pañcupādānakkhandhā chandamūlakā”ti.
—Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này, lấy gì làm căn bản?
—Này Tỷ-kheo, năm thủ uẩn này lấy dục làm căn bản.
“But sir, what is the root of these five grasping aggregates?” “These five grasping aggregates are rooted in desire.”
MN 109.6 (SC 13)
“Na kho, bhikkhu, taṁyeva upādānaṁ te pañcupādānakkhandhā, nāpi aññatra pañcahupādānakkhandhehi upādānaṁ.
Yo kho, bhikkhu, pañcasu upādānakkhandhesu chandarāgo taṁ tattha upādānan”ti.
—Này Tỷ-kheo, không phải chính chấp thủ ấy là năm thủ uẩn, cũng không phải ngoài năm thủ uẩn có sự chấp thủ. Này Tỷ-kheo, khi nào có lòng dục, lòng tham đối với năm thủ uẩn, ở đấy chính là chấp thủ.
“Neither. The desire and greed for the five grasping aggregates is the grasping there.”
MN 109.9 (SC 19)
“Cattāro kho, bhikkhu, mahābhūtā hetu, cattāro mahābhūtā paccayo rūpakkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu, phasso paccayo vedanākkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu, phasso paccayo saññākkhandhassa paññāpanāya.
Phasso hetu, phasso paccayo saṅkhārakkhandhassa paññāpanāya.
Nāmarūpaṁ kho, bhikkhu, hetu, nāmarūpaṁ paccayo viññāṇakkhandhassa paññāpanāyā”ti.
—Bốn đại là nhân, này Tỷ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là tưởng uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là hành uẩn. Danh sắc là nhân, này Tỷ-kheo, danh sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn.
“The four principal states are the reason why the aggregate of form is found. Contact is the reason why the aggregates of feeling, perception, and choices are found. Name and form are the reasons why the aggregate of consciousness is found.”
MN 109.12 (SC 25)
“Yaṁ kho, bhikkhu, rūpaṁ paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ, ayaṁ rūpe assādo.
Yaṁ rūpaṁ aniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, ayaṁ rūpe ādīnavo.
Yo rūpe chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ, idaṁ rūpe nissaraṇaṁ.
—Này Tỷ-kheo, lạc hỷ gì duyên sắc khởi lên, như vậy là vị ngọt của sắc. Cái gì vô thường, khổ, bị biến hoại trong sắc như vậy là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối với sắc, sự đoạn diệt dục tham, như vậy là sự xuất ly của sắc.
“The pleasure and happiness that arise from form: this is its gratification. That form is impermanent, suffering, and perishable: this is its drawback. Removing and giving up desire and greed for form: this is its escape.
MN 109.13 (SC 27)
“Yaṁ kiñci, bhikkhu, rūpaṁ—atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā—sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passati.
—Này Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
“One truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
MN 109.14 (SC 28-30)
“iti kira, bho, rūpaṁ anattā, vedanā anattā, saññā anattā, saṅkhārā anattā, viññāṇaṁ anattā;
anattakatāni kammāni kamattānaṁ phusissantī”ti?
“ṭhānaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, vijjati yaṁ idhekacco moghapuriso avidvā avijjāgato taṇhādhipateyyena cetasā satthu sāsanaṁ atidhāvitabbaṁ maññeyya:
“Nếu được nói rằng, chư Tôn giả, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã; như vậy những hành động do vô ngã làm đã được ngã nào cảm thọ kết quả?”
—Này các Tỷ-kheo, sự kiện này xảy ra, khi ở đây có kẻ ngu si, vô tri, vô minh, với tâm bị tham dục chi phối, lại nghĩ cần phải vượt qua lời dạy của bậc Ðạo sư với câu hỏi …
“So it seems, worthy sir, that form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. Then how will the deeds done by not-self affect the self?” “It’s possible that some futile person here—unknowing and ignorant, his mind dominated by craving—thinks he can overstep the Teacher’s instructions. He thinks:
MN 109.15 (SC 31-36)
“Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
—Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn.
—Những gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Những gì vô thường, khổ, bị biến hoại, có hợp lý chăng khi xem: “Cái này của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”
—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
“What do you think, monks? Is form permanent or impermanent?” “Impermanent, sir.” “But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?” “Suffering, sir.” “But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?” “No, sir.”
MN 109.17-18 (SC 44-46)
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati;
nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm ly đối với hành, yếm ly đối với thức.
Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, vị ấy biết được vị ấy đã giải thoát. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm. Từ nay không còn trở lại đời sống thế này nữa”.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pañcupādānakkhandhānăm thủ uẩnsắc, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn
chandadục (lòng ham muốn)năm thủ uẩn lấy dục làm căn bản (chandamūlakā)
chandarāgadục tham, lòng dục lòng thamchính chỗ này là chấp thủ
upādānachấp thủ
sakkāyadiṭṭhithân kiến
cattāro mahābhūtābốn đạinhân duyên của sắc uẩn
phassaxúcnhân duyên của thọ, tưởng, hành uẩn
nāmarūpadanh sắcnhân duyên của thức uẩn
assādavị ngọt
ādīnavasự nguy hiểm
nissaraṇasự xuất ly
anattāvô ngã
anicca / dukkha / vipariṇāmadhammavô thường / khổ / bị biến hoại
ahaṅkāra-mamaṅkāra-mānānusayamạn tùy miên chấp ngã và ngã sở
nibbidā / virāga / vimuttiyếm ly / ly tham / giải thoát
āsavalậu hoặc
uposathangày Bố-tát

Khung cảnh bài kinh rất đẹp và nên kể cho các em nghe. Đêm rằm, Thế Tôn ngồi giữa trời, chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Một vị đứng dậy xin phép hỏi trước khi hỏi.

Chi tiết “xin phép” nhỏ mà đáng học. Vị ấy sắp hỏi một loạt câu khó, và vẫn xin phép trước. Hỏi nhiều không phải là vô lễhỏi mà quên phép mới là.

Chín câu hỏi nối nhau rất mạch lạc, xin điểm qua để bác dễ theo. Một: có phải có năm thủ uẩn — sắc, thọ, tưởng, hành, thức? Hai: năm thủ uẩn lấy gì làm căn bản?lấy DỤC (chanda) làm căn bản.

Câu ba rất tinh tế: chấp thủ với năm thủ uẩn là một hay khác? Đáp: không phải một, cũng không phải khácchính lòng dục lòng tham đối với năm thủ uẩn mới là chấp thủ.

Xin dừng ở câu này vì nó gỡ được một hiểu lầm rất phổ biến. Nhiều người tưởng tu là phải bỏ thân, bỏ cảm thọ. Kinh nói không phải: uẩn không phải là kẻ có tộiLÒNG THAM ĐỐI VỚI chúng mới là chỗ trói.

Câu bốn: có sự sai khác trong lòng dục lòng tham không?, thấy rõ khi người ta mong “mong rằng có sắc như thế này trong tương lai”.

Câu năm: thế nào là nghĩa chữ “uẩn”?bất cứ sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại; nội hay ngoại; thô hay tế; liệt hay thắng; xa hay gần. Nghĩa là uẩn là một ĐỐNG GOM, không phải một vật.

Câu sáu về nhân duyên của mỗi uẩn: bốn đại là nhân của sắc uẩn; XÚC là nhân của thọ, tưởng, hành; danh sắc là nhân của thức uẩn.

Chỗ “xúc là nhân của thọ” rất dùng được trong đời sống. Cảm thọ không tự nhiên rơi xuốngnó khởi lên khi có tiếp xúc. Cho nên giữ gìn chỗ tiếp xúcmắt thấy gì, tai nghe gì, tay cầm điện thoại lúc nàolà giữ ngay từ gốc.

Câu bảy về thân kiến: kẻ vô văn phàm phu xem năm uẩn theo bốn cách chấp ngã (thành hai mươi cách); vị Đa văn Thánh đệ tử thì không.

Câu tám là bộ ba rất đáng nhớ: VỊ NGỌT, SỰ NGUY HIỂM, SỰ XUẤT LY của mỗi uẩn. Lạc hỷ do uẩn khởi lên là vị ngọt; vô thường khổ biến hoại là nguy hiểm; nhiếp phục và đoạn diệt dục tham là xuất ly.

Xin thưa vì sao bộ ba này rất công bằng. Đạo Phật công nhận có VỊ NGỌT thậtkhông giả vờ rằng đời chẳng có gì vui. Rồi mới nói nguy hiểm, rồi mới chỉ lối ra. Ai chối vị ngọt thì không thuyết phục được ai.

Câu chín, và đây là câu quan trọng nhất: biết thế nào, thấy thế nào để không còn NGÃ KIẾN (chấp “ta”), NGÃ SỞ KIẾN (chấp “của ta”) và MẠN TÙY MIÊN? Đáp: thấy như thật với trí tuệ“Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”

Phần cuối bài kinh mới là chỗ cảm động nhất, và nó rất người. Một Tỷ-kheo khác không dám hỏi ra miệng, chỉ thầm nghĩ trong lòng: nếu năm uẩn là vô ngã thì nghiệp do vô ngã làm, cái ngã nào chịu quả?

Xin thưa đây là câu hỏi hay nhất mà người học Phật nào cũng từng nghĩ tới. Nghĩ như vậy không phải là kém — nó cho thấy vị ấy đang thật sự suy nghĩ, không tin suông.

Thế Tôn biết được tâm ấy và quở: đó là ý nghĩ của kẻ ngu si muốn vượt qua lời dạy bậc Đạo sư.

Nhưng xin để ý Ngài không dừng ở lời quở. Ngài dẫn ngay cả chúng qua bài quán: uẩn là vô thường không?vô thường. Cái vô thường là khổ hay lạc?khổ. Vậy có hợp lý xem là “của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi” chăng?không.

Đây là cách trả lời rất đáng học. Câu hỏi “ai chịu quả” vốn đã cài sẵn một cái “ai” trong đó. Cho nên Ngài không trả lời thẳng câu ấy — Ngài đưa người hỏi tới chỗ tự thấy rằng câu hỏi đã đặt sai chỗ.

Và kết cục của đêm rằm ấy: tâm của sáu mươi vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

Xin thưa một điều an ủi để khép lại. Người thầm nghi ấy bị quở giữa đại chúng — nhưng bài quán theo sau lời quở đã độ cho sáu mươi vị. Nỗi nghi của một người thành cửa vào cho rất nhiều người.

  • “Vô ngã nghĩa là không có gì cả.” Kinh vẫn nói có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vẫn nói có nghiệp và quả. Điều bị bác là một cái “tôi” cố định làm chủ đằng sau.
  • “Tu là phải ghét bỏ thân này.” Kinh nói chấp thủ KHÔNG phải là uẩn, mà là lòng dục lòng tham ĐỐI VỚI uẩn. Ghét thân cũng vẫn là dính vào thân.
  • “Ta là người làm” — và một lời đính chính của chúng tôi. Bản đăng trước của trang này có ghi rằng cụm ấy là do bản nháp dịch sai. ĐIỀU ĐÓ SAI, và là nói oan cho bản dịch. Chúng tôi đã tải lại bản Hoà thượng Thích Minh Châu và đối chiếu: nguyên văn SC 26 đúng là “không có mạn tùy miên rằng: Ta là người làm, sở thuộc của ta là người làm”. Điều đáng nói chỉ là Pāli ahaṅkāra-mamaṅkāra-mānānusaya sát nghĩa hơn là “ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tùy miên” — Hoà thượng dịch thoát. Chúng tôi đã trả lại nguyên văn.
  • Ngành Oanh. Dạy một câu duy nhất: “Cái này không phải của em.” Thử với một món đồ chơi các em thích.
  • Ngành Thiếu. Lấy bộ ba vị ngọt — nguy hiểm — lối ra mà xét một thứ các em mê (trò chơi, điện thoại).
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kỹ câu hỏi thầm “ai chịu quả” và bàn: vì sao Thế Tôn không trả lời thẳng?
  • Năm thủ uẩn lấy gì làm căn bản?
  • Chấp thủ với năm uẩn là một hay khác?
  • Bộ ba vị ngọt — nguy hiểm — xuất ly nghĩa là gì?
  • Vì sao câu hỏi “ngã nào cảm thọ kết quả” bị quở?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.