G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 100
Nghe Nói · Tin Suông · Hay Tự Mình Thấy

Kinh Saṅgārava

Saṅgārava Sutta — MN 100 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Saṅgārava

Một bà cụ trợt chânbuột miệng niệm Phật ba lần. Người thanh niên trong nhà chê trách — rồi chính anh đi tìm Thế Tôn để hỏi cho ra. Câu anh hỏi rất then chốt: trong những người tự nhận đã chứng đạt, Thế Tôn đứng ở đâu? Và câu trả lời là toàn bộ hành trình của chính Ngài, kể lại không giấu một khúc nào.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 100
  • Nơi thuyết — Caṇḍalakappa, rừng xoài của các Bà-la-môn bộ tộc Todeyya
  • Vị trí — bài cuối của phẩm Bà-la-môn và của Trung Ngũ Thập Kinh
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Sangàrava là bài kinh thứ 100 của Trung Bộ, bài cuối của phẩm Bà-la-môn (Brāhmaṇavagga) và cũng là bài kết thúc phần Trung Ngũ Thập Kinh (Majjhimapaṇṇāsaka) — xin lưu ý đây KHÔNG phải bài cuối của toàn bộ Trung Bộ, vì Trung Bộ có 152 bài. Duyên khởi: nữ Bà-la-môn Dhananjani ở Candalakappa có lòng tín thành Phật, Pháp, Tăng; khi bị trợt chân, bà thốt lên ba lần lời đảnh lễ "Namo tassa bhagavato...". Thanh niên Bà-la-môn Sangarava nghe vậy thì chê trách, nhưng bà khuyên rằng nếu biết được giới đức và tuệ đức của Như Lai thì sẽ không dám mạ lỵ. Khi Thế Tôn du hành đến Candalakappa và trú trong rừng xoài của các Bà-la-môn bộ tộc Todeyya, Sangarava đến hỏi đạo. Câu hỏi mở đầu rất then chốt cho người học Phật: trong số các Sa-môn, Bà-la-môn tự nhận đã "chứng đạt cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí" ngay trong hiện tại, Thế Tôn đứng ở đâu? Đức Phật phân ra ba hạng: (1) hạng dựa vào tin đồn, truyền thống — như các Bà-la-môn thông ba tập Veda; (2) hạng hoàn toàn chỉ do lòng tin — như các nhà lý luận, suy tư; (3) hạng tự mình chứng tri hoàn toàn pháp mà từ trước chưa từng được nghe. Ngài dạy: "Ta là một trong những vị ấy" — tức hạng thứ ba, tự chứng chứ không do nghe truyền hay do suy luận. Để chứng minh, Thế Tôn thuật lại toàn bộ con đường của chính mình: xuất gia khi còn trẻ dù cha mẹ khóc lóc không bằng lòng; học với Alāra Kālāma đạt Vô sở hữu xứ, học với Uddaka Ramaputta đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng thấy các pháp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn, nên Ngài bỏ đi. Đến Uruvela, ba ví dụ về khúc cây ướt/khô khởi lên nơi Ngài: chỉ người đã xả ly các dục cả thân lẫn tâm mới có thể chứng ngộ. Tiếp đó là các khổ hạnh khốc liệt: nghiến răng chế ngự tâm, thiền nín thở, tuyệt thực đến mức da bụng dính xương sống. Rốt cuộc Ngài nhận ra khổ hạnh không đưa đến giác ngộ, nhớ lại kinh nghiệm chứng Thiền thứ nhất dưới bóng cây diêm-phù-đề thuở nhỏ, và biết "Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ". Ngài ăn thô thực trở lại, năm Tỷ-kheo chán ghét bỏ đi, rồi Ngài chứng bốn Thiền và Tam minh trong ba canh đêm. Cuối kinh, Sangarava hỏi có chư Thiên không; Thế Tôn đáp bằng cách đưa người hỏi đến kết luận chắc chắn. Sangarava tán thán và xin quy y Tam Bảo trọn đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Dhananjani và Sangarava — Nữ Bà-la-môn Dhananjani trợt chân, thốt ba lần lời đảnh lễ Thế Tôn. Sangarava chê trách; bà đáp rằng ông chưa biết giới đức và tuệ đức của Như Lai. Ông nhờ báo tin khi Thế Tôn đến Candalakappa (đoạn 1–5 Pāli).
  • 2. Sangarava đến hỏi: ba hạng người tự nhận đã chứng đạt — Thế Tôn đến rừng xoài Todeyya; Sangarava đến hỏi. Thế Tôn phân ba hạng: theo tin đồn/truyền thống (như Bà-la-môn ba tập Veda); hoàn toàn chỉ do lòng tin (như các nhà lý luận, suy tư); và hạng tự mình chứng tri pháp chưa từng được nghe — 'Ta là một trong những vị ấy' (đoạn 6–8).
  • 3. Xuất gia và học với hai vị thầy — Bồ-tát suy nghĩ 'Đời sống tại gia chật hẹp...', cạo bỏ râu tóc xuất gia. Học với Alāra Kālāma, chứng Vô sở hữu xứ; học với Uddaka Ramaputta, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cả hai pháp đều không đưa đến yểm ly, ly tham, giác ngộ, Niết-bàn, nên Ngài bỏ đi (đoạn 9–12).
  • 4. Ba ví dụ về khúc cây — Tại Uruvela, ba ví dụ vi diệu chưa từng được nghe khởi lên: khúc cây ướt ngâm nước; khúc cây ướt để trên đất khô; khúc cây khô không nhựa trên đất khô. Chỉ hạng đã xả ly các dục cả thân lẫn tâm mới có thể chứng tri kiến, vô thượng Chánh Đẳng Giác (đoạn 13–16).
  • 5. Các khổ hạnh khốc liệt — Nghiến răng lấy tâm chế ngự tâm; thiền nín thở với các ví dụ ống thổi bệ, thanh kiếm, dây nịt da, dao đồ tể, hố than hừng; chư Thiên tưởng Ngài đã chết; giảm thiểu ăn uống đến mức thân hình tiều tụy, da bụng dính xương sống (đoạn 17–26).
  • 6. Từ bỏ khổ hạnh — nhớ lại Thiền thứ nhất — Ngài nhận ra khổ hạnh khốc liệt vẫn không chứng được pháp thượng nhân; nhớ lại lúc nhỏ ngồi dưới bóng cây diêm-phù-đề chứng Thiền thứ nhất và biết 'Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ'; không sợ lạc thọ ly dục; ăn thô thực trở lại, năm Tỷ-kheo bỏ đi (đoạn 27–30).
  • 7. Bốn Thiền và Tam minh — Chứng và trú Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư; Túc mạng minh trong canh một, Thiên nhãn minh trong canh giữa, Lậu tận minh trong canh cuối: 'Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành...' (đoạn 31–41).
  • 8. Vấn đáp về chư Thiên và Sangarava quy y — Sangarava tán thán sự tinh cần của Thế Tôn rồi hỏi có chư Thiên không; qua vấn đáp, người có trí đi đến kết luận không nghi ngờ là có chư Thiên. Sangarava tán thán 'Thật vi diệu thay' và xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời (đoạn 42–43).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 100:2.2–2.5 (bản Việt: đoạn SC 2)
Atha kho dhanañjānī brāhmaṇī upakkhalitvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi: “Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassā”ti.
Rồi nữ Bà-la-môn Dhananjani sau khi bị trợt chân, thốt lên ba lần cảm hứng ngữ: “Ðảnh lễ đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác! Ðảnh lễ đức Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!”
Once, she tripped and expressed this heartfelt sentiment three times: “Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha! Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha! Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!”
MN 100:7.2–7.8 (bản Việt: đoạn SC 13)
Santi, bhāradvāja, eke samaṇabrāhmaṇā anussavikā. Te anussavena diṭṭhadhammābhiññāvosānapāramippattā, ādibrahmacariyaṁ paṭijānanti; seyyathāpi brāhmaṇā tevijjā. Santi pana, bhāradvāja, eke samaṇabrāhmaṇā kevalaṁ saddhāmattakena diṭṭhadhammābhiññāvosānapāramippattā, ādibrahmacariyaṁ paṭijānanti; seyyathāpi takkī vīmaṁsī. Santi, bhāradvāja, eke samaṇabrāhmaṇā pubbe ananussutesu dhammesu sāmaṁyeva dhammaṁ abhiññāya diṭṭhadhammābhiññāvosānapāramippattā, ādibrahmacariyaṁ paṭijānanti. Tatra, bhāradvāja, ye te samaṇabrāhmaṇā pubbe ananussutesu dhammesu sāmaṁyeva dhammaṁ abhiññāya diṭṭhadhammābhiññāvosānapāramippattā, ādibrahmacariyaṁ paṭijānanti, tesāhamasmi.
Này Bhāradvāja, có một số Sa-môn, Bà-la-môn theo tin đồn (hay truyền thống), do tin đồn (hay truyền thống), họ tự nhận rằng về căn bản Phạm hạnh, họ đã chứng đạt được ngay hiện tại thông trí với cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí, như các Bà-la-môn thông hiểu ba tập Veda. Nhưng này Bhāradvāja, có một số Sa-môn Bà-la-môn hoàn toàn chỉ do lòng tin, tự nhận rằng về căn bản Phạm hạnh, họ đã chứng đạt ngay trong hiện tại thông trí và cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí, như các nhà lý luận (các nhà suy tư). Này Bhāradvāja, có một số Sa-môn, Bà-la-môn đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, tự mình chứng tri hoàn toàn pháp ấy, tự nhận rằng về căn bản Phạm hạnh, do đã chứng đạt ngay trong hiện tại thông trí và cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí.
There are some ascetics and brahmins who are oral transmitters. Through oral transmission they claim to have mastered the fundamentals of the spiritual life. For example, the brahmins who are proficient in the three Vedas. There are some ascetics and brahmins who solely by mere faith claim to have mastered the fundamentals of the spiritual life. For example, those who rely on logic and inquiry. There are some ascetics and brahmins who, having directly known for themselves the principle regarding teachings not learned before from another, claim to have mastered the fundamentals of the spiritual life. I am one of those.
MN 100:9.2–9.4 (bản Việt: đoạn SC 15)
Idha me, bhāradvāja, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi: ‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
Ở đây, này Bhāradvāja, thuở xưa, khi Ta chưa thành bậc Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ðời sống tại gia chật hẹp, nhiễm đầy bụi đời; đời sống xuất gia phóng khoáng như ngoài trời. Thật không dễ gì sống tại gia, có thể sống đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
MN 100:16.10–16.11 (bản Việt: đoạn SC 36)
“Evameva kho, bhāradvāja, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi vūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho so ca ajjhattaṁ suppahīno hoti suppaṭippassaddho, opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. No cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā opakkamikā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya. Ayaṁ kho maṁ, bhāradvāja, tatiyā upamā paṭibhāsi anacchariyā pubbe assutapubbā.
—Cũng vậy, này Bhāradvāja, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khác vọng, dục nhiệt não, về nội tâm được khéo đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị này cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Bhāradvāja, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta.
“In the same way, there are ascetics and brahmins who live withdrawn in body and mind from sensual pleasures. And they have internally given up and stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are capable of knowledge and vision, of supreme awakening. This was the third example that occurred to me.
MN 100:28.2–28.5 (bản Việt: đoạn SC 48)
‘abhijānāmi kho panāhaṁ pitu sakkassa kammante sītāya jambucchāyāya nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharitā. Siyā nu kho eso maggo bodhāyā’ti? Tassa mayhaṁ, bhāradvāja, satānusāri viññāṇaṁ ahosi: ‘eseva maggo bodhāyā’ti.
Này Bhāradvāja, rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”. Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: “Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?” Và này Bhāradvāja, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: “Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”.
‘I recall sitting in the cool shade of a black plum tree while my father the Sakyan was off working. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Could that be the path to awakening?’ Stemming from that memory came the understanding: ‘That is the path to awakening!’
MN 100:29.2–29.4 (bản Việt: đoạn SC 49)
Tassa mayhaṁ, bhāradvāja, etadahosi: ‘kiṁ nu kho ahaṁ tassa sukhassa bhāyāmi yaṁ taṁ sukhaṁ aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehī’ti? Tassa mayhaṁ, bhāradvāja, etadahosi: ‘na kho ahaṁ tassa sukhassa bhāyāmi yaṁ taṁ sukhaṁ aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehī’ti.
Này Bhāradvāja, rồi Ta suy nghĩ: “Ta có sợ chăng lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện?” Này Bhāradvāja, rồi Ta suy nghĩ: “Ta không sợ lạc thọ này, một lạc thọ ly dục, ly pháp bất thiện”.
Then it occurred to me, ‘Why am I afraid of that pleasure, for it has nothing to do with sensual pleasures or unskillful qualities?’ Then it occurred to me, ‘I’m not afraid of that pleasure, for it has nothing to do with sensual pleasures or unskillful qualities.’
MN 100:40.3 (bản Việt: trong đoạn SC 54)
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ.
Ta đã biết: “Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.
I understood: ‘Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.’
MN 100:43.2–43.5 (bản Việt: đoạn SC 63)
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Và nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the Teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
anussavikangười theo tin đồn / truyền khẩu; bản Việt dịch "theo tin đồn (hay truyền thống)"Hạng thứ nhất trong ba hạng tự nhận đã chứng đạt (MN 100:7.2).
saddhāmattakachỉ do lòng tin suôngHạng thứ hai, ví dụ là takkī vīmaṁsī — các nhà lý luận, suy tư (MN 100:7.5–7.6).
diṭṭhadhammābhiññāvosānapāramippattachứng đạt ngay trong hiện tại thông trí và cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng tríCụm từ then chốt Sangarava dùng để hỏi (MN 100:6.1).
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứPháp mà Alāra Kālāma tuyên bố (MN 100:10.3).
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứPháp mà Uddaka Ramaputta tuyên bố.
upamāví dụ, thí dụ"tisso upamā" — ba ví dụ về khúc cây (MN 100:14.1).
appāṇaka jhānaThiền nín thởKhổ hạnh Bồ-tát từng thực hành (MN 100:18.2).
dukkarakārikākhổ hạnh khó làm, sự hành xác"kaṭukāya dukkarakārikāya" — khổ hạnh khốc liệt (MN 100:27.5).
paṭhamaṁ jhānaṁThiền thứ nhấtLy dục, ly pháp bất thiện, có tầm có tứ, hỷ lạc do ly dục sanh.
vijjāminh, trí sángTam minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh — chứng trong ba canh đêm.
āsavakkhayañāṇaLậu tận tríMinh thứ ba, chứng trong canh cuối (MN 100:39.1).
devāchư Thiên, các vị trờiCâu hỏi cuối kinh của Sangārava là “atthi devā” — có chư Thiên không? (Bản nháp của trang này đặt mục từ là adhidevā, nhưng chữ dùng ở đoạn ấy chỉ là devā.)
sappurisabậc Chân nhân, người chân chánhSangarava tán thán sự tinh cần của Thế Tôn là "sappurisavataṁ" (MN 100:42.2).
padhānasự tinh cần, tinh tấn nỗ lực"aṭṭhitavataṁ ... padhānaṁ" — sự tinh cần trung kiên.

Xin thưa ngay một điều về vị trí bài kinh, vì bản nháp của trang này đã ghi nhầm. MN 100 là bài cuối của phẩm Bà-la-môn và là bài kết thúc phần Trung Ngũ Thập Kinh (bản Pāli chép Majjhimapaṇṇāsakaṁ samattaṁ ở đây). Nhưng đây KHÔNG phải bài cuối của Trung Bộ KinhTrung Bộ có 152 bài, bài cuối là MN 152.

Duyên khởi bài kinh rất đời thường và rất dễ thương. Nữ Bà-la-môn Dhanañjānī có lòng tín thành. Bà trợt chân, và buột miệng thốt ba lần lời đảnh lễ: “Namo tassa bhagavato…”

Chi tiết ấy nói lên điều gì? Lúc giật mình, không kịp nghĩ, cái gì có sẵn trong lòng thì bật ra. Đó là thước đo thật nhất của việc tukhông phải lúc ngồi yên trước bàn thờ, mà lúc trợt chân.

Thanh niên Saṅgārava nghe thì chê trách.không cãi — bà chỉ nói: nếu ông biết được giới đức và tuệ đức của Như Lai thì ông sẽ không dám mạ lỵ. Rồi bà báo tin cho ông khi Thế Tôn đến.

Cách đối đáp của bà rất đáng học cho người áo lam. Bị chê đạo mình, bà không nổi nóng, không tranh hơn thua — bà mở một cánh cửa. Và người chê hôm nay chính là người quy y cuối bài kinh.

Câu hỏi của Saṅgārava là câu hỏi then chốt cho mọi người học đạo: giữa những Sa-môn, Bà-la-môn tự nhận đã “chứng đạt cứu cánh bỉ ngạn nhờ thượng trí” ngay trong hiện tạiThế Tôn đứng ở đâu?

Đức Phật trả lời bằng cách phân ba hạng. Hạng thứ nhất: dựa vào tin đồn, truyền thống — như các Bà-la-môn thông ba tập Veda. Hạng thứ hai: hoàn toàn chỉ do lòng tin — như các nhà lý luận, suy tư. Hạng thứ ba: tự mình chứng tri hoàn toàn pháp mà từ trước chưa từng được nghe.

Rồi Ngài nói gọn một câu: “Ta là một trong những vị ấy”hạng thứ ba.

Ba hạng này rất đáng dạy cho đoàn sinh, vì hạng nào cũng có mặt trong đời sống hằng ngày. Nghe nói lạiai cũng bắt đầu từ đó. Tin và suy luậnbước thứ hai, cần thiết. Tự mình thấychỗ phải tới. Bài kinh không chê hai hạng đầu, chỉ không cho dừng lại ở đó.

Và đây là chỗ bài kinh trở nên phi thường: Ngài chứng minh bằng cách kể lại chính đời mình. Không viện dẫn kinh sách, không nêu thần thôngNgài kể lại từng bước một.

Ngài xuất gia lúc còn trẻ, và kinh không giấu chi tiết đau lòng: cha mẹ khóc lóc, không bằng lòng. Kinh điển giữ nguyên chỗ ấy, không làm cho đẹp hơn.

Ngài học với hai vị thầy giỏi nhất thời ấy: Āḷāra Kālāma — chứng Vô sở hữu xứ; Uddaka Rāmaputta — chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ngài chứng được thật, rất nhanh.

Nhưng Ngài bỏ đi — và lý do rất rõ ràng: các pháp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Xin để ý chỗ này cho kỹ. Ngài không bỏ vì học không nổi, cũng không bỏ vì chê thầy. Ngài bỏ vì đã đạt tới đỉnh của con đường đó và thấy nó chưa tới đích. Đó là một sự trung thực rất hiếm.

Rồi tới ba ví dụ khúc cây, khởi lên nơi Ngài tại Uruvelā: khúc cây ướt ngâm trong nước; khúc cây ướt để trên đất khô; khúc cây khô không nhựa trên đất khô. Chỉ hạng đã xả ly các dục cả thân lẫn tâmnhư khúc cây khô trên đất khômới có thể chứng ngộ.

Rồi đến các khổ hạnh khốc liệt, kể ra rất thật: nghiến răng lấy tâm chế ngự tâm; thiền nín thở với những ví dụ nghe rợn người; chư Thiên tưởng Ngài đã chết; tuyệt thực đến mức da bụng dính xương sống.

Và rồi câu chuyển của cả cuộc đời: Ngài nhận ra khổ hạnh khốc liệt vẫn không chứng được pháp thượng nhân, rồi nhớ lại lúc còn nhỏ ngồi dưới bóng cây diêm-phù-đề, đã chứng Thiền thứ nhất — và biết: “Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ.”

Chỗ này nên nói kỹ với các em. Điều cứu Ngài không phải một pháp môn mới lạ, mà là một kinh nghiệm rất hiền lành hồi nhỏ: ngồi yên dưới bóng cây, tâm mát và sáng. Sáu năm ép xác không bằng một buổi trưa yên tĩnh thuở bé — và đó là chỗ Ngài quay lại.

Ngài “không sợ lạc thọ ly dục” — nghĩa là Ngài không còn sợ cái an vui trong sạch ấy. Ngài ăn thô thực trở lại, và năm Tỷ-kheo chán ghét bỏ đi.

Chi tiết năm Tỷ-kheo bỏ đi rất đáng ghi nhớ. Ngay lúc Ngài tìm ra con đường đúng thì Ngài bị bỏ lại một mình. Đúng không có nghĩa là được ủng hộ.

Rồi Ngài chứng bốn Thiền, và Tam minh trong ba canh đêm: Túc mạng minh canh một, Thiên nhãn minh canh giữa, Lậu tận minh canh cuối — “Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành…”

Cuối kinh Saṅgārava hỏi có chư Thiên không, và Thế Tôn đáp bằng cách dẫn người hỏi tới kết luận chắc chắn chứ không bắt tin. Saṅgārava tán thán và xin quy y trọn đờichính người đã chê trách bà cụ ở đầu bài kinh.

  • “MN 100 là bài cuối của Trung Bộ.” SAI — và bản nháp của trang này đã ghi nhầm ba lần, nay đã sửa. Trung Bộ có 152 bài. MN 100 chỉ kết thúc phần Trung Ngũ Thập Kinh.
  • “Đức Phật chê khổ hạnh, vậy tu là phải dễ dãi.” Không. Ngài bỏ khổ hạnh cực đoan nhưng giữ nguyên sự tinh cầnbốn Thiền và Tam minh trong một đêm không phải chuyện dễ dãi.
  • “Tin theo lời truyền là sai.” Kinh không nói vậy. Kinh xếp nó là hạng thứ nhấtmột chỗ bắt đầu — và chỉ không cho dừng ở đó.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện bà cụ trợt chân niệm Phật, rồi hỏi các em: lúc giật mình, em thường kêu gì?
  • Ngành Thiếu. Ghi ba hạng người lên bảng, rồi cho mỗi em xếp một điều mình tin về đạo Phật vào một trong ba hạng.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về chi tiết năm Tỷ-kheo bỏ đi: làm sao giữ được điều đúng khi chung quanh không ủng hộ?
  • Ba hạng người tự nhận đã chứng đạt là ba hạng nào?
  • Vì sao Bồ-tát rời hai vị thầy dù đã chứng được pháp của họ?
  • Ba ví dụ khúc cây dạy điều gì?
  • Điều gì khiến Ngài nhận ra đạo lộ đưa đến giác ngộ?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 4 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.