G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 106
Chấp Cả Vào Cái Xả Cũng Là Chấp

Kinh Bất Động Lợi Ích

Āneñjasappāya Sutta — MN 106 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Bất Động Lợi Ích

Bài kinh dẫn người tu lên từng bậc rất caoBất động, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi Tôn giả Ānanda hỏi một câu rất hay: tới đó là xong chưa? Thế Tôn đáp: có người xong, có người không — và chỗ khác nhau nằm ở một điều rất nhỏ.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 106
  • Nơi thuyết — Kammāsadhamma, xứ Kuru
  • Nghĩa tênāneñja-sappāya: “thích hợp với Bất động”
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh này Thế Tôn dạy tại xứ Kuru, mở đầu bằng lời cảnh tỉnh: các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối; các dục và các dục tưởng, dù hiện tại hay tương lai, đều thuộc lãnh vực của ma, là chỗ dinh dưỡng và chỗ ăn uống của ma. Chính chúng làm khởi lên tham dục, sân hận, khích động, và tác thành chướng ngại cho vị Thánh đệ tử đang học tập. Từ đó, Thế Tôn chỉ ra một lộ trình đi lên từng bậc. Trước hết là ba cách hành đạo đưa đến "lợi ích Bất động" (āneñja): (1) an trú với tâm quảng đại, đại hành, chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ý, khiến tâm không hạn hẹp mà trở thành vô lượng, khéo tu tập; (2) quán mọi sắc pháp chỉ là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành; (3) quán cả dục lẫn sắc, cả dục tưởng lẫn sắc tưởng đều vô thường, mà cái gì vô thường thì không đáng hoan hỷ, không đáng hoan nghênh, không đáng chấp trước. Kế đến là ba cách hành đạo đưa đến Vô sở hữu xứ: quán chỗ tất cả tưởng đoạn diệt không dư tàn là tịch tịnh, thù diệu; quán "Trống không là tự ngã hay ngã này sở hữu" khi ngồi trong rừng hoặc dưới gốc cây; và quán "Ta không có bất cứ chỗ nào… và sở thuộc của ta cũng không có bất cứ chỗ nào". Rồi đến cách hành đạo đưa đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Phần sau, Tôn giả Ānanda hỏi: vị Tỷ-kheo tu tập được xả như vậy có chứng cứu cánh Niết-bàn không? Thế Tôn đáp: có người chứng, có người không. Khác nhau ở chỗ vị ấy có hoan hỷ, chấp trước cái xả ấy hay không. Nếu chấp trước thì thức lệ thuộc và thủ trước Phi tưởng phi phi tưởng xứ — "thủ trước tối thượng" — nên không chứng Niết-bàn; nếu không chấp trước thì chứng Niết-bàn. Cuối cùng, Thế Tôn dạy Thánh giải thoát là thấy tất cả các tưởng ấy chỉ thuộc tự thân, còn bất tử chính là tâm giải thoát không thủ trước. Kinh kết bằng lời sách tấn quen thuộc: "Đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau."

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Mở đầu: các dục thuộc lãnh vực của ma — Thế Tôn tại Kammāsadhamma xứ Kuru dạy các Tỷ-kheo rằng các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối; các dục và dục tưởng hiện tại lẫn tương lai đều là cảnh giới của ma, làm khởi tham dục, sân hận, khích động, gây chướng ngại cho người tu học.
  • Bất động (āneñja): ba cách hành đạo — (1) an trú với tâm quảng đại, đại hành, chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ý; (2) quán mọi sắc pháp là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành; (3) quán dục, dục tưởng, sắc pháp, sắc tưởng đều vô thường, không đáng chấp trước. Mỗi cách đều kết bằng: tâm an tịnh, thành tựu Bất động ngay hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ, và thức diễn tiến có thể đạt đến Bất động sau khi thân hoại mạng chung.
  • Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatana): ba cách hành đạo — (1) quán chỗ tất cả tưởng đoạn diệt không dư tàn là tịch tịnh, thù diệu, tức là vô sở hữu; (2) đi đến khu rừng, dưới gốc cây [hay ngôi nhà trống] mà quán 'Trống không là tự ngã hay ngã này sở hữu'; (3) quán 'Ta không có bất cứ chỗ nào… và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào'.
  • Phi tưởng phi phi tưởng xứ — Quán rằng cả Bất động tưởng và Vô sở hữu xứ tưởng cũng chỉ là tưởng; chỗ các tưởng ấy đoạn diệt không dư tàn là tịch tịnh, thù diệu, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
  • Ānanda hỏi về cứu cánh Niết-bàn và sự thủ trước — Vị Tỷ-kheo được xả nhờ quán 'Nếu trước không có như vậy…'; nếu hoan hỷ và chấp trước cái xả ấy thì thức lệ thuộc, thủ trước Phi tưởng phi phi tưởng xứ — thủ trước tối thượng — nên không chứng Niết-bàn; nếu không chấp trước thì chứng cứu cánh Niết-bàn.
  • Thánh giải thoát và lời sách tấn kết kinh — Thế Tôn dạy tất cả các tưởng ấy thuộc tự thân, còn bất tử chính là tâm giải thoát không thủ trước; Ngài tổng kết các đạo lộ đã thuyết, rồi sách tấn: 'Đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền… chớ có phóng dật.' Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 106.2
“Aniccā, bhikkhave, kāmā tucchā musā mosadhammā.
Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối, thuộc ngu si tánh.
“Mendicants, sensual pleasures are impermanent, hollow, false, and deceptive.
MN 106.2
ubhayametaṁ māradheyyaṁ, mārassesa visayo, mārassesa nivāpo, mārassesa gocaro.
cả hai đều thuộc lãnh vực của ma, là cảnh giới của ma, là chỗ dinh dưỡng của ma, là chỗ ăn uống của ma.
both of these are Māra’s dominion, Māra’s domain, Māra’s lair, and Māra’s range.
MN 106.3
Yannūnāhaṁ vipulena mahaggatena cetasā vihareyyaṁ abhibhuyya lokaṁ adhiṭṭhāya manasā.
Vậy ta hãy an trú với tâm quảng đại, đại hành, sau khi chiến thắng thế giới, sau khi xác định vị trí của ý.
Why don’t I meditate with an abundant, expansive heart, having mastered the world and stabilized the mind?
MN 106.5
Yadaniccaṁ taṁ nālaṁ abhinandituṁ, nālaṁ abhivadituṁ, nālaṁ ajjhositun’ti.
Cái gì vô thường thời không đáng để được hoan hỷ, không đáng để được hoan nghênh, không đáng để được chấp trước.
And what’s impermanent is not worth approving, welcoming, or clinging to.’
MN 106.7
‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti.
Trống không là tự ngã hay ngã này sở hữu.
‘This is empty of a self or what belongs to a self.’
MN 106.8
‘nāhaṁ kvacani kassaci kiñcanatasmiṁ, na ca mama kvacani kismiñci kiñcanaṁ natthī’ti.
Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào, và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào.
‘I don’t belong to anyone anywhere! And nothing belongs to me anywhere!’
MN 106.12
Tassa taṁ upekkhaṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato na tannissitaṁ hoti viññāṇaṁ na tadupādānaṁ. Anupādāno, ānanda, bhikkhu parinibbāyatī”ti.
Do vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không thủ trước xả ấy, thức không lệ thuộc xả ấy và không thủ trước xả ấy. Không thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo chứng cứu cánh Niết-bàn.
So their consciousness doesn’t have that as support and fuel for grasping. A mendicant free of grasping becomes extinguished.”
MN 106.15
Etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni. Jhāyathānanda, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī’”ti.
Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, này Ānanda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời dạy của Ta cho Ông.
Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, Ānanda! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
āneñjaBất độngChỉ các tầng thiền vô sắc thuộc loại 'không lay động'; bản Sujato dịch 'the imperturbable'.
sappāyalợi ích, thích hợpĀneñjasappāya: hành đạo thích hợp/đưa đến lợi ích Bất động.
kāmadụckāmasaññā: dục tưởng.
saññātưởng
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ
upekkhāxả
upādānathủ, thủ trướcanupādāna: không thủ trước; upādānaseṭṭha: thủ trước tối thượng.
viññāṇathứctaṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ được HT. Minh Châu dịch là 'thức diễn tiến'.
parinibbāyatichứng cứu cánh Niết-bàn
ariyo vimokkhoThánh giải thoát
oghadòng nước mạnh (bộc lưu)'vượt thoát dòng nước mạnh' — oghassa nittharaṇā.
mahābhūtađại chủng (bốn đại)
māradheyyalãnh vực của ma
sakkāyatự thân

Xin thưa trước: đây là bài kinh về thiền định bậc cao, và không sao cả nếu bác đọc mà thấy xa. Nhưng câu chuyện của nó thì ai cũng dùng được, và con sẽ nói rõ chỗ ấy ở cuối.

Mở đầu là một lời cảnh tỉnh rất mạnh về các dục. Các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối; chúng thuộc lãnh vực của ma, là chỗ dinh dưỡng và chỗ ăn uống của ma.

Hình ảnh “chỗ ăn uống của ma” đáng để ý. Nó không nói dục là ma; nó nói dục là chỗ ma tới ăn — nghĩa là chỗ ma có thể vào được.

Rồi Thế Tôn chỉ ra ba cách hành đạo đưa đến “lợi ích Bất động”. Một: an trú với tâm quảng đại, đại hành, khiến tâm không hạn hẹp mà trở thành vô lượng. Hai: quán mọi sắc pháp chỉ là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành. Ba: quán cả dục lẫn sắc đều vô thường, mà cái gì vô thường thì không đáng chấp trước.

Cách thứ nhất rất đáng nói cho người bận rộn. Tâm hạn hẹp thì việc gì cũng thành to; tâm rộng ra thì cùng chuyện ấy lại nhỏ đi. Cảnh không đổi, chỗ chứa đã khác.

Rồi lên tới Vô sở hữu xứ, cũng ba cách: quán chỗ tất cả tưởng đoạn diệt không dư tàn là tịch tịnh, thù diệu; đi đến khu rừng, gốc cây mà quán “Trống không là tự ngã hay ngã này sở hữu”; và quán “Ta không có bất cứ chỗ nào… và sở thuộc của ta cũng không có bất cứ chỗ nào”.

Xin ghi một chỗ bản Việt lược bớt, để bác đối chiếu khỏi ngỡ. Bản Pāli (mn106:7.1) nêu BA chỗ: araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vākhu rừng, gốc cây, HOẶC ngôi nhà trống. Bản Việt ở đây chỉ nêu hai chỗ đầu. Chúng tôi giữ nguyên lời Hoà thượng và chỉ thêm chỗ thứ ba trong ngoặc vuông ở phần bố cục.

Rồi lên Phi tưởng phi phi tưởng xứ: quán rằng cả Bất động tưởng lẫn Vô sở hữu xứ tưởng cũng chỉ là TƯỞNG; chỗ các tưởng ấy đoạn diệt không dư tàn mới là tịch tịnh, thù diệu.

Đến đây Tôn giả Ānanda đặt câu hỏi hay nhất bài kinh: vị Tỷ-kheo tu tập được xả như vậy thì có chứng cứu cánh Niết-bàn không?

Câu trả lời làm ta phải dừng lại: “Có người chứng, có người không.” Cùng một trình độ thiền địnhkết cục khác nhau.

Và chỗ khác nhau nằm ở đâu? Ở chỗ vị ấy có hoan hỷ và chấp trước CÁI XẢ ẤY hay không. Nếu chấp trước thì thức lệ thuộc và thủ trước Phi tưởng phi phi tưởng xứ — kinh gọi là “thủ trước tối thượng” — nên không chứng Niết-bàn.

Xin thưa ba chữ “thủ trước tối thượng” là chỗ sâu nhất. Người này đã bỏ hết mọi thứ thô: tiền bạc, danh vọng, dục lạc, cả tưởng. Cái duy nhất còn lại để bám là chính sự thanh tịnh của mình — và ông bám vào đó.

Đây cũng chính là điều Kinh Năm Và Ba (MN 102) nói bằng cách khác: cái thấy “ta không chấp thủ” vẫn là chấp thủ. Hai bài kinh đứng cạnh nhau và soi cho nhau.

Thế Tôn dạy Thánh giải thoát là thấy tất cả các tưởng ấy CHỈ THUỘC TỰ THÂN, còn bất tử chính là tâm giải thoát không thủ trước.

Và kinh kết bằng lời sách tấn rất quen mà rất đẹp: “Đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau.”

Xin nói chỗ dùng được cho tất cả mọi người, như đã hứa ở đầu. Bài kinh này cảnh báo một cái bẫy chỉ xuất hiện với người tu khá: khi mình đã bớt nóng, bớt tham, bớt hơn thuarất dễ bám vào chính sự bình an ấylấy nó làm cái “ta” mới.

Dấu hiệu để nhận ra rất giản dị: nếu ai làm mình mất cái bình an ấy mà mình bực, thì cái bình an ấy đang được nắm giữ, chưa phải là buông.

  • “Vậy đừng tu thiền định làm gì.” Kinh dạy rất kỹ các bậc thiềnkhuyến khích tu. Điều bị cảnh báo là dừng lại vì hài lòng, không phải việc tu.
  • “Xả là xấu.” Không — xả là quả của tu tập. Cái hỏng là hoan hỷ và bám vào nó.
  • “Các dục thuộc lãnh vực của ma, vậy vui là tội.” Kinh không nói vui là tội; kinh nói đó là chỗ ma vào được — nên cần biết mà giữ, không phải cần sợ.
  • Ngành Oanh. Dạy tâm rộng thì việc nhỏ lại: khi giận, thử hít thở và nghĩ tới bầu trời.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: “Em có bực khi ai làm mất sự yên của em không?” — rồi nói về bám vào chính cái yên ấy.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về “thủ trước tối thượng”: trong đoàn, có ai đang lấy sự tu của mình làm chỗ hơn người không?
  • Vì sao các dục được gọi là “chỗ ăn uống của ma”?
  • Ba cách hành đạo đưa đến Bất động là gì?
  • Vì sao có người tu tới đó mà vẫn không chứng Niết-bàn?
  • “Thủ trước tối thượng” nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.