G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 101
Khổ Hạnh Có Đốt Được Nghiệp Cũ Không?

Kinh Devadaha

Devadaha Sutta — MN 101 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Devadaha

Có một chủ trương nghe rất giống điều nhiều người ngày nay vẫn tin: mọi vui buồn đều do nghiệp kiếp trước, nên cứ chịu khổ cho hết nghiệp cũ. Thế Tôn không bác bằng lý luận — Ngài hỏi năm câu, và cả năm câu họ đều phải đáp “không biết”.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 101
  • Nơi thuyết — Devadaha, thị trấn của các Sakka
  • Đối tượng — chủ trương của các Nigaṇṭha (Ni-kiền-tử, đạo Kỳ-na)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Devadaha là bài kinh Thế Tôn phá thuyết "định mệnh nghiệp quá khứ" của các Nigaṇṭha (Ni-kiền-tử). Họ chủ trương: mọi cảm thọ lạc, khổ, bất khổ bất lạc mà con người lãnh thọ đều do nhân nghiệp quá khứ; cho nên chỉ cần đốt cháy nghiệp cũ bằng khổ hạnh và không tạo nghiệp mới thì tất cả khổ sẽ diệt tận. Thế Tôn đích thân đến hỏi họ năm câu: các ông có biết trong quá khứ mình có hiện hữu hay không; có tạo ác nghiệp hay không; tạo ác nghiệp như thế nào; khổ đã diệt được bao nhiêu, còn phải diệt bao nhiêu; và có biết sự đoạn tận bất thiện pháp, thành tựu thiện pháp ngay trong hiện tại không. Cả năm câu họ đều trả lời "không như vậy". Không biết gì cả mà vẫn quả quyết như thế thì không hợp lý. Ngài đưa ví dụ người bị tên tẩm độc: người ấy trải qua các cảm giác đau đớn khi được mổ, dò, rút tên, đốt miệng vết thương, và về sau chính người ấy biết rõ từng chặng — nghĩa là người thật sự thấy biết thì mới nói được như vậy. Thế Tôn còn chỉ ra năm pháp có hai quả báo ngay trong hiện tại: tín, hỷ, tùy văn, thẩm định lý do, kham nhẫn chấp thọ (tà) kiến — tức các căn cứ ấy có thể đúng mà cũng có thể sai, không đủ để quả quyết. Rồi Ngài hỏi: tinh tấn có làm cho nghiệp thọ quả tương lai thành thọ quả hiện tại, nghiệp lạc thọ thành khổ thọ, nghiệp đã thuần thục thành chưa thuần thục được không? Họ đều đáp "không". Vậy thì khổ hạnh của họ là "không có kết quả". Phần sau, Thế Tôn dạy thế nào là tinh tấn CÓ kết quả: vị Tỷ-kheo không tự làm khổ mình, không từ bỏ lạc thọ hợp pháp mà cũng không bị lạc thọ chi phối; chỗ nào cần tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ thì tinh cần, chỗ nào cần tu tập xả thì tu xả — như người bỏ được lòng tham luyến với nữ nhân thì không còn sầu bi khổ ưu não; như người thợ làm tên hơ lửa uốn thẳng thân tên, xong việc thì thôi. Từ đó Ngài trình bày trọn con đường: Như Lai xuất thế, người nghe pháp xuất gia, giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, đoạn năm triền cái, chứng bốn thiền và ba minh — đó mới là tinh tấn có kết quả. Cuối kinh, mười thuyết tùy thuyết hợp pháp khiến các Nigaṇṭha đáng bị chỉ trích, còn Như Lai đáng được tán thán.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi tại Devadaha — Thế Tôn trú giữa các Sakka, tại thị trấn Devadaha, gọi các Tỷ-kheo và nêu chủ trương của một số Sa-môn, Bà-la-môn: mọi cảm thọ đều do nhân nghiệp quá khứ — đó là lý thuyết của các Nigaṇṭha (SC 1-4).
  • Năm câu hỏi các Nigaṇṭha không trả lời được — Thế Tôn hỏi họ có biết: quá khứ có hiện hữu không, có tạo ác nghiệp không, tạo ác nghiệp thế nào, khổ đã và cần diệt bao nhiêu, sự đoạn tận bất thiện pháp hiện tại — cả năm đều "không như vậy"; do đó lời quả quyết của họ không hợp lý (SC 5-18, 20-21).
  • Ví dụ người bị mũi tên tẩm độc — Người bị bắn tên tẩm độc trải qua các cảm giác thống khổ khi được cắt, dò, rút tên, đốt miệng vết thương; sau khi lành, người ấy nhớ rõ từng chặng — người thật biết mới nói được như vậy (SC 19).
  • Các Nigaṇṭha viện dẫn Nigaṇṭha Nātaputta — Họ đáp: Nigaṇṭha Nātaputta là bậc toàn tri toàn kiến, dạy hãy làm tiêu mòn nghiệp cũ bằng khổ hạnh thống khổ; vì chấp nhận và kham nhẫn nên họ hoan hỷ (SC 22-23).
  • Năm pháp có hai quả báo — Tín, hỷ, tùy văn, thẩm định lý do (ākāraparivitakka), kham nhẫn chấp thọ (tà) kiến — năm pháp này ngay trong hiện tại có hai quả báo; các Nigaṇṭha không có câu trả lời hợp pháp (SC 24-26).
  • Khổ thọ tùy thuộc tinh tấn hiện tại — Khi tha thiết tinh tấn thì họ thọ lãnh cảm giác thống khổ, khi không tinh tấn thì không — vậy chính họ bị vô minh lừa dối khi cho rằng mọi cảm thọ đều do nghiệp quá khứ (SC 27-31).
  • Năm câu hỏi về nghiệp: tinh tấn không chuyển được quả — Nghiệp thọ quả hiện tại không thể do tinh tấn thành thọ quả tương lai, nghiệp lạc thọ không thành khổ thọ, nghiệp đã thuần thục không thành chưa thuần thục, đa sở thọ không thành thiểu sở thọ, có sở thọ không thành không sở thọ — vậy tinh tấn của họ không có kết quả (SC 33-53).
  • Mười thuyết tùy thuyết đưa đến sự chỉ trích — Nếu chúng sanh thọ lạc khổ do nghiệp quá khứ, do một vị Tạo hóa, do kết hợp các điều kiện, do sanh loại, hay do tinh tấn hiện tại — trong mọi trường hợp các Nigaṇṭha đều đáng bị chỉ trích; sự tinh tấn của họ không có kết quả (SC 54-65).
  • Thế nào là tinh tấn CÓ kết quả — Vị Tỷ-kheo không để tự ngã bị đau khổ nhiếp phục, không từ bỏ lạc thọ hợp pháp và không bị lạc thọ chi phối; chỗ nào tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ thì tinh cần, chỗ nào cần tu tập xả thì tu xả (SC 66).
  • Ví dụ người luyến ái nữ nhân — Người say đắm nữ nhân thì sanh sầu bi khổ ưu não khi thấy nàng cùng người khác; khi bỏ được lòng tham luyến thì không còn sầu não — cũng vậy là tinh tấn có kết quả (SC 67-71).
  • Ví dụ người thợ làm tên — Vị Tỷ-kheo tinh cần dùng đau khổ chống với tự ngã khi việc ấy làm thiện pháp tăng trưởng, sau khi mục đích thành tựu thì thôi — như người thợ hơ nóng thân tên giữa hai ngọn lửa cho thẳng rồi thôi (SC 72-74).
  • Con đường tuần tự: giới, căn, thiền, ba minh — Như Lai xuất thế thuyết pháp; người nghe pháp xuất gia, trì giới, sống biết đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, đoạn năm triền cái, chứng bốn thiền, rồi túc mạng trí, sanh tử trí, lậu tận trí — mỗi chặng đều được xác nhận "là sự tinh tấn có kết quả" (SC 75-92).
  • Mười thuyết tùy thuyết đưa đến sự tán thán và kết kinh — Ngược lại với các Nigaṇṭha, trong cả mười trường hợp Như Lai đều đáng được tán thán. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (SC 93-105).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 3 (mn101:2.5-2.8)
‘yaṁ kiñcāyaṁ purisapuggalo paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, sabbaṁ taṁ pubbekatahetu. Iti purāṇānaṁ kammānaṁ tapasā byantībhāvā, navānaṁ kammānaṁ akaraṇā, āyatiṁ anavassavo; āyatiṁ anavassavā kammakkhayo; kammakkhayā dukkhakkhayo; dukkhakkhayā vedanākkhayo; vedanākkhayā sabbaṁ dukkhaṁ nijjiṇṇaṁ bhavissatī’ti. Evaṁvādino, bhikkhave, nigaṇṭhā.
Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Phàm cảm giác gì con người này lãnh thọ, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, tất cả đều do nhân các nghiệp quá khứ; với sự đốt cháy, đoạn diệt các nghiệp quá khứ, với sự không tạo tác các nghiệp mới, sẽ không có diễn tiến đến tương lai. Do không có diễn tiến đến tương lai, nghiệp đoạn diệt; do nghiệp đoạn diệt, khổ được đoạn diệt; do khổ đoạn diệt, cảm thọ được đoạn diệt; do cảm thọ được đoạn diệt, tất cả khổ sẽ diệt tận”.
“Mendicants, there are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: ‘Everything this individual person experiences—pleasurable, painful, or neutral—is because of past deeds. So, due to eliminating past deeds by fervent mortification, and not doing any new deeds, there’s nothing to come up in the future. With no future consequence, deeds end. With the ending of deeds, suffering ends. With the ending of suffering, feeling ends. And with the ending of feeling, all suffering will have been worn away.’ Such is the doctrine of the Jain ascetics.
SC 7-14 (mn101:4-5, các câu hỏi)
“—Chư Hiền Nigaṇṭha, các Ông có biết: “Trong quá khứ, chúng tôi có hiện hữu, chúng tôi không hiện hữu?” … “—Thưa Hiền giả, không như vậy.
‘But sirs, did you exist in the past? Or did you not exist?’ ‘No we do not, reverend.’
SC 25 (mn101:11.2-11.4)
‘pañca kho ime, āvuso nigaṇṭhā, dhammā diṭṭheva dhamme dvidhāvipākā. Katame pañca? Saddhā, ruci, anussavo, ākāraparivitakko, diṭṭhinijjhānakkhanti—
“—Chư Hiền Nigaṇṭha, có năm pháp này, ngay trong hiện tại có hai quả báo. Thế nào là năm? Tín, hỷ, tùy văn, thẩm định lý do (akaraparivitakka), kham nhẫn chấp thọ (tà) kiến.
‘These five things can be seen to turn out in two different ways in this very life. What five? Faith, endorsement, oral transmission, reasoned train of thought, and acceptance of a view after deliberation.
SC 65 (mn101:22.25)
Evaṁ kho, bhikkhave, aphalo upakkamo hoti, aphalaṁ padhānaṁ.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, sự tinh tấn của các Nigaṇṭha là không có kết quả, sự tinh cần của họ là không có kết quả.
That’s how exertion and striving is fruitless.
SC 66 (mn101:23.1-23.4)
Kathañca, bhikkhave, saphalo upakkamo hoti, saphalaṁ padhānaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu na heva anaddhabhūtaṁ attānaṁ dukkhena addhabhāveti, dhammikañca sukhaṁ na pariccajati, tasmiñca sukhe anadhimucchito hoti. So evaṁ pajānāti: ‘imassa kho me dukkhanidānassa saṅkhāraṁ padahato saṅkhārappadhānā virāgo hoti, imassa pana me dukkhanidānassa ajjhupekkhato upekkhaṁ bhāvayato virāgo hotī’ti.
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự tinh tấn có kết quả? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không để cho tự ngã chưa bị nhiếp phục, bị đau khổ nhiếp phục và không từ bỏ lạc thọ hợp pháp, và không để lạc thọ ấy chi phối. Vị ấy biết như sau: “Trong khi ta tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ này, do chống lại nguyên nhân đau khổ, ta không có tham dục. Nhưng trong khi ta xả đối với nguyên nhân đau khổ này, trong khi tu tập xả, ta không có tham dục”.
And how is exertion and striving fruitful? It’s when a mendicant does not bring suffering upon themselves; and they don’t forsake legitimate pleasure, but they’re not besotted with that pleasure. They understand: ‘When I actively strive I become dispassionate toward this source of suffering. But when I develop equanimity I become dispassionate toward this other source of suffering.’
SC 67 (mn101:24.1)
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso itthiyā sāratto paṭibaddhacitto tibbacchando tibbāpekkho.
Này các Tỷ-kheo, ví như một người luyến ái một nữ nhân, tâm tư say đắm, nhiệt tình ái mộ, nhiệt tình luyến mộ.
Suppose a man is in love with a woman, full of intense desire and lust.
SC 73 (mn101:28.1)
Seyyathāpi, bhikkhave, usukāro tejanaṁ dvīsu alātesu ātāpeti paritāpeti ujuṁ karoti kammaniyaṁ.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người làm tên, hơ nóng và đốt nóng thân tên giữa hai ngọn lửa, khiến thân tên được thẳng và dễ uốn nắn.
Suppose a fletcher was heating an arrow shaft between two firebrands, making it straight and fit for use.
SC 104-105 (mn101:46.24-46.26)
Evaṁvādī, bhikkhave, tathāgatā. Evaṁvādīnaṁ, bhikkhave, tathāgatānaṁ ime dasa sahadhammikā pāsaṁsaṭṭhānā āgacchantī”ti. Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, mười thuyết tùy thuyết hợp pháp này Như Lai đã nói như vậy đưa đến sự tán thán. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Such is the doctrine of the Realized One. Saying this, the Realized One deserves praise on these ten legitimate grounds.” That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
NigaṇṭhaNi-kiền-tử, tu sĩ đạo Kỳ-na (Jain)Nigaṇṭha Nātaputta là giáo chủ của họ, được họ xưng là bậc toàn tri toàn kiến
pubbekatahetudo nhân các nghiệp quá khứChủ trương bị Thế Tôn bác trong kinh này
kammanghiệp
vedanācảm thọ (lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ)
tapakhổ hạnh, sự đốt cháy nghiệp cũ
upakkama / padhānatinh tấn / tinh cầnaphalo = không có kết quả; saphalo = có kết quả
saddhātín, lòng tin
rucihỷ, sự ưa thích chấp nhận
anussavatùy văn, điều nghe truyền lại
ākāraparivitakkathẩm định lý do, suy tư theo phương pháp
diṭṭhinijjhānakkhantikham nhẫn chấp thọ (tà) kiến, chấp nhận một quan điểm sau khi tư duy
upekkhāxả
virāgaly tham, không có tham dục
vādānuvādathuyết tùy thuyết (tùy thuận thuyết)Mười thuyết tùy thuyết hợp pháp: đưa đến chỉ trích với Nigaṇṭha, đưa đến tán thán với Như Lai
āsavakkhayañāṇalậu tận trí

Trước hết xin nói vì sao bài kinh này rất gần với chúng ta. Chủ trương bị bác ở đây nghe rất giống câu nhiều người vẫn nói: “Chắc kiếp trước tôi mắc nợ nên kiếp này phải trả.” Bài kinh không chê người nói câu ấy — nhưng nó chỉ ra chỗ hỏng khi biến câu ấy thành một chủ trương.

Chủ trương của các Nigaṇṭha gồm hai vế. Vế một: mọi cảm thọ lạc, khổ, bất khổ bất lạc đều do nghiệp quá khứ. Vế hai, suy ra từ vế một: vậy chỉ cần đốt cháy nghiệp cũ bằng khổ hạnh và không tạo nghiệp mới, thì hết khổ.

Xin để ý vế hai nghe rất hợp lý — nếu vế một đúng. Đó là chỗ Thế Tôn nhắm tới. Ngài không cãi về khổ hạnh trước; Ngài hỏi thẳng vào vế một.

Năm câu hỏi ấy như sau. Một: các ông có biết trong quá khứ mình có hiện hữu hay không? Hai: có biết mình đã tạo ác nghiệp hay không? Ba: có biết đã tạo ác nghiệp như thế nào? Bốn: có biết khổ đã diệt được bao nhiêu, còn phải diệt bao nhiêu? Năm: có biết sự đoạn tận bất thiện pháp, thành tựu thiện pháp ngay trong hiện tại không?

Cả năm câu họ đều đáp “không như vậy”. Và Thế Tôn kết rất giản dị: không biết gì cả mà vẫn quả quyết như thế thì không hợp lý.

Xin Huynh Trưởng để ý cách bác này. Ngài không nói “nghiệp quá khứ không có”. Đạo Phật vẫn dạy nghiệp. Điều Ngài bác là chữ “MỌI”quy tất cả về một nguyên nhân duy nhất, trong khi mình không kiểm được nguyên nhân ấy.

Rồi tới ví dụ mũi tên tẩm độc, rất hay. Người bị bắn được mổ, dò tìm, rút tên, đốt miệng vết thươngmỗi chặng một cảm giác đau khác nhau. Về sau lành, chính người ấy nhớ rõ từng chặng.

Ví dụ ấy nói lên điều gì? Người thật sự trải qua và thật sự biết thì mới nói được như vậy. Các Nigaṇṭha nói về nghiệp quá khứ như người kể lại vết thương mình chưa từng có.

Thế Tôn còn nêu năm chỗ tựa mà người ta hay dựa vào để quả quyết: lòng tin, hỷ (sự ưa thích), tùy văn (nghe truyền lại), thẩm định lý do, kham nhẫn chấp thọ tà kiến. Ngài dạy: năm chỗ tựa này ngay trong hiện tại có HAI quả báo — nghĩa là có thể đúng mà cũng có thể sai.

Năm chỗ tựa này rất đáng ghi nhớ. Chúng không phải là xấuai cũng dùng cả năm. Bài kinh chỉ nói: đừng lấy chúng làm bằng chứng cuối cùng. Tin chắc không phải là biết chắc.

Rồi Ngài hỏi năm cặp câu về nghiệp, và mọi câu họ đều phải đáp “không”: tinh tấn có làm nghiệp thọ quả tương lai thành thọ quả hiện tại được không? nghiệp lạc thọ thành khổ thọ? nghiệp đã thuần thục thành chưa thuần thục? đa sở thọ thành thiểu sở thọ? có sở thọ thành không sở thọ?

Kết luận rất sắc: vậy thì khổ hạnh của họ “không có kết quả”. Họ chịu đau — nhưng cái đau ấy không chuyển được gì cả.

Và có một quan sát rất sắc bén nữa. Thế Tôn chỉ ra: khi họ tha thiết tinh tấn thì họ thọ cảm giác thống khổ; khi không tinh tấn thì không. Nghĩa là cái khổ ấy do CHÍNH VIỆC HỌ ĐANG LÀM sinh ra, không phải từ nghiệp quá khứlời họ nói tự nó bác lại họ.

Nửa sau bài kinh mới là phần xây dựng: thế nào là tinh tấn CÓ kết quả. Vị Tỷ-kheo không tự làm khổ mình, không từ bỏ lạc thọ hợp pháp mà cũng không bị lạc thọ chi phối.

Và nguyên tắc rất thực tế: chỗ nào cần tinh cần chống lại nguyên nhân đau khổ thì tinh cần; chỗ nào cần tu tập xả thì tu xả. Không phải chỗ nào cũng gắng, cũng không phải chỗ nào cũng buông.

Ví dụ người luyến ái nữ nhân: người say đắm thì thấy nàng nói cười với người khác là sầu bi khổ ưu não; khi bỏ được lòng tham luyến thì không còn sầu não nữacùng một cảnh, mà lòng đã khác.

Ví dụ người thợ làm tên rất đẹp và rất cân bằng. Người thợ hơ thân tên giữa hai ngọn lửa cho thẳngrồi thôi. Có dùng lửa, nhưng dùng đủ và biết dừng.

Xin nói một lời cho người áo lam. Ví dụ này trả lời được chuyện tu tập trong đời sống: có lúc phải gắng, phải chịu khó, phải ép mìnhnhưng chỉ tới chỗ thân tên đã thẳng. Hơ mãi thì cháy mất cây tên.

  • “Đạo Phật bác chuyện nghiệp quá khứ.” Không. Đạo Phật dạy nghiệp. Điều bị bác là chủ trương MỌI cảm thọ đều do nghiệp quá khứ, và sự quả quyết về điều mình không hề biết.
  • “Vậy chịu khó tu là vô ích.” Ngược lại — nửa sau bài kinh dạy trọn con đường: giới, hộ trì các căn, bốn thiền, ba minh. Có tinh tấn có kết quả, chỉ là không phải kiểu ép xác.
  • Một chỗ lượt soi báo oan, xin nói rõ. Lượt soi ngờ rằng ô trích SC 65 chép thiếu hai chữ “Tôn giả”. Chúng tôi đã tải lại bản Hoà thượng Minh Châu và đối chiếu: nguyên văn đúng là “sự tinh tấn của các Nigaṇṭha”. Ô trích không sai.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện người thợ làm tên: hơ lửa cho thẳng rồi thôi. Hỏi các em: hơ hoài thì sao?
  • Ngành Thiếu. Cho các em phân biệt việc nào nên gắngviệc nào nên buông trong tuần qua — đúng theo lời dạy chỗ nào tinh cần thì tinh cần, chỗ nào nên xả thì xả.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về năm chỗ tựa (tin, thích, nghe truyền, suy luận, chấp nhận sau khi ngẫm): điều mình tin chắc nhất đang dựa vào chỗ nào?
  • Chủ trương của các Nigaṇṭha gồm hai vế nào?
  • Năm câu hỏi của Thế Tôn nhắm vào điều gì?
  • Ví dụ mũi tên tẩm độc nói lên điều gì?
  • Người thợ làm tên dạy ta điều gì về sự gắng sức?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.