G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 105
Tưởng Đã Nhổ Mũi Tên · Mà Thuốc Độc Còn Dư

Kinh Thiện Tinh

Sunakkhatta Sutta — MN 105 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Thiện Tinh

Có người tuyên bố đã chứng đạocó vị nói đúng, có vị vì tự đánh giá quá cao mình. Thế Tôn không vạch mặt ai; Ngài đưa ra ví dụ mũi tên tẩm độc: mũi tên đã rút, nhưng thuốc độc còn dư tànngười ấy tưởng đã xong, rồi ăn uống bừa, không rửa vết thương, và vết thương lở to ra.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 105
  • Nơi thuyết — Vesālī, Đại Lâm, Trùng Các giảng đường
  • Người hỏi — Sunakkhatta Licchaviputta
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Thiện Tinh (Sunakkhatta) được Thế Tôn giảng tại Vesālī, ở Ðại Lâm, Trùng Các giảng đường. Bấy giờ nhiều Tỷ-kheo trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: "sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành...". Sunakkhatta Licchaviputta nghe vậy, đến hỏi Phật: các vị ấy tuyên bố chơn chánh, hay có một số vì tăng thượng mạn (adhimāna, tự đánh giá quá cao mình) mà tuyên bố? Phật đáp: có cả hai hạng. Nhân đó Thế Tôn giảng về "khuynh hướng" (adhimutti) của mỗi hạng người. Trước hết Ngài nêu năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái). Người thiên nặng về vật chất thế gian chỉ ưa nghe chuyện hợp với mình, không muốn nghe chuyện liên hệ đến Bất động; ví như người xa làng lâu ngày chỉ thích hỏi tin làng mình. Rồi lần lượt: người thiên về Bất động đã rời kiết sử vật chất thế gian như lá vàng khô rời cành không xanh lại; người thiên về Vô sở hữu xứ đã chặt đứt kiết sử Bất động như hòn đá vỡ đôi không nối lại; người thiên về Phi tưởng phi phi tưởng xứ đã bỏ kiết sử Vô sở hữu xứ như thức ăn đã mửa ra không muốn ăn lại; người thiên về chánh Niết-bàn đã cắt đứt kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ như cây tala bị chặt ngọn không mọc lại được. Phần chính là ví dụ mũi tên tẩm độc. Có Tỷ-kheo nghĩ rằng mũi tên tham ái đã đoạn, thuốc độc vô minh đã trừ, ta thiên nặng về chánh Niết-bàn — nhưng đó chỉ là tự mãn không đúng sự thật; vị ấy truy cầu những gì không thích hợp, tham dục nhiễu loạn tâm, đi đến chết hoặc khổ gần như chết. Như người được rút tên nhưng thuốc độc còn dư tàn, lại ăn đồ không thích hợp, không rửa vết thương, nên vết thương lở to. Ngược lại, vị biết giữ gìn thì vết thương lành. Thế Tôn giải nghĩa: vết thương là sáu xúc xứ, thuốc độc là vô minh, mũi tên là ái, vật dò tìm là niệm, con dao là Thánh trí tuệ, y sĩ giải phẫu là Như Lai. Kết thúc bằng ví dụ chén nước có độc và con rắn độc: vị Tỷ-kheo phòng hộ sáu xúc xứ, biết "sanh y là căn bản của khổ", không còn hướng thân tâm về sanh y nữa.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: câu hỏi của Sunakkhatta — Tại Vesālī, Ðại Lâm, Trùng Các giảng đường. Nhiều Tỷ-kheo tuyên bố chứng trí giác. Sunakkhatta Licchaviputta hỏi Phật các vị ấy tuyên bố chơn chánh hay vì tăng thượng mạn. Phật đáp có cả hai hạng, và Như Lai nghĩ sẽ thuyết pháp cho những vị tăng thượng mạn.
  • Năm dục trưởng dưỡng — Thế Tôn nêu năm dục trưởng dưỡng: sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
  • Hạng người thiên nặng về vật chất thế gian — ví dụ người xa làng — Người thiên nặng về vật chất thế gian chỉ nghe và giao thiệp theo điều mình thích, không nghe chuyện liên hệ đến Bất động; ví như người xa làng lâu ngày ưa nghe tin tức làng mình.
  • Hạng thiên nặng về Bất động — ví dụ lá vàng khô — Đã rời khỏi kiết sử vật chất thế gian, như lá vàng khô đã rời cành không còn xanh trở lại.
  • Hạng thiên nặng về Vô sở hữu xứ — ví dụ hòn đá vỡ đôi — Đã bị chặt đứt khỏi kiết sử Bất động, như hòn đá bị vỡ làm đôi không thể nối liền lại.
  • Hạng thiên nặng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ — ví dụ món ăn đã mửa — Đã để một bên kiết sử Vô sở hữu xứ, như người đã ăn món mỹ vị rồi quăng bỏ, không còn muốn ăn lại vì đã xem là ghê tởm.
  • Hạng thiên nặng về chánh Niết-bàn — ví dụ cây tala chặt ngọn — Đã cắt đứt kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ từ rễ, làm như cây tala không thể tái sanh, không khởi lên lại trong tương lai.
  • Tăng thượng mạn: tưởng đã nhổ mũi tên ái — Có Tỷ-kheo nghĩ mũi tên tham ái đã đoạn diệt, thuốc độc vô minh đã trừ khử, ta thiên nặng về chánh Niết-bàn; rồi tự hào, truy cầu những gì không thích hợp qua sáu căn, tham dục nhiễu loạn tâm, đi đến chết hay khổ gần như chết.
  • Ví dụ mũi tên tẩm độc: trường hợp còn dư tàn thuốc độc — Y sĩ giải phẫu cắt miệng vết thương, dò tìm và rút mũi tên, trừ thuốc độc nhưng còn dư tàn; người ấy ăn đồ không thích hợp, không rửa, không xức thuốc, đi giữa gió nắng, vết thương lở to, đi đến chết hay khổ gần như chết.
  • Chết và khổ gần như chết trong giới luật bậc Thánh — Chết là từ bỏ tu tập, trở về hoàn tục; khổ như chết là phạm một ô uế tội nào.
  • Ví dụ mũi tên tẩm độc: trường hợp không còn dư tàn — Vị Tỷ-kheo thật sự thiên nặng về chánh Niết-bàn không truy cầu những gì không thích hợp; như người biết mình chưa thoát nguy hiểm nên gìn giữ vết thương, vết thương được lành, không đi đến chết hay khổ gần như chết.
  • Giải nghĩa ví dụ — Vết thương = sáu xúc xứ; thuốc độc = vô minh; mũi tên = ái; vật dụng dò tìm = niệm; con dao = Thánh trí tuệ; y sĩ giải phẫu = Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
  • Phòng hộ sáu xúc xứ — ví dụ chén nước có độc và con rắn độc — Tỷ-kheo phòng hộ sáu xúc xứ, biết 'sanh y là căn bản của khổ', trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y; như người muốn sống không uống chén đồng tẩm độc, không đưa tay cho rắn độc cắn.
  • Kết kinh — Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sunakkhatta Licchaviputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 105, SC 1–2 (mn105:1.1–2.2)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Tena kho pana samayena sambahulehi bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā hoti: “‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmā”ti.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-ly), ở Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường (Kutagarasala). Lúc bấy giờ nhiều Tỷ-kheo, trước mặt Thế Tôn tuyên bố đã chứng trí giác: “Chúng tôi biết rằng sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những điều nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Now at that time several mendicants had declared their enlightenment in the Buddha’s presence: “We understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
MN 105, SC 5 (mn105:5.3–5.4)
Santetthekacce bhikkhū sammadeva aññaṁ byākaṁsu, santi panidhekacce bhikkhū adhimānenapi aññaṁ byākaṁsu. Tatra, sunakkhatta, ye te bhikkhū sammadeva aññaṁ byākaṁsu tesaṁ taṁ tatheva hoti;
Ở đây, có một số Tỷ-kheo đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác; nhưng ở đây, cũng có một số Tỷ-kheo chính vì tăng thượng mạn, đã tuyên bố chứng trí giác. Ở đây, này Sunakkhatta, những vị Tỷ-kheo nào đã chơn chánh tuyên bố chứng trí giác, thời đối với các vị ấy, thật là đúng như vậy.
“Some of them did so rightly, Sunakkhatta, while others did so out of overestimation. Now, when mendicants declare enlightenment rightly, that is their truth.
MN 105, SC 10 (mn105:7.1–7.8)
Pañca kho ime, sunakkhatta, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, sunakkhatta, pañca kāmaguṇā.
Này Sunakkhatta, có năm dục trưởng dưỡng này. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức …; các hương do mũi nhận thức …; các vị do lưỡi nhận thức …; các xúc do thân cảm xúc khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Sunakkhatta, những pháp này là năm dục trưởng dưỡng.
“Sunakkhatta, there are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation.
MN 105, SC 16 (mn105:11.1–11.4)
Seyyathāpi, sunakkhatta, paṇḍupalāso bandhanā pavutto abhabbo haritattāya; evameva kho, sunakkhatta, āneñjādhimuttassa purisapuggalassa ye lokāmisasaṁyojane se pavutte. So evamassa veditabbo: ‘lokāmisasaṁyojanena hi kho visaṁyutto āneñjādhimutto purisapuggalo’ti.
Ví như, này Sunakkhatta, một lá vàng khô đã rời khỏi cành, không còn xanh trở lại; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về Bất động, đã rời khỏi kiết sử vật chất thế gian. Người ấy cần được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử vật chất thế gian, thiên nặng về Bất động”.
Suppose there was a fallen, withered leaf. It’s incapable of becoming green again. In the same way, an individual intent on the imperturbable has dropped the connection with worldly pleasures of the flesh. You should know of them: ‘That individual is intent on the imperturbable, for they’re detached from things connected with pleasures of the flesh.’
MN 105, SC 24 (mn105:17.1–17.4)
Seyyathāpi, sunakkhatta, tālo matthakacchinno abhabbo puna viruḷhiyā; evameva kho, sunakkhatta, sammā nibbānādhimuttassa purisapuggalassa ye nevasaññānāsaññāyatanasaṁyojane se ucchinnamūle tālāvatthukate anabhāvaṅkate āyatiṁ anuppādadhamme. So evamassa veditabbo: ‘nevasaññānāsaññāyatanasaṁyojanena hi kho visaṁyutto sammā nibbānādhimutto purisapuggalo’ti.
Ví như, này Sunakkhatta, cây tala ngọn cây đã bị chặt đứt không thể lớn được nữa; cũng vậy, này Sunakkhatta, đối với hạng người thiên nặng về chánh Niết-bàn, đã cắt đứt kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đã cắt đứt từ rễ, làm cho như cây tala không thể tái sanh, không thể khởi lên lại trong tương lai. Người ấy cần phải được hiểu như sau: “Ðây là hạng người không liên hệ với kiết sử Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thiên nặng về chánh Niết-bàn”.
Suppose there was a palm tree with its crown cut off. It’s incapable of further growth. In the same way, an individual rightly intent on extinguishment has cut off the connection with the dimension of neither perception nor non-perception at the root, made it like a palm stump, obliterated it, so it’s unable to arise in the future. You should know of them: ‘That individual is rightly intent on extinguishment, for they’re detached from things connected with the dimension of neither perception nor non-perception.’
MN 105, SC 25 (mn105:18.2–18.4)
‘taṇhā kho sallaṁ samaṇena vuttaṁ, avijjāvisadoso, chandarāgabyāpādena ruppati. Taṁ me taṇhāsallaṁ pahīnaṁ, apanīto avijjāvisadoso, sammā nibbānādhimuttohamasmī’ti. Evaṁmāni assa atathaṁ samānaṁ.
“Tham ái được vị Sa-môn gọi là mũi tên. Thuốc độc vô minh làm não hại con người với dục, tham, sân. Mũi tên tham ái đã được ta đoạn diệt; thuốc độc vô minh đã được trừ khử; ta thiên nặng về chánh Niết-bàn”. Vị ấy có thể tự hào với mục đích hiện tại.
‘The Ascetic has said that craving is a dart; and that the poison of ignorance is inflicted by desire and ill will. I have given up the dart of craving and expelled the poison of ignorance; I am rightly intent on extinguishment.’ Having such conceit, though it’s not based in fact,
MN 105, SC 29 (mn105:22.1–22.2)
Maraṇañhetaṁ, sunakkhatta, ariyassa vinaye yo sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati; maraṇamattañhetaṁ, sunakkhatta, dukkhaṁ yaṁ aññataraṁ saṅkiliṭṭhaṁ āpattiṁ āpajjati.
Như vậy, này Sunakkhatta, là chết trong giới luật của bậc Thánh, khi vị ấy từ bỏ tu tập, trở về hoàn tục, và như vậy, này Sunakkhatta, là khổ như chết, khi vị ấy phạm một ô uế tội nào.
For it is death in the training of the Noble One to resign the training and return to a lesser life. And it is deadly pain to commit one of the corrupt offenses.
MN 105, SC 34 (mn105:27.1–27.8)
Upamā kho me ayaṁ, sunakkhatta, katā atthassa viññāpanāya. Ayaṁyevettha attho—vaṇoti kho, sunakkhatta, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ; visadosoti kho, sunakkhatta, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ; sallanti kho, sunakkhatta, taṇhāyetaṁ adhivacanaṁ; esanīti kho, sunakkhatta, satiyāyetaṁ adhivacanaṁ; satthanti kho, sunakkhatta, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ; bhisakko sallakattoti kho, sunakkhatta, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
Này Sunakkhatta, Ta nói ví dụ này với mục đích làm sáng tỏ ý nghĩa. Nghĩa ở đây như sau: Vết thương, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với sáu xúc xứ (phassayatana); thuốc độc, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với vô minh; mũi tên, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với ái; vật dụng dò tìm, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với niệm; con dao, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Thánh trí tuệ. Vị y sĩ giải phẫu, này Sunakkhatta, là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
I’ve made up this simile to make a point. And this is the point: ‘Wound’ is a term for the six interior sense fields. ‘Poison’ is a term for ignorance. ‘Dart’ is a term for craving. ‘Probing’ is a term for mindfulness. ‘Scalpel’ is a term for noble wisdom. ‘Surgeon’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
MN 105, SC 35 (mn105:28.1–28.2)
So vata, sunakkhatta, bhikkhu chasu phassāyatanesu saṁvutakārī. ‘Upadhi dukkhassa mūlan’ti—iti viditvā nirupadhi upadhisaṅkhaye vimutto upadhismiṁ vā kāyaṁ upasaṁharissati cittaṁ vā uppādessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Thật vậy, này Sunakkhatta, Tỷ-kheo tự mình phòng hộ đối với sáu xúc xứ, nghĩ rằng: “Sanh y (Upadhi) là căn bản của khổ”, sau khi biết như vậy, vị ấy trở thành vô sanh y, giải thoát nhờ đoạn diệt sanh y. Vị ấy còn chú thân của mình trên sanh y hay để tâm đến sanh y, sự tình như vậy không xảy ra.
Truly, Sunakkhatta, that mendicant practices restraint regarding the six fields of contact. Understanding that attachment is the root of suffering, they are freed with the ending of attachments. It’s not possible that they would apply their body or interest their mind in any attachment.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
adhimānatăng thượng mạn — tự cho mình đã chứng đắc trong khi chưa chứngBản Việt: “vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chứng trí giác”; bản Anh: “out of overestimation”.
aññātrí giác (sự tuyên bố đã chứng quả A-la-hán)Bản Anh dịch “enlightenment”.
kāmaguṇānăm dục trưởng dưỡng: sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái
lokāmisavật chất thế gian (mồi thế tục)
āneñjaBất động
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ
saṁyojanakiết sử — dây trói buộc
adhimutta / adhimuttithiên nặng về, hướng nặng về (khuynh hướng của tâm)
taṇhāái, tham ái — trong kinh này ví như mũi tên (salla)
avijjāvô minh — trong kinh này ví như thuốc độc (visadosa)
satiniệm — ví như vật dụng dò tìm mũi tên (esanī)
ariyā paññāThánh trí tuệ — ví như con dao (sattha) của y sĩ
phassāyatanaxúc xứ; sáu xúc xứ — ví như vết thương (vaṇa)Xin phân biệt cho rõ: ở đoạn giải nghĩa ví dụ (mn105:27.2), Pāli dùng chữ <em>channaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ</em> — SÁU NỘI XỨ; chữ <em>phassāyatana</em> (sáu xúc xứ) là ở đoạn 28. Bản Việt của Hoà thượng Minh Châu tự chú thêm “(phassayatana)” ngay chỗ đoạn 27.
upadhisanh y — căn bản của khổ
sappāya / asappāyathích hợp / không thích hợp (với mục đích tu tập)
saupādisesa / anupādisesacòn dư tàn / không còn dư tàn (nói về thuốc độc trong ví dụ)

Câu hỏi mở đầu bài kinh là một câu rất khó hỏi. Nhiều Tỷ-kheo tuyên bố trước mặt Thế Tôn rằng đã chứng: “sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành…”. Sunakkhatta đến hỏi thẳng: các vị ấy nói chơn chánh, hay có vị vì tăng thượng mạn mà nói?

Và câu trả lời của Thế Tôn rất thẳng: có cả hai hạng. Ngài không bênh, cũng không nêu tên ai.

Xin thưa hai chữ “tăng thượng mạn” (adhimāna) cho rõ. Đó không phải nói dối. Đó là thật lòng tưởng mình đã tới, trong khi chưa tới. Người ấy không lừa ai cảngười ấy tự lầm.

Đây là chỗ bài kinh đáng sợ mà cũng đáng quý. Nói dối thì mình biết; tự lầm thì mình không biết. Cho nên bài kinh này không nhằm bắt lỗi người khácnó là tấm gương cho chính mình.

Thế Tôn giảng bằng cách nói về “khuynh hướng” của mỗi ngườilòng mình đang nghiêng về đâu. Trước hết là năm dục trưởng dưỡng: sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái.

Ví dụ người xa làng rất hay. Người thiên nặng về vật chất thế gian thì chỉ ưa nghe chuyện hợp với mình, không muốn nghe chuyện liên hệ tới Bất độngnhư người xa làng lâu ngày chỉ thích hỏi tin làng mình.

Xin để ý ví dụ này không hề chê ai. Nhớ làng là chuyện rất người. Nó chỉ nói: lòng đang nghiêng về đâu thì tai chỉ mở về hướng ấy.

Rồi là một chuỗi ví dụ đi lên từng bậc, mỗi bậc một hình ảnh dứt khoát hơn. Người thiên về Bất động đã rời kiết sử thế gian như lá vàng khô đã rời cành, không xanh lại được. Người thiên về Vô sở hữu xứ đã chặt đứt kiết sử Bất động như hòn đá vỡ đôi, không nối lại được.

Người thiên về Phi tưởng phi phi tưởng xứ đã bỏ kiết sử Vô sở hữu xứ như món ăn đã mửa ra, không muốn ăn lại. Người thiên về chánh Niết-bàn đã cắt đứt kiết sử ấy tận rễ như cây tala bị chặt ngọn, không mọc lại được.

Bốn hình ảnh ấy đều nói một điều: dứt là dứt hẳn. Không phải tạm gác, không phải nhịn. Đây là chỗ đo được mình: điều mình bỏ đã “như lá khô rời cành” chưa, hay chỉ mới cất đi chỗ khác?

Rồi tới phần chính, và đây là ví dụ đẹp nhất bài kinh. Có Tỷ-kheo nghĩ: mũi tên tham ái đã đoạn, thuốc độc vô minh đã trừ, ta đã hướng về Niết-bàn. Nhưng đó chỉ là tự mãn không đúng sự thật.

Vì tưởng đã xong nên vị ấy “truy cầu những gì không thích hợp” qua sáu căn; tham dục nhiễu loạn tâm; và đi đến chết hoặc khổ gần như chết.

Ví dụ y khoa rất cụ thể. Người bị bắn tên được rạch miệng vết thương, dò tìm, rút mũi tên, trừ thuốc độc — nhưng còn dư tàn. Y sĩ dặn phải kiêng ăn, rửa vết thương, xức thuốc, tránh gió nắng. Người ấy tưởng mình đã lành nên không giữ gì cảvết thương lở to.

Còn người biết mình chưa thoát nguy hiểm thì gìn giữ — và vết thương lành. Cùng một vết thương, cùng một y sĩkhác nhau ở chỗ có tưởng mình đã xong hay không.

Rồi Thế Tôn giải nghĩa từng hình ảnh, và phần này nên chép ra dán lên bảng: vết thương là sáu xứ nơi thân tâm mình; thuốc độc là vô minh; mũi tên là ái; vật dò tìm là NIỆM; con dao là Thánh trí tuệ; y sĩ giải phẫu là Như Lai.

Xin dừng ở chữ “vật dò tìm là niệm”. Trước khi rút được mũi tên, phải dò cho ra nó nằm ở đâu — và cái dò ấy là chánh niệm. Nghĩa là chánh niệm không phải để thấy dễ chịu; chánh niệm là để tìm cho ra chỗ đau thật.

Và kinh nói rõ “chết” với “khổ gần như chết” nghĩa là gì trong giới luật bậc Thánh: chết là từ bỏ tu tập, trở về hoàn tục; khổ như chết là phạm một ô uế tội.

Kinh kết bằng hai hình ảnh dứt khoát: không ai muốn sống mà lại uống chén nước có độc, không ai muốn sống mà lại đưa tay cho rắn độc cắn. Vị Tỷ-kheo phòng hộ sáu xứ, biết “sanh y là căn bản của khổ”, thì không còn hướng thân tâm về đó nữa.

  • “Vậy ai nói mình chứng đều đáng ngờ.” Kinh nói có cả hai hạngcó vị tuyên bố chơn chánh. Bài kinh không dạy nghi người, mà dạy xét mình.
  • “Thuốc độc còn dư tàn nghĩa là tu vô ích.” Ngược lại — mũi tên ĐÃ rút. Vấn đề không phải chưa làm được gì, mà là tưởng đã xong rồi nên buông tay quá sớm.
  • Một chỗ chữ nghĩa xin nói rõ. Ở đoạn giải nghĩa (mn105:27), Pāli dùng channaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁsáu NỘI xứ; chữ phassāyatana (sáu xúc xứ) là ở đoạn 28. Bản Việt tự chú thêm “(phassayatana)” ngay chỗ đoạn 27.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện vết thương tưởng đã lành: bác sĩ dặn giữ mà không giữ thì sao?
  • Ngành Thiếu. Đố các em ghép sáu hình ảnh với ý nghĩa: mũi tên, thuốc độc, vật dò tìm, con dao, vết thương, y sĩ.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Xét lại một thói quen mình đã “bỏ”: nó đã như lá khô rời cành chưa, hay chỉ mới cất đi chỗ khác?
  • “Tăng thượng mạn” khác nói dối ở chỗ nào?
  • Bốn ví dụ lá khô, đá vỡ, món đã mửa, cây tala nói lên điều gì chung?
  • Trong ví dụ mũi tên, “vật dò tìm” là gì?
  • Trong giới luật bậc Thánh, “chết” nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.