G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 108
Phật Mất Rồi · Ai Là Người Kế Vị?

Kinh Gopaka Moggallāna

Gopakamoggallāna Sutta — MN 108 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Gopaka Moggallāna

Đức Phật vừa nhập diệt. Một vị đại thần quen việc triều đình hỏi Tôn giả Ānanda ba câu rất thẳng: Phật có chỉ định ai kế vị không? Chúng Tăng có bầu ai không? Vậy không có người đứng đầu thì lấy gì mà hoà hợp? Câu trả lời của Tôn giả định hình cả Phật giáo về sau.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 108
  • Thời điểmsau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn không bao lâu
  • Nơi thuyết — Rājagaha, Trúc Lâm
  • Người giảng — Tôn giả Ānanda

Đây là bài kinh quan trọng bậc nhất về câu hỏi: sau khi Đức Phật nhập diệt, Tăng đoàn nương tựa vào đâu và lấy gì làm nguyên tắc hòa hợp? Bà-la-môn Gopaka Moggallāna hỏi Tôn giả Ānanda: có Tỷ-kheo nào thành tựu trọn vẹn tất cả các pháp mà Đức Phật đã thành tựu không? Tôn giả Ānanda trả lời dứt khoát: không có. Vì Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, là bậc hiểu đạo, biết đạo, thiện xảo về đạo; còn các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, thành tựu về sau. Nghĩa là: đệ tử có thể đi trọn con đường, nhưng địa vị người mở đường thì chỉ một mình Đức Phật. Kế đó, đại thần Vassakāra — người quen với lối tổ chức thế gian, quen nghĩ phải có người kế vị — hỏi ba câu: Đức Phật có chỉ định ai làm chỗ nương tựa không? Chúng Tăng có bầu ai không? Vậy không có chỗ nương tựa thì lấy gì mà hòa hợp? Tôn giả Ānanda đáp: không có ai được Đức Phật chỉ định, cũng không có ai được chúng Tăng bầu ra; nhưng Tăng đoàn không phải không có chỗ nương tựa — "Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi". Cụ thể là: Thế Tôn đã thi thiết học pháp, đã tuyên bố giới bổn Pātimokkha; trong ngày Bố-tát, các Tỷ-kheo cùng cư trú một thôn điền đều hội họp lại, tụng giới, ai có phạm thì được xử theo đúng Pháp. Câu then chốt: "không phải các Tôn giả xử sự chúng tôi, chính pháp xử sự chúng tôi." Tuy không có người kế vị, Tăng đoàn vẫn có người đáng cung kính. Tôn giả Ānanda nêu mười khả hỷ pháp (dasa pasādanīyā dhammā) do Thế Tôn tuyên bố: giới hạnh, đa văn, biết đủ, chứng bốn Thiền, thần thông, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng minh, thiên nhãn minh, và lậu tận. Ai đầy đủ mười pháp ấy thì được cung kính, tôn trọng, nương tựa — nương theo phẩm chất, không nương theo chức vị. Phần cuối, Vassakāra khen "Sa-môn Gotama tán thán tất cả Thiền định". Tôn giả Ānanda chỉnh lại: Thế Tôn không tán thán mọi thứ thiền. Thứ thiền do năm triền cái chi phối thì Ngài không tán thán; bốn Thiền do ly dục sanh, do định sanh, xả niệm thanh tịnh, thì Ngài tán thán. Vassakāra hoan hỷ ra về.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi (đoạn 1-4) — Sau khi Thế Tôn thị tịch không bao lâu, Tôn giả Ānanda trú ở Rājagaha, Veluvana. Vua Ajātasattu cho xây kiên cố thành Rājagaha. Ānanda đến chỗ làm việc của Bà-la-môn Gopaka Moggallāna và được mời ngồi.
  • Câu hỏi thứ nhất: có ai bằng Đức Phật không? (đoạn 5) — Gopaka Moggallāna hỏi có Tỷ-kheo nào thành tựu trọn vẹn tất cả các pháp mà Thế Tôn đã thành tựu. Ānanda đáp: không có, vì Thế Tôn là bậc mở đường, còn đệ tử là những vị hành đạo và tùy hành, thành tựu về sau.
  • Vassakāra đến, câu chuyện được thuật lại (đoạn 6) — Đại thần Vassakāra nước Magadha đi thị sát công sự, đến ngồi một bên và hỏi câu chuyện đang bị gián đoạn. Ānanda thuật lại.
  • Ba câu hỏi về chỗ nương tựa (đoạn 7-9) — Vassakāra hỏi: Đức Phật có chỉ định Tỷ-kheo nào làm chỗ nương tựa không? Chúng Tăng và các Trưởng lão có sắp đặt ai không? Nếu không có chỗ nương tựa thì do nhân gì mà hòa hợp? Ānanda đáp không có ai được chỉ định, nhưng Pháp là chỗ nương tựa.
  • Giải thích: Pātimokkha và Bố-tát (đoạn 10) — Thế Tôn đã thi thiết học pháp, tuyên bố giới bổn Pātimokkha. Trong ngày Bố-tát, tất cả Tỷ-kheo cùng cư trú một thôn điền hội họp lại, hỏi nhau, ai phạm tội thì được xử đúng Pháp: chính Pháp xử sự, không phải người xử sự.
  • Câu hỏi về vị được cung kính (đoạn 11-12) — Vassakāra hỏi có Tỷ-kheo nào hiện được quý vị cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường và nương tựa, rồi hỏi ý nghĩa lời đáp cần hiểu thế nào.
  • Mười khả hỷ pháp (đoạn 13-23) — Ānanda nêu mười pháp khả hỷ do Thế Tôn tuyên bố: (1) giới hạnh, chế ngự theo Pātimokkha; (2) đa văn; (3) biết đủ với bốn vật dụng; (4) chứng bốn Thiền không khó khăn; (5) các loại thần thông; (6) thiên nhĩ thông; (7) tha tâm thông; (8) túc mạng thông; (9) thiên nhãn thông; (10) lậu tận, tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Ai đầy đủ mười pháp ấy thì được cung kính và nương tựa.
  • Lời của Vassakāra với tướng quân Upananda (đoạn 24) — Vassakāra hỏi tướng quân Upananda và cùng xác nhận rằng các vị ấy cung kính những ai đáng cung kính.
  • Về Veluvana và lời khen Thiền định (đoạn 25) — Vassakāra hỏi chỗ trú, khen Veluvana là chỗ khả ái thích hợp Thiền tịnh, rồi kể lại việc Tôn giả Gotama ở Vesālī, Ðại Lâm, Trùng Các giảng đường, đã dùng nhiều phương tiện nói về Thiền định luận và cho rằng Ngài tán thán tất cả Thiền định.
  • Thiền nào không được tán thán, thiền nào được tán thán (đoạn 26-27) — Ānanda chỉnh lại: Thế Tôn không tán thán thứ thiền của người bị dục tham, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi hoặc chi phối; Ngài tán thán bốn Thiền, từ sơ Thiền ly dục sanh cho đến Thiền thứ tư xả niệm thanh tịnh.
  • Kết thúc (đoạn 28-29) — Vassakāra hoan hỷ tín thọ, xin cáo từ vì nhiều phận sự. Sau khi Vassakāra đi, Gopaka Moggallāna thưa rằng Ānanda chưa trả lời câu hỏi của mình; Ānanda nhắc lại lời đã đáp lúc đầu.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 108.5
Natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi tehi dhammehi sabbenasabbaṁ sabbathāsabbaṁ samannāgato yehi dhammehi samannāgato so bhagavā ahosi arahaṁ sammāsambuddho. So hi, brāhmaṇa, bhagavā anuppannassa maggassa uppādetā, asañjātassa maggassa sañjanetā, anakkhātassa maggassa akkhātā, maggaññū, maggavidū, maggakovido; maggānugā ca pana etarahi sāvakā viharanti pacchā samannāgatā”ti.
—Không thể có một Tỷ-kheo, này Bà-la-môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo. Và nay các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, và sẽ thành tựu (những pháp ấy) về sau.
“No, brahmin, there is not. For the Blessed One gave rise to the unarisen path, gave birth to the unborn path, and explained the unexplained path. He is the knower of the path, the discoverer of the path, the expert on the path. And now the disciples live following the path; they acquire it later.”
MN 108.7
Natthi kho, brāhmaṇa, ekabhikkhupi tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ṭhapito: ‘ayaṁ vo mamaccayena paṭisaraṇaṁ bhavissatī’ti, yaṁ mayaṁ etarahi paṭipādeyyāmā”ti.
—Này Bà-la-môn, không có một vị Tỷ-kheo nào được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sắp đặt: “Vị này, sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các Ông, và các Ông sẽ y chỉ vị này”.
“No, there is not.”
MN 108.9
Na kho mayaṁ, brāhmaṇa, appaṭisaraṇā; sappaṭisaraṇā mayaṁ, brāhmaṇa; dhammappaṭisaraṇā”ti.
—Này Bà-la-môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Này Bà-la-môn, chúng tôi có chỗ nương tựa, và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi.
“We don’t lack a refuge, brahmin, we have a refuge. The teaching is our refuge.”
MN 108.10
Atthi kho, brāhmaṇa, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena bhikkhūnaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ, pātimokkhaṁ uddiṭṭhaṁ. Te mayaṁ tadahuposathe yāvatikā ekaṁ gāmakhettaṁ upanissāya viharāma te sabbe ekajjhaṁ sannipatāma; sannipatitvā yassa taṁ pavattati taṁ ajjhesāma. Tasmiñce bhaññamāne hoti bhikkhussa āpatti hoti vītikkamo taṁ mayaṁ yathādhammaṁ yathānusiṭṭhaṁ kāremāti. Na kira no bhavanto kārenti; dhammo no kāreti”.
—Này Bà-la-môn, Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã thi thiết học pháp, đã tuyên bố giới bổn Pātimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa) cho các Tỷ-kheo. Trong những ngày Bố-tát (Uposatha) chúng tôi cận trú ở chung một thôn điền, tất cả chúng tôi hội họp với nhau tại một chỗ; sau khi tụ họp, chúng tôi hỏi những gì đã xảy ra cho mỗi một người. Nếu trong khi hỏi nhau như vậy, có Tỷ-kheo phạm tội, phạm giới, chúng tôi bảo vị ấy làm đúng Pháp, đúng lời dạy. Thật vậy, không phải các Tôn giả xử sự chúng tôi, chính pháp xử sự chúng tôi.
“The Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha laid down training rules and recited the monastic code for the mendicants. On the day of the sabbath all of us who live in dependence on one village district gather together as one. We invite one who transmits the code to recite it. If anyone remembers an offense or transgression while they’re reciting, we make them act in line with the teaching and in line with the instructions. It’s not the good fellows who make us act, it’s the teaching that makes us act.”
MN 108.13
Atthi kho, brāhmaṇa, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dasa pasādanīyā dhammā akkhātā. Yasmiṁ no ime dhammā saṁvijjanti taṁ mayaṁ etarahi sakkaroma garuṁ karoma mānema pūjema; sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharāma. Katame dasa?
—Này Bà-la-môn, có mười khả hỷ pháp được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố. Giữa chúng tôi, vị nào có đầy đủ mười pháp này, chúng tôi nay cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường vị ấy; sau khi cung kính, tôn trọng, chúng tôi an trú, nương tựa vị ấy. Thế nào là mười?
“There are ten inspiring things explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. We honor anyone in whom these things are found. What ten?
MN 108.14
Idha, brāhmaṇa, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, sau khi thọ trì, học tập trong các học pháp.
It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
MN 108.26
Na ca kho, brāhmaṇa, so bhagavā sabbaṁ jhānaṁ vaṇṇesi, napi so bhagavā sabbaṁ jhānaṁ na vaṇṇesīti. Kathaṁ rūpañca, brāhmaṇa, so bhagavā jhānaṁ na vaṇṇesi? Idha, brāhmaṇa, ekacco kāmarāgapariyuṭṭhitena cetasā viharati kāmarāgaparetena, uppannassa ca kāmarāgassa nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti; so kāmarāgaṁyeva antaraṁ karitvā jhāyati pajjhāyati nijjhāyati apajjhāyati.
—Này Bà-la-môn, Thế Tôn ấy không tán thán tất cả Thiền định, không không tán thán tất cả Thiền định. Và này Bà-la-môn, loại Thiền định nào Thế Tôn ấy không tán thán? Ở đây, này Bà-la-môn, một số vị sống với tâm thấm nhuần dục tham, bị dục tham chi phối, và không như thật biết sự giải thoát khỏi dục tham đã được khởi lên. Vị ấy lấy dục tham làm đối tượng tối hậu, Thiền tu, Thiền tư, Thiền định, Thiền nhập.
“No, brahmin, the Buddha did not praise all kinds of meditation, nor did he dispraise all kinds of meditation. And what kind of meditation did he not praise? It’s when someone’s heart is overcome and mired in sensual desire, and they don’t truly understand the escape from sensual desire that has arisen. Hiding sensual desire within, they meditate and concentrate and contemplate and ruminate.
MN 108.27
Kathaṁ rūpañca, brāhmaṇa, so bhagavā jhānaṁ vaṇṇesi? Idha, brāhmaṇa, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ … tatiyaṁ jhānaṁ … catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Evarūpaṁ kho, brāhmaṇa, so bhagavā jhānaṁ vaṇṇesī”ti.
Và này Bà-la-môn, loại Thiền định nào Thế Tôn ấy tán thán? Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, loại Thiền như vậy, Thế Tôn ấy tán thán.
And what kind of meditation did he praise? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. And with the fading away of rapture, they enter and remain in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, “Equanimous and mindful, one meditates in bliss.” With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, they enter and remain in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. The Buddha praised this kind of meditation.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
paṭisaraṇachỗ nương tựaappaṭisaraṇa = không có chỗ nương tựa; dhammappaṭisaraṇa = lấy Pháp làm chỗ nương tựa.
pātimokkhagiới bổn Ba-la-đề-mộc-xoaHọc pháp do Thế Tôn thi thiết, được tụng trong ngày Bố-tát.
uposathangày Bố-tátNgày chúng Tăng trong cùng một thôn điền hội họp tụng giới.
dasa pasādanīyā dhammāmười khả hỷ phápMười phẩm chất khiến một vị Tỷ-kheo đáng được cung kính, nương tựa.
sāmaggīsự hòa hợpVassakāra hỏi do nhân gì mà chúng Tăng hòa hợp khi không có người kế vị.
jhānaThiền, Thiền định
kāmarāgadục tham
byāpādasân hận
thinamiddhahôn trầm thụy miên
uddhaccakukkuccatrạo hối
vicikicchānghi hoặc
cetovimutti, paññāvimuttitâm giải thoát, tuệ giải thoát
āsavānaṁ khayāsự đoạn diệt các lậu hoặc
bahussutađa văn, nghe nhiều
santuṭṭhabiết đủ

Xin thưa hoàn cảnh trước, vì hoàn cảnh làm nên sức nặng của bài kinh. Đức Phật vừa nhập diệt. Ngoài thành, vua Ajātasattu đang cho xây kiên cố thành Rājagaha vì nghi ngờ nước láng giềng. Cả một thế giới đang lo phòng thủ.

Câu hỏi đầu tiên đến từ Bà-la-môn Gopaka Moggallāna: có Tỷ-kheo nào thành tựu trọn vẹn tất cả các pháp mà Đức Phật đã thành tựu không?

Tôn giả Ānanda đáp dứt khoát: KHÔNG CÓ. Và ngài nói rõ vì sao: Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa từng hiện khởi, là bậc hiểu đạo, biết đạo, thiện xảo về đạo; còn các đệ tử là những vị sống hành đạo và tùy hành, thành tựu về sau.

Xin để ý sự thành thật này. Đây là lúc dễ nói quá lên nhấtthầy mới mất, người ngoài đang dò xét. Tôn giả vẫn nói không có. Không ai bằng Phật.

Nhưng câu ấy không hạ thấp các đệ tử. Ý là: đệ tử có thể đi TRỌN con đường, nhưng địa vị người MỞ đường thì chỉ một. Người sau vẫn tới đích đượcchỉ không phải là người vạch lối.

Rồi đại thần Vassakāra tới, và ông hỏi ba câu rất “đời”. Ông là người của triều đình, quen nghĩ tổ chức nào cũng phải có người đứng đầu.

Câu một: Đức Phật có chỉ định vị nào làm chỗ nương tựa không?Không có. Câu hai: chúng Tăng và các Trưởng lão có bầu ai không?Cũng không.

Câu ba mới là câu thật của ông: vậy không có chỗ nương tựa thì do nhân gì mà hoà hợp? Trong đầu ông, một đoàn thể không có người đứng đầu thì phải tan.

Và câu trả lời của Tôn giả Ānanda là câu định hình cả Phật giáo về sau: chúng tôi KHÔNG phải không có chỗ nương tựa“Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi.”

Rồi ngài nói rất cụ thể, không nói suông. Thế Tôn đã thi thiết học pháp, đã tuyên bố giới bổn Pātimokkha. Trong ngày Bố-tát, tất cả Tỷ-kheo cùng cư trú một thôn điền đều hội họp lại, tụng giới, ai có phạm thì được xử theo đúng Pháp.

Và câu then chốt, xin bác đọc chậm: “không phải các Tôn giả xử sự chúng tôi, chính PHÁP xử sự chúng tôi.”

Xin thưa vì sao câu này lớn đến vậy. Nó nói rằng quyền lực trong Tăng đoàn không nằm ở người, mà nằm ở một điều đã được nói ra trước, ai cũng biết, ai cũng tụng. Người đứng đầu có thể thiên vị; một điều luật đã tụng chung thì khó thiên vị hơn nhiều.

Nhưng Tôn giả không dừng ở đó, và đây là chỗ rất cân bằng. Không có người kế vị, nhưng vẫn có người đáng cung kính. Ngài nêu mười khả hỷ pháp do chính Thế Tôn tuyên bố.

Mười pháp ấy là: giới hạnh, đa văn, biết đủ, chứng bốn Thiền không khó khăn, các thần thông, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng minh, thiên nhãn minh, và lậu tận.

Xin để ý ba pháp đầu — chúng ở trong tầm tất cả chúng ta: giữ giới, chịu học, biết đủ. Bảy pháp sau là chuyện của bậc chứng. Nghĩa là người đáng kính bắt đầu từ ba điều rất bình thường.

Và nguyên tắc rút ra rất rõ: nương theo PHẨM CHẤT, không nương theo CHỨC VỊ. Ai có mười pháp ấy thì được cung kínhkhông cần ai bổ nhiệm.

Phần cuối là một chi tiết nhỏ mà rất đẹp về sự chính xác. Vassakāra khen: “Sa-môn Gotama tán thán TẤT CẢ Thiền định.” Tôn giả Ānanda chỉnh lại ngay: không phải vậy.

Thứ thiền do năm triền cái chi phốidục tham, sân hận, hôn trầm, trạo hối, nghi hoặc — thì Thế Tôn KHÔNG tán thán. Bốn Thiền do ly dục sanh, do định sanh, xả niệm thanh tịnh thì Ngài tán thán.

Chi tiết này đáng học riêng. Đó là một lời KHEN, và Tôn giả vẫn chỉnh. Vì khen sai vẫn là nói sai — và một lời khen quá mức về sau sẽ thành hiểu lầm.

Xin thưa lời cuối, vì bài kinh này rất gần với Gia Đình Phật Tử. Đoàn thể chúng ta rồi cũng có lúc đổi người đứng đầu. Bài kinh cho ba điều: chỗ nương là Pháp và điều lệ đã nói ra trước, không phải một người; vẫn kính người xứng đáng, nhưng kính vì phẩm chất; và ba phẩm chất đầu tiên — giữ giới, chịu học, biết đủ — thì ai cũng làm được.

  • “Vậy Phật giáo không cần thầy.” Kinh nêu hẳn mười pháp khả hỷdạy cung kính, tôn trọng, nương tựa người có các pháp ấy. Cái không có là chức vị kế vị, không phải sự kính trọng.
  • “Ānanda hạ thấp các đệ tử khi nói không ai bằng Phật.” Ngài phân biệt người MỞ đường với người ĐI trọn đường. Đệ tử vẫn tới đích được.
  • Một lỗi của chúng tôi, xin thưa rõ chứ không sửa thầm. Bản nháp trang này từng ghi rằng bản dịch tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato “rút gọn” đoạn bốn Thiền. ĐIỀU ĐÓ SAI. Chúng tôi đã tải lại và kiểm từng đoạn: bản tiếng Anh chép ĐỦ Thiền thứ ba (27.4) và thứ tư (27.5); chỗ rút gọn là ở bản Pāli Mahāsaṅgīti. Chính chúng tôi ghép thiếu, nay đã chép đủ.
  • Ngành Oanh. Hỏi: “Khi anh chị Trưởng vắng, các em có giữ đúng nội quy không?” Rồi kể chuyện “chính Pháp xử sự chúng tôi”.
  • Ngành Thiếu. Học ba pháp khả hỷ đầugiữ giới, chịu học, biết đủ — và tự chấm mình.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: đoàn mình đang nương vào một NGƯỜI hay nương vào ĐIỀU LỆ đã nói ra trước? Và đọc lại chuyện Ānanda chỉnh cả một lời khen.
  • Đức Phật có chỉ định người kế vị không?
  • Vậy Tăng đoàn nương vào đâu để hoà hợp?
  • Ba pháp khả hỷ đầu tiên là gì?
  • Vì sao Tôn giả Ānanda chỉnh lại một lời khen?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.