G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 102
Điểm Lại Mọi Chủ Trương · Rồi Chỉ Chỗ Đứng

Kinh Năm Và Ba

Pañcattaya Sutta — MN 102 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Năm Và Ba

Đây là bản rút gọn của Kinh Phạm Võng: Đức Phật điểm lại toàn bộ chủ trương của các nhà tư tưởng thời ấy về tương laiquá khứ, cho thấy các nhóm quay ra bài bác lẫn nhau — rồi chỉ ra một điều bất ngờ: ngay cả cái thấy “ta không chấp thủ” cũng vẫn là chấp thủ.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 102
  • Tên PāliPañcattaya: “năm và ba”
  • Liên hệ — bản rút gọn của Kinh Phạm Võng (DN 1)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Năm và Ba (Pañcattaya) là bản "rút gọn" của Kinh Phạm Võng (DN 1): Đức Phật điểm lại toàn bộ các chủ trương của Sa-môn, Bà-la-môn thời bấy giờ về tương lai và về quá khứ, rồi chỉ ra chỗ đứng của chính Ngài. Phần đầu nói về các vị "luận bàn về tương lai": có vị chủ trương sau khi chết tự ngã còn tưởng, có vị chủ trương không tưởng, có vị chủ trương phi tưởng phi phi tưởng, có vị chủ trương đoạn diệt hoàn toàn, có vị tuyên bố hiện tại Niết-bàn. Năm chủ trương ấy gom lại thành ba, ba lại mở ra thành năm — đó là "tổng thuyết năm và ba". Mỗi nhóm lại chia nhỏ theo có sắc, không sắc, nhất tưởng, dị tưởng, thiểu tưởng, vô lượng tưởng… và các nhóm quay ra bài bác lẫn nhau: nhóm này nói "tưởng là bệnh hoạn, là mụt nhọt, là mũi tên", nhóm kia nói "không tưởng là si ám". Phần thứ hai nói về các vị "luận bàn về quá khứ": tự ngã và thế giới là thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên, nhứt hướng lạc hay nhứt hướng khổ… "chỉ như vậy là chơn thật, ngoài ra là hư vọng". Đức Phật dạy rằng ngoài lòng tin, ngoài hỷ, ngoài tùy văn (nghe truyền lại), ngoài thẩm định lý do, ngoài sự kham nhẫn chấp thọ tà kiến, thì trí tự mình không thể trở thành thanh tịnh — nghĩa là các chủ trương ấy chỉ dựa trên năm chỗ tựa đó, vẫn còn là chấp thủ. Phần cuối bàn về "hiện tại Niết-bàn": có vị an trú viễn ly hỷ, có vị vượt lên an trú phi vật chất lạc, có vị an trú vô khổ vô lạc thọ, có vị quán "Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta là không chấp thủ". Ba trạng thái đầu đều bị đoạn diệt rồi sanh khởi trở lại, như bóng mát và nắng thay chỗ cho nhau; riêng trường hợp thứ tư — cái thấy “Ta là tịch tịnh, ta không chấp thủ” — kinh không nói đoạn diệt rồi sanh khởi, mà nói nó VẪN LÀ chấp thủ; ngay cả cái thấy "ta không chấp thủ" cũng vẫn là chấp thủ. Điệp khúc suốt bài là: "Biết rằng cái này thuộc hữu vi là thô pháp, nhưng có sự đoạn diệt các hành… Như Lai thấy sự giải thoát khỏi pháp hữu vi và đã vượt khỏi pháp hữu vi." Kết kinh, Thế Tôn nêu vô thượng tịch tịnh tối thắng đạo mà Như Lai chánh đẳng giác: như thật biết sự tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt và nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn trú tại Jetavana, gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng (SC 1).
  • Luận bàn về tương lai — tổng thuyết năm và ba — Năm chủ trương: sau khi chết tự ngã có tưởng / không tưởng / phi tưởng phi phi tưởng; đoạn diệt hữu tình hiện đang sanh tồn; hiện tại Niết-bàn. Năm thành ba, ba thành năm (SC 2–3).
  • Chủ trương tự ngã có tưởng — Phân theo có sắc, không sắc, nhất tưởng, dị tưởng, thiểu tưởng, vô lượng tưởng; thức biến vô lượng bất động. Như Lai biết rõ và thấy sự vượt khỏi hữu vi (SC 4–5).
  • Chủ trương tự ngã không tưởng — Chính nhóm này PHỈ BÁNG nhóm chủ trương có tưởng, vì họ cho rằng “tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt nhọt, tưởng là mũi tên; đây là tịch tịnh, thù diệu, tức là vô tưởng” (mn102:6.1–6.3); ngoài sắc thọ tưởng hành thức không thể chủ trương có sự lai vãng tử sanh của thức (SC 6–8).
  • Chủ trương phi tưởng phi phi tưởng — 'Không tưởng là si ám'; xứ này không đạt thành nhờ sự thành tựu hữu hành, mà nhờ sự thành tựu không có hành nào còn lại [xin đọc kỹ chỗ này: bản Pāli <em>saṅkhārāvasesasamāpatti</em> (mn102:10.5) nghĩa là “nhờ sự thành tựu CÒN DƯ TÀN các hành”, và cả bản Anh của Tỳ-kheo Sujato lẫn bản Ñāṇamoli–Bodhi đều dịch theo nghĩa ấy; bản Việt ở đây diễn đạt ngược lại. Chúng tôi giữ nguyên chữ của Hoà thượng và chỉ chú thêm] (SC 9–12).
  • Chủ trương đoạn diệt — Ví dụ người lái buôn và ví dụ con chó bị cột vào cây cột: sợ hãi tự thân, yếm ly tự thân, chỉ chạy vòng quanh tự thân (SC 13–14).
  • Kết phần tương lai — Tất cả các luận thuyết về tương lai đều tuyên bố năm xứ này hay một trong chúng (SC 15).
  • Luận bàn về quá khứ — Mười sáu chủ trương về tự ngã và thế giới (thường/vô thường, hữu biên/vô biên, nhứt tưởng/dị tưởng…); tất cả chỉ dựa vào tín, hỷ, tùy văn, thẩm định lý do, kham nhẫn chấp thọ tà kiến (SC 16–18).
  • Hiện tại Niết-bàn — bốn trú xứ — Viễn ly hỷ; phi vật chất lạc; vô khổ vô lạc thọ; và cái quán 'Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta là không chấp thủ' — mỗi thứ đều đoạn diệt rồi sanh khởi trở lại như bóng mát và nắng; cái quán cuối vẫn là chấp thủ (SC 19–26).
  • Vô thượng tịch tịnh tối thắng đạo — Như thật biết tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ (SC 27).
  • Kết kinh — Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy (SC 28).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 3 (Việt) / mn102:2.9–2.11 (Pāli–Anh)
Iti santaṁ vā attānaṁ paññapenti arogaṁ paraṁ maraṇā, sato vā pana sattassa ucchedaṁ vināsaṁ vibhavaṁ paññapenti, diṭṭhadhammanibbānaṁ vā paneke abhivadanti. Iti imāni pañca hutvā tīṇi honti, tīṇi hutvā pañca honti— ayamuddeso pañcattayassa.
Như vậy, họ chủ trương sau khi chết, tự ngã tồn tại không bệnh. Hay họ chủ trương đoạn diệt, hủy hoại, tiêu diệt của loài hữu tình hiện đang sanh tồn. Hay một số lại tuyên bố hiện tại Niết-bàn. Như vậy, những chủ thuyết này, sau khi thành năm trở lại thành ba, sau khi thành ba, trở lại thành năm. Ðây là sự tổng thuyết năm và ba.
Thus they assert an existent self that is healthy after death; or they assert the annihilation of an existing being; while some propose extinguishment in this life. In this way five become three, and three become five. This is the summary recital of the five and three.
SC 10 (Việt) / mn102:9.3 (Pāli–Anh)
Saññā rogo saññā gaṇḍo saññā sallaṁ, asaññā sammoho, etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ:
Vì sao vậy? Họ nói rằng: “Tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt nhọt, tưởng là mũi tên, không tưởng là si ám. Ðây là tịch tịnh, thù diệu, tức là phi tưởng phi phi tưởng”.
Because they believe that perception is a disease, a boil, a dart; that non-perception is a stupor; and that the state of neither perception nor non-perception is peaceful and sublime.
SC 8 (Việt) / mn102:7.4–7.5 (Pāli–Anh)
‘ahamaññatra rūpā, aññatra vedanāya, aññatra saññāya, aññatra saṅkhārehi, viññāṇassa āgatiṁ vā gatiṁ vā cutiṁ vā upapattiṁ vā vuddhiṁ vā virūḷhiṁ vā vepullaṁ vā paññapessāmī’ti— netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Này các Tỷ-kheo, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài hành, ngoài thức, ta sẽ chủ trương sự lai, vãng, tử, sanh, tăng trưởng, tăng thịnh, hay tăng đại”; sự tình không có như vậy.
‘Apart from form, feeling, perception, and choices, I will describe the coming and going of consciousness, its passing away and reappearing, its growth, increase, and maturity.’ That is not possible.
SC 14 (Việt) / mn102:12.7–12.8 (Pāli–Anh)
Seyyathāpi nāma sā gaddulabaddho daḷhe thambhe vā khile vā upanibaddho, tameva thambhaṁ vā khilaṁ vā anuparidhāvati anuparivattati; evamevime bhonto samaṇabrāhmaṇā sakkāyabhayā sakkāyaparijegucchā sakkāyaññeva anuparidhāvanti anuparivattanti.
Ví như một con chó bị dây cột vào một cột trụ hay cây cột vững chắc, chạy theo và chạy vòng tròn cột trụ hay cây cột ấy. Cũng vậy, các Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy sợ hãi tự thân, yếm ly tự thân, chỉ biết chạy theo và chạy vòng quanh tự thân.
Suppose a mutt on a leash was tethered to a strong post or pillar. It would just keeping running and circling around that post or pillar. In the same way, those ascetics and brahmins, from fear and disgust with substantial reality, just keep running and circling around substantial reality.
SC 17 (Việt) / mn102:15.2–15.3 (Pāli–Anh)
tesaṁ vata aññatreva saddhāya aññatra ruciyā aññatra anussavā aññatra ākāraparivitakkā aññatra diṭṭhinijjhānakkhantiyā paccattaṁyeva ñāṇaṁ bhavissati parisuddhaṁ pariyodātanti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Paccattaṁ kho pana, bhikkhave, ñāṇe asati parisuddhe pariyodāte yadapi te bhonto samaṇabrāhmaṇā tattha ñāṇabhāgamattameva pariyodapenti tadapi tesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ upādānamakkhāyati.
Ngoài tín, ngoài hỷ, ngoài tùy văn, ngoài thẩm định lý do, ngoài kham nhẫn chấp thọ tà kiến, trí tự mình sẽ trở thành thanh tịnh, trong sạch; sự tình như vậy không xảy ra. Này các Tỷ-kheo, nếu trí tự mình không trở thành thanh tịnh, trong sạch, thời cho đến chỉ một phần nhỏ của trí mà những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy làm cho trong sạch, chính như vậy cũng được xưng là chấp trước đối với những vị Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn ấy.
It’s simply not possible for them to have personal knowledge of this that is pure and bright, apart from faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, or acceptance of a view after deliberation. But in the absence of personal knowledge that is pure and bright, even the portion of knowledge they illuminate is said to be grasping on their part.
SC 19 (Việt) / mn102:18.1–18.2 (Pāli–Anh)
Seyyathāpi, bhikkhave, yaṁ chāyā jahati taṁ ātapo pharati, yaṁ ātapo jahati taṁ chāyā pharati; evameva kho, bhikkhave, pavivekāya pītiyā nirodhā uppajjati domanassaṁ, domanassassa nirodhā uppajjati pavivekā pīti.
Ví như, này các Tỷ-kheo, chỗ nào bóng mát từ bỏ, chỗ ấy sức nóng mặt trời lan rộng, chỗ nào sức nóng mặt trời từ bỏ, chỗ ấy bóng mát lan rộng; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do viễn ly hỷ bị đoạn diệt, ưu tư sanh khởi. Do ưu tư được đoạn diệt nên viễn ly hỷ sanh khởi.
It’s like how the sunlight fills the space when the shadow leaves, or the shadow fills the space when the sunshine leaves. In the same way, when the rapture of seclusion ceases, sadness arises; and when sadness ceases, the rapture of seclusion arises.
SC 26 (Việt) / mn102:24.6–24.9 (Pāli–Anh)
Yañca kho ayamāyasmā: ‘santohamasmi, nibbutohamasmi, anupādānohamasmī’ti samanupassati tadapi imassa bhoto samaṇassa brāhmaṇassa upādānamakkhāyati. ‘Tayidaṁ saṅkhataṁ oḷārikaṁ atthi kho pana saṅkhārānaṁ nirodho atthetan’ti— iti viditvā tassa nissaraṇadassāvī tathāgato tadupātivatto.
Dầu cho vị Ðại đức này quán: “Ta là tịch tịnh, ta là tịch diệt, ta không có chấp trước”, nhưng vị này vẫn được xem là có chấp trước về điểm ấy. Biết rằng cái này thuộc hữu vi pháp là thô pháp, nhưng có đoạn diệt các hành, sau khi biết được có sự đoạn diệt các hành này, Như Lai thấy được sự giải thoát khỏi hữu vi pháp và đã vượt khỏi hữu vi pháp.
And when they regard themselves like this: ‘I am at peace; I am quenched; I am free of grasping,’ that’s also said to be grasping on their part. ‘All that is conditioned and crude. But there is the cessation of conditions—that is real.’ Understanding this and seeing the escape from it, the Realized One has gone beyond all that.
SC 27–28 (Việt) / mn102:25.1–25.4 (Pāli–Anh)
Idaṁ kho pana, bhikkhave, tathāgatena anuttaraṁ santivarapadaṁ abhisambuddhaṁ yadidaṁ— channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimokkho”ti. Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, vô thượng tịch tịnh, tối thắng đạo được Như Lai chánh đẳng giác, nghĩa là sau khi như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt và sự nguy hiểm của sáu xúc xứ, có sự giải thoát không chấp thủ. […] Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
But the Realized One has awakened to the supreme state of sublime peace, that is, liberation by not grasping after truly understanding the six fields of contact’s origin, disappearance, gratification, drawback, and escape.” That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pañcattayanăm và baNăm chủ trương gom lại thành ba, ba mở ra thành năm — tên bài kinh.
aparantakappika / aparantānudiṭṭhiluận bàn về tương lai; quan điểm về tương lai (đời sau)
pubbantakappika / pubbantānudiṭṭhiluận bàn về quá khứ; quan điểm về quá khứ (khởi nguyên)
attātự ngã
saññātưởngsaññī = có tưởng; asaññī = không tưởng; nevasaññīnāsaññī = phi tưởng phi phi tưởng.
arogo paraṁ maraṇākhông bệnh sau khi chết
ucchedađoạn diệt (thuyết đoạn kiến)
diṭṭhadhammanibbānahiện tại Niết-bàn (Niết-bàn ngay trong đời này)
saṅkhata / saṅkhārāpháp hữu vi / các hành
nirodhasự đoạn diệt
nissaraṇasự xuất ly, giải thoát khỏi
upādānachấp thủ
sakkāyatự thân, thân kiến (cái được xem là 'ta')
pavivekā pītiviễn ly hỷ (hỷ do sống viễn ly)
nirāmisaṁ sukhaṁphi vật chất lạc (lạc không thuộc vật chất)
adukkhamasukhā vedanāvô khổ vô lạc thọ
saddhā, ruci, anussava, ākāraparivitakka, diṭṭhinijjhānakkhantitín, hỷ, tùy văn, thẩm định lý do, kham nhẫn chấp thọ tà kiếnNăm chỗ tựa của tri kiến chưa tự chứng.
channaṁ phassāyatanānaṁsáu xúc xứ
anuttaraṁ santivarapadaṁvô thượng tịch tịnh tối thắng đạo (trạng thái tịch tịnh tối thượng)
anupādāvimokkhagiải thoát không chấp thủ

Xin thưa trước: đây là một bài kinh khó, và không sao cả nếu đọc chậm.liệt kê rất nhiều chủ trương triết học của Ấn Độ thời ấy. Người mới đọc không cần nhớ hết tên từng chủ trươngchỉ cần thấy cái khung.

Cái khung ấy như sau. Phần đầu bàn về tương lai: sau khi chết thì thế nào? Phần sau bàn về quá khứ: trước kia thì thế nào? Phần cuối bàn về hiện tại Niết-bàn: có người cho rằng ngay bây giờ mình đã tới rồi.

Về tương lai có năm chủ trương: sau khi chết tự ngã còn tưởng; không tưởng; phi tưởng phi phi tưởng; đoạn diệt hoàn toàn; hoặc hiện tại Niết-bàn. Năm gom lại thành ba, ba mở ra thành năm — đó là tên bài kinh.

Chỗ đáng để ý nhất không phải các chủ trương, mà là cách họ đối xử với nhau. Nhóm chủ trương không tưởng thì phỉ báng nhóm có tưởng, nói “tưởng là bệnh hoạn, tưởng là mụt nhọt, tưởng là mũi tên”. Nhóm kia thì nói lại “không tưởng là si ám”.

Xin nói rõ chiều của câu này, vì bản nháp của trang chúng tôi đã ghi ngược. Chính nhóm chủ trương vô tưởng là nhóm ĐI phỉ báng, và câu “tưởng là bệnh hoạn…” là lý lẽ của họ (mn102:6.1–6.3), không phải lời người khác nói về họ. Chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở đây.

Và đây là điều đáng suy nghĩ nhất trong cả bài kinh. Những người này đều là bậc trí thức, đều đang tìm chân lýmà việc đầu tiên họ làm với nhau là mạt sát. Cãi nhau về đạo lý không làm cho ai gần đạo hơn.

Rồi Đức Phật nói tới chỗ tựa của mọi chủ trương ấy. Ngoài lòng tin, ngoài hỷ, ngoài tùy văn (nghe truyền lại), ngoài thẩm định lý do, ngoài sự kham nhẫn chấp thọ tà kiến — thì trí tự mình không thể trở thành thanh tịnh.

Nghĩa là các chủ trương ấy đều đứng trên năm chỗ tựa ấy — và năm chỗ tựa ấy không đủ. Đây cũng chính là năm chỗ tựa nêu trong MN 101, bài kinh liền trước.

Phần cuối bàn về “hiện tại Niết-bàn” là phần sâu nhất. Có vị an trú viễn ly hỷ và cho là đã tới; có vị vượt lên, an trú phi vật chất lạc; có vị an trú vô khổ vô lạc thọ; và có vị quán “Ta là tịch tịnh, Ta là tịch diệt, Ta không chấp thủ”.

Ba trạng thái đầu, Đức Phật chỉ ra: chúng đều bị đoạn diệt rồi sanh khởi trở lạinhư bóng mát và nắng thay chỗ cho nhau. Cái gì tới rồi đi thì chưa phải chỗ nương.

Nhưng trường hợp thứ tư mới là chỗ bất ngờ. Người nói “Ta không chấp thủ” — Đức Phật dạy cái thấy ấy VẪN LÀ chấp thủ.

Xin dừng lại đây một chút, vì chỗ này rất quý. Cái “ta” đã lặng lẽ quay lại ngay trong câu “TA không chấp thủ”. Người tu tới một mức rất dễ mắc chỗ này: hãnh diện vì mình không còn hãnh diện, chấp vào việc mình đã buông.

Đây cũng là lời nhắc rất nhẹ cho anh chị em áo lam. Khi thấy mình đã bớt nóng, đã biết nhường, đã tu khá hơn người khácchính lúc ấy nên đọc lại đoạn này.

Và ví dụ con chó bị buộc dây rất đáng nhớ (SC 14): con chó bị cột vào cây cột thì chạy vòng quanh cái cột ấy. Người còn chấp thủ cũng vậytưởng mình đi xa, thật ra chỉ quay quanh một chỗ.

Một chỗ ba cột khác nhau, xin thưa để bác đọc cho khỏi ngỡ. Ở SC 12, bản Việt ghi xứ phi tưởng phi phi tưởng đạt được “nhờ sự thành tựu không có hành nào còn lại”. Bản Pāli saṅkhārāvasesasamāpatti (mn102:10.5) nghĩa là “nhờ sự thành tựu CÒN DƯ TÀN các hành”ngược lại; các bản Anh đều theo nghĩa Pāli. Chúng tôi giữ nguyên chữ của Hoà thượng và chỉ chú thêm.

  • “Bài kinh này chê hết mọi tư tưởng.” Không phải chê. Nó chỉ ra chỗ tựa của các chủ trương ấychúng dừng ở đâu. Đức Phật không đưa ra một chủ trương thứ sáu để tranh.
  • “Vậy nói ‘tôi không chấp thủ’ là sai.” Kinh không cấm nói; kinh chỉ cho thấy khi biến câu ấy thành một cái THẤY để giữ thì nó đã thành chấp thủ.
  • “Ví dụ bóng mát–nắng áp cho cả bốn trường hợp.” Không — chỉ ba trạng thái đầu. Trường hợp thứ tư kinh không nói đoạn diệt rồi sanh khởi, mà nói nó vẫn là chấp thủ. Bản nháp của chúng tôi ghi gộp cả bốn, đã sửa.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện con chó bị cột vào cây cột: chạy hoài mà không đi đâu được.
  • Ngành Thiếu. Hỏi các em: “Có bao giờ em thấy mình ngoan hơn bạn không?” rồi đọc đoạn “Ta không chấp thủ”.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về cách các nhóm mạt sát nhau: giữa những người cùng tìm điều lành, vì sao vẫn dễ mạt sát nhau?
  • Vì sao bài kinh có tên “Năm và Ba”?
  • Năm chỗ tựa mà mọi chủ trương đều dựa vào là gì?
  • Ví dụ bóng mát và nắng nói lên điều gì?
  • Vì sao cái thấy “ta không chấp thủ” vẫn là chấp thủ?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 5 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.