G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 99
Chuỗi Người Mù Ôm Lưng Nhau

Kinh Subha

Subha Sutta — MN 99 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Subha

Thanh niên Subha mang tới một câu hỏi rất dễ gây chia rẽ: tại gia hay xuất gia mới thành tựu chánh đạo? Thế Tôn không chọn bên nào — Ngài nói rõ Ngài “chủ trương phân tích”. Rồi Ngài đưa ra hình ảnh chuỗi người mù ôm lưng nhau, và ví dụ người sanh ra đã mù phủ nhận mặt trăng mặt trời.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 99
  • Nơi thuyết — Sāvatthī, rừng Jetavana, tinh xá ông Cấp Cô Độc
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu
  • Nhân vật — Subha Todeyyaputta, học trò của Bà-la-môn Pokkharasāti

Kinh Subha là cuộc đối thoại giữa Thế Tôn và thanh niên Bà-la-môn Subha Todeyyaputta tại tinh xá Cấp Cô Ðộc, thành Xá-vệ. Subha mở đầu bằng chủ trương của các Bà-la-môn: người tại gia mới thành tựu chánh đạo thiện pháp, còn người xuất gia thì không. Thế Tôn trả lời rằng ở đây Ngài "chủ trương phân tích", không nói một chiều: dù tại gia hay xuất gia, hễ hành tà đạo thì không thành tựu, hễ hành chánh đạo thì thành tựu. Kế đó Subha nêu quan niệm nghiệp sự của người tại gia (dịch vụ lớn, lao lực lớn) thì quả báo lớn, còn nghiệp sự người xuất gia thì quả nhỏ. Thế Tôn cũng phân tích: nghề nông việc lớn nhưng làm hỏng thì quả nhỏ, làm đúng thì quả lớn; buôn bán việc nhỏ cũng vậy. Điều quyết định là làm đúng hay làm sai, không phải việc lớn hay nhỏ. Subha trình bày năm pháp mà các Bà-la-môn chủ trương để tác phước, đắc thiện: chân thực, khổ hạnh, phạm hạnh, tụng đọc, thí xả. Thế Tôn hỏi có vị Bà-la-môn nào, hay thầy tổ bảy đời, hay các vị tu sĩ thời cổ sáng tác thần chú, đã tự chứng tri với thượng trí rồi tuyên thuyết quả dị thục của năm pháp ấy chăng — Subha đều đáp: không. Từ đó Thế Tôn nêu ví dụ "một chuỗi người mù ôm lưng nhau": người trước, người giữa, người cuối đều không thấy. Subha phẫn nộ, dẫn lời Bà-la-môn Pokkharasati bác bỏ chuyện có pháp thượng nhân. Thế Tôn hỏi lại, và chính Subha thừa nhận Pokkharasati không biết được cả tâm của người đầy tớ gái. Thế Tôn dùng ví dụ người sanh ra đã mù phủ nhận màu sắc, mặt trăng mặt trời, chỉ vì "tôi không biết, tôi không thấy, do vậy không có". Rồi Ngài chỉ rõ Pokkharasati bị năm triền cái trùm che, bị năm dục trưởng dưỡng trói buộc, nên không thể chứng tri pháp thượng nhân; và phân biệt hỷ do năm dục (như lửa nhờ cỏ củi) với hỷ do ly dục trong Thiền thứ nhất, thứ hai (như lửa không nhờ cỏ củi). Bàn tiếp về năm pháp, Thế Tôn dẫn Subha nhận ra lòng ái mẫn là "tác phước sự thứ sáu", và rằng năm pháp ấy là tư cụ của tâm, để tâm tu tập không hận, không sân — chúng có nhiều nơi người xuất gia hơn người tại gia. Cuối cùng Subha xin nghe con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên; Thế Tôn dạy bốn tâm từ, bi, hỷ, xả biến mãn khắp mười phương. Subha xin quy y và trọn đời làm cư sĩ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Subha đến yết kiến Thế Tôn — Thế Tôn trú tại Jetavana; Subha Todeyyaputta hỏi gia chủ nên chiêm ngưỡng vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, rồi đi đến Thế Tôn (MN 99.1–3).
  • Tại gia hay xuất gia thành tựu chánh đạo thiện pháp? — Thế Tôn chủ trương phân tích (vibhajjavāda), không nói một chiều: tà đạo thì không thành tựu, chánh đạo thì thành tựu, dù tại gia hay xuất gia (MN 99.4).
  • Nghiệp sự lớn nhỏ và quả báo: ví dụ nông nghiệp và buôn bán — Việc lớn hay nhỏ đều có thể quả lớn hay nhỏ, tùy làm đúng hay làm hỏng; đời tại gia ví như nông nghiệp, đời xuất gia ví như buôn bán (MN 99.5–7).
  • Năm pháp tác phước, đắc thiện của các Bà-la-môn — Subha nêu: chân thực, khổ hạnh, phạm hạnh, tụng đọc, thí xả (MN 99.8–9).
  • Ví dụ chuỗi người mù — Không một Bà-la-môn nào, không một Ðạo sư nào cho đến bảy đời, không một tu sĩ thời cổ nào đã tự chứng tri quả dị thục của năm pháp ấy; lời nói của họ như chuỗi người mù (MN 99.9).
  • Subha phẫn nộ và dẫn lời Bà-la-môn Pokkharasati — Subha mạ lỵ Thế Tôn và dẫn lời Pokkharasati phủ nhận pháp thượng nhân; Thế Tôn hỏi lại và Subha thừa nhận Pokkharasati không biết được tâm của đầy tớ gái Puṇṇika (MN 99.10–11).
  • Ví dụ người sanh ra đã mù — Người mù bẩm sinh phủ nhận màu sắc, sao, mặt trăng mặt trời vì "tôi không biết, tôi không thấy, do vậy không có" — nói như vậy là không chân chánh (MN 99.12–13).
  • Lời nói cần được thế tục chấp nhận, suy tư, cân nhắc, liên hệ mục đích — Thế Tôn dẫn Subha nhận rằng lời của Pokkharasati không được thế tục chấp nhận, không suy tư, không cân nhắc, không liên hệ mục đích (MN 99.13–14).
  • Năm triền cái và năm dục trưởng dưỡng — Pokkharasati bị năm triền cái trùm che và bị năm dục trưởng dưỡng trói buộc, nên không thể chứng tri pháp thượng nhân (MN 99.15–16).
  • Ví dụ ngọn lửa: hỷ do dục và hỷ do ly dục — Hỷ do năm dục ví như lửa đốt nhờ cỏ củi khô; hỷ do ly dục, ly bất thiện pháp trong Thiền thứ nhất và thứ hai ví như lửa không nhờ cỏ củi (MN 99.17).
  • Thí xả và tác phước sự thứ sáu: lòng ái mẫn — Được Thế Tôn hỏi các Bà-la-môn chủ trương pháp nào quả báo lớn hơn, chính SUBHA đáp rằng trong năm pháp thì thí xả có quả báo lớn nhất (mn99:18.2); qua ví dụ hai Bà-la-môn tranh chỗ ngồi tại tế đàn, Subha nhận rằng bố thí chỉ vì lòng ái mẫn, và đó là tác phước sự thứ sáu (MN 99.18–19).
  • Năm pháp có nhiều nơi người xuất gia; năm pháp là tư cụ của tâm — Subha nhận thấy năm pháp có nhiều nơi người xuất gia, ít nơi người tại gia; Thế Tôn dạy năm pháp ấy là tư cụ của tâm, để tâm tu tập không hận, không sân (MN 99.20–21).
  • Con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên — Ví dụ người sanh trưởng ở làng Nalakara chỉ đường; rồi Thế Tôn dạy bốn tâm từ, bi, hỷ, xả biến mãn khắp mười phương, quảng đại vô biên, không hận, không sân (MN 99.22–27).
  • Subha quy y; Bà-la-môn Jānussoni tán thán — Subha xin quy y Phật, Pháp, Tăng và trọn đời làm cư sĩ; trên đường về gặp Bà-la-môn Jānussoni, vị này xuống xe chắp tay hướng về Thế Tôn và thốt lời cảm hứng về vua Pasenadi nước Kosala (MN 99.28–31).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 99.4 (SC 7)
Vibhajjavādo kho ahamettha, māṇava; nāhamettha ekaṁsavādo. Gihissa vāhaṁ, māṇava, pabbajitassa vā micchāpaṭipattiṁ na vaṇṇemi. Gihī vā hi, māṇava, pabbajito vā micchāpaṭipanno micchāpaṭipattādhikaraṇahetu na ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ. Gihissa vāhaṁ, māṇava, pabbajitassa vā sammāpaṭipattiṁ vaṇṇemi. Gihī vā hi, māṇava, pabbajito vā sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
Này thanh niên Bà-la-môn, ở đây, Ta chủ trương phân tích; ở đây, Ta không chủ trương nói một chiều. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta không tán thán tà đạo của kẻ tại gia hay kẻ xuất gia. Này Thanh niên Bà-la-môn, kẻ tại gia hay kẻ xuất gia hành tà đạo, do nhân duyên hành tà đạo, không thành tựu được chánh đạo thiện pháp. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta tán thán chánh đạo của kẻ tại gia hay kẻ xuất gia. Này Thanh niên Bà-la-môn, kẻ tại gia hay kẻ xuất gia hành chánh đạo, do nhân duyên hành chánh đạo, thành tựu được chánh đạo thiện pháp.
“On this point, student, I speak after analyzing the question, not one-sidedly. I don’t praise wrong practice for either laypeople or renunciates. Because of wrong practice, neither laypeople nor renunciates succeed in the system of the skillful teaching. I praise right practice for both laypeople and renunciates. Because of right practice, both laypeople and renunciates succeed in the system of the skillful teaching.”
MN 99.9 (SC 23, phần cuối)
Seyyathāpi, māṇava, andhaveṇi paramparāsaṁsattā purimopi na passati majjhimopi na passati pacchimopi na passati; evameva kho, māṇava, andhaveṇūpamaṁ maññe brāhmaṇānaṁ bhāsitaṁ sampajjati—purimopi na passati majjhimopi na passati pacchimopi na passatī”ti.
Ví như, này Thanh niên Bà-la-môn, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, chúng tôi nghĩ lời nói của những Bà-la-môn trở thành giống như một chuỗi người mù, người đầu không thấy, người giữa không thấy, người cuối cùng cũng không thấy.
Suppose there was a queue of blind men, each holding the one in front: the first one does not see, the middle one does not see, and the last one does not see. In the same way, it seems to me that the brahmins’ statement turns out to be comparable to a queue of blind men: the first one does not see, the middle one does not see, and the last one does not see.”
MN 99.15 (SC 47)
Pañca kho ime, māṇava, nīvaraṇā. Katame pañca? Kāmacchandanīvaraṇaṁ, byāpādanīvaraṇaṁ, thinamiddhanīvaraṇaṁ uddhaccakukkuccanīvaraṇaṁ, vicikicchānīvaraṇaṁ—ime kho, māṇava, pañca nīvaraṇā. Imehi kho, māṇava, pañcahi nīvaraṇehi brāhmaṇo pokkharasāti opamañño subhagavaniko āvuto nivuto ophuṭo pariyonaddho. So vata uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ ñassati vā dakkhati vā sacchi vā karissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Này Thanh niên Bà-la-môn, có năm triền cái này. Thế nào là năm? Tham dục triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi triền cái. Này Thanh niên Bà-la-môn, như vậy là năm triền cái. Này Thanh niên Bà-la-môn, Bà-la-môn Pokkharasati thuộc dòng họ Upamanna, trú ở rừng Subhaga đã bị trùm che, ngăn chận, bao phủ, và bao trùm bởi năm triền cái này. Vị ấy biết được, thấy được, hay chứng tri được các pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; sự kiện như vậy không xảy ra.
“Student, there are these five hindrances. What five? The hindrances of sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt. These are the five hindrances. Pokkharasāti is obstructed, hindered, engulfed, and enveloped by these five hindrances. It is quite impossible for him to know or see or realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.
MN 99.17 (SC 51)
Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, māṇava, anavakāso yaṁ nissaṭṭhatiṇakaṭṭhupādānaṁ aggiṁ jāleyya aññatra iddhimatā. Seyyathāpi, māṇava, tiṇakaṭṭhupādānaṁ paṭicca aggi jalati tathūpamāhaṁ, māṇava, imaṁ pītiṁ vadāmi yāyaṁ pīti pañca kāmaguṇe paṭicca. Seyyathāpi, māṇava, nissaṭṭhatiṇakaṭṭhupādāno aggi jalati tathūpamāhaṁ, māṇava, imaṁ pītiṁ vadāmi yāyaṁ pīti aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi. Katamā ca, māṇava, pīti aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi? Idha, māṇava, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, māṇava, pīti aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi. Puna caparaṁ, māṇava, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā … dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Ayampi kho, māṇava, pīti aññatreva kāmehi aññatra akusalehi dhammehi.
Này Thanh niên Bà-la-môn, không có sự kiện, không có trường hợp có thể đốt lửa mà không nhờ cỏ và củi khô, trừ phi dùng thần thông. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta nói hỷ này, hỷ do năm dục trưởng dưỡng đem lại, hỷ này ví như ngọn lửa đốt lên nhờ cỏ và củi khô. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta nói hỷ này, hỷ do ly dục, ly các bất thiện pháp đem lại, hỷ này ví như ngọn lửa đốt lên, không nhờ cỏ và củi khô. Và này Thanh niên Bà-la-môn, thế nào là hỷ do ly dục, ly các bất thiện pháp đem lại? Ở đây, nay thanh niên Bà-la-môn, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất. Hỷ này, này Thanh niên Bà-la-môn, là hỷ ly dục, ly bất thiện pháp đem lại. Lại nữa, này Thanh niên Bà-la-môn, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, … chứng và trú Thiền thứ hai. Hỷ này, này Thanh niên Bà-la-môn, là hỷ ly dục, ly bất thiện pháp đem lại.
“But it isn’t possible, except by psychic power. Rapture that depends on the five kinds of sensual stimulation is like a fire that depends on grass and logs as fuel. Rapture that’s apart from sensual pleasures and unskillful qualities is like a fire that doesn’t depend on grass and logs as fuel. And what is rapture that’s apart from sensual pleasures and unskillful qualities? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is rapture that’s apart from sensual pleasures and unskillful qualities. Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This too is rapture that’s apart from sensual pleasures and unskillful qualities.
MN 99.19 (SC 56–57)
“Evaṁ sante kho, māṇava, brāhmaṇānaṁ idaṁ chaṭṭhaṁ puññakiriyavatthu hoti—yadidaṁ anukampājātikan”ti. “Evaṁ sante, bho gotama, brāhmaṇānaṁ idaṁ chaṭṭhaṁ puññakiriyavatthu hoti—yadidaṁ anukampājātikan”ti.
—Sự kiện là như vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, thời đây có phải là tác phước sự thứ sáu, nghĩa là lòng ái mẫn?
—Sự kiện là như vậy, thưa Tôn giả Gotama, thời đây là tác phước sự thứ sáu, nghĩa là lòng ái mẫn.
“In that case, isn’t this a sixth ground for making merit, namely, being born from sympathy?” “In that case, this is a sixth ground for making merit, namely, being born from sympathy.”
MN 99.21 (SC 60, phần đầu)
“Ye te, māṇava, brāhmaṇā pañca dhamme paññapenti puññassa kiriyāya kusalassa ārādhanāya cittassāhaṁ ete parikkhāre vadāmi—yadidaṁ cittaṁ averaṁ abyābajjhaṁ tassa bhāvanāya.
Này Thanh niên Bà-la-môn, năm pháp tác phước, đắc thiện này được các vị Bà-la-môn chủ trương, Ta nói những pháp này là những tư cụ của tâm, nghĩa là để tâm tu tập không hận, không sân.
“I say that the five things prescribed by the brahmins for making merit are prerequisites of the mind for developing a mind free of enmity and ill will.
MN 99.24 (SC 71)
“Katamo ca, māṇava, brahmānaṁ sahabyatāya maggo? Idha, māṇava, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. Evaṁ bhāvitāya kho, māṇava, mettāya cetovimuttiyā yaṁ pamāṇakataṁ kammaṁ na taṁ tatrāvasissati, na taṁ tatrāvatiṭṭhati. Seyyathāpi, māṇava, balavā saṅkhadhamo appakasireneva cātuddisā viññāpeyya; evameva kho, māṇava …pe… evaṁ bhāvitāya kho, māṇava, mettāya cetovimuttiyā yaṁ pamāṇakataṁ kammaṁ na taṁ tatrāvasissati, na taṁ tatrāvatiṭṭhati. Ayampi kho, māṇava, brahmānaṁ sahabyatāya maggo.
Và này Thanh niên Bà-la-môn, thế nào là con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên? Ở đây, này Thanh niên Bà-la-môn, Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Này Thanh niên Bà-la-môn, khi từ tâm giải thoát được tu tập như vậy, thì hành động được làm có tánh cách hạn lượng như vậy, không có trú ở nơi đây, không có dừng lại ở nơi đây. Ví như, này Thanh niên Bà-la-môn, một người lực sĩ thổi tù và làm cho bốn phương nghe được, không gì khó khăn; cũng vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, khi từ tâm giải thoát được tu tập như vậy, thì hành động được làm có tánh cách hạn lượng, không có trú ở nơi đây, không có dừng lại ở nơi đây. Này Thanh niên Bà-la-môn, đây là con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên.
“And what is a path to company with divinity? Firstly, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. When the heart’s release by love has been developed like this, any limited deeds they’ve done don’t remain or persist there. Suppose there was a powerful horn blower. They’d easily make themselves heard in the four quarters. In the same way, when the heart’s release by love has been developed like this, any limited deeds they’ve done don’t remain or persist there. This is a path to company with divinity.
MN 99.28 (SC 74)
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ.
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Thưa Tôn giả Gotama, nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vibhajjavādachủ trương phân tích; trả lời sau khi phân tích, không nói một chiềuHT. Thích Minh Châu dịch: "Ta chủ trương phân tích" (MN 99.4)
ekaṁsavādanói một chiều, khẳng định dứt khoát một bề
ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁchánh đạo thiện pháp
kammaṭṭhānanghiệp sự, công việc làm ănTrong kinh này dùng theo nghĩa công việc mưu sinh (nông nghiệp, buôn bán), bản Việt ghi chú "(Kammatthanam)"
gahaṭṭha / pabbajitangười tại gia / người xuất gia
sacca, tapa, brahmacariya, ajjhena, cāgachân thực, khổ hạnh, phạm hạnh, tụng đọc, thí xả — năm pháp các Bà-la-môn chủ trương tác phước, đắc thiện
puññakiriyavatthutác phước sự, nền tảng làm phước
anukampālòng ái mẫn, lòng thương xót
andhaveṇichuỗi người mù ôm lưng nhau
uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesapháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh
pañca nīvaraṇānăm triền cái: tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi
pañca kāmaguṇānăm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái)
pītihỷ
jhānaThiền (Thiền thứ nhất, Thiền thứ hai…)
cittassa parikkhāratư cụ của tâm, những vật dụng trợ duyên cho tâm
averaṁ abyābajjhaṁ cittaṁtâm không hận, không sân
mettā, karuṇā, muditā, upekkhātừ, bi, hỷ, xả
cetovimuttitâm giải thoát (như "từ tâm giải thoát" — mettā cetovimutti)
brahmānaṁ sahabyatāya maggocon đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên
upāsakacư sĩ, nam cư sĩ

Subha mở đầu bằng một câu rất dứt khoát: theo các Bà-la-môn, người tại gia mới thành tựu chánh đạo thiện pháp, còn người xuất gia thì không.

Câu trả lời của Thế Tôn là một trong những câu quan trọng nhất để hiểu đạo Phật: Ngài nói ở đây Ngài “chủ trương phân tích” (vibhajjavāda), không nói một chiều. Dù tại gia hay xuất gia, hễ hành tà đạo thì không thành tựu, hễ hành chánh đạo thì thành tựu.

Xin thưa rõ ý nghĩa của chữ “phân tích” ở đây. Nó nghĩa là: trước một câu hỏi gộp, đừng vội trả lời gộphãy tách ra. Rất nhiều tranh cãi trong đời sinh ra vì hai bên tranh nhau trả lời “có” hay “không” cho một câu vốn phải tách ra mới đúng.

Subha nêu tiếp: nghiệp sự của người tại gia là việc lớn nên quả lớn, của người xuất gia là việc nhỏ nên quả nhỏ. Thế Tôn lại phân tích: nghề nông là việc lớn, nhưng làm hỏng thì quả nhỏ, làm đúng thì quả lớn; buôn bán là việc nhỏcũng đúng như vậy.

Điều quyết định là làm đúng hay làm hỏng, không phải việc lớn hay nhỏ. Đây là một câu rất an ủi cho người làm việc nhỏ: quét sân chùa cho tử tế có thể hơn một việc lớn làm cẩu thả.

Rồi Subha nêu năm pháp các Bà-la-môn chủ trương để tác phước: chân thực, khổ hạnh, phạm hạnh, tụng đọc, thí xả.

Thế Tôn hỏi một câu rất giản dị mà không ai đỡ được: có vị Bà-la-môn nào, hay thầy tổ cho tới bảy đời, hay các vị tu sĩ thời cổ đã sáng tác thần chú, tự mình chứng tri rồi mới tuyên thuyết quả của năm pháp ấy chăng? Subha đều đáp: không.

Từ đó là ví dụ nổi tiếng: một chuỗi người mù ôm lưng nhau. Người đầu không thấy, người giữa không thấy, người cuối không thấy. Cả hàng đi rất tin tưởngmà không ai trong hàng từng nhìn thấy đường.

Xin Huynh Trưởng để ý điều này rất kỹ. Ví dụ ấy không chê ai ngu. Nó chỉ nói: truyền lại lâu đời không có nghĩa là có ai từng thấy. Và đây là điều đạo Phật cũng đòi hỏi ở chính mìnhThế Tôn luôn mời người ta tự chứng, đừng tin suông.

Subha phẫn nộ và dẫn lời thầy mình, Bà-la-môn Pokkharasāti, bác bỏ chuyện có pháp thượng nhân.

Thế Tôn không cãi lại lời vắng mặt ấy. Ngài hỏi Subha một câu, và chính Subha phải thừa nhận: Pokkharasāti không biết được cả tâm của người đầy tớ gái trong nhà mình.

Rồi tới ví dụ người sanh ra đã mù. Người ấy nói: không có màu sắc, không có sao, không có mặt trăng mặt trời — vì “tôi không biết, tôi không thấy, do vậy không có”. Thế Tôn dạy: nói như vậy là không chân chánh.

Đây là một bài học rất lớn về sự khiêm cung của trí. “Tôi chưa thấy”một câu thành thật. “Vậy là không có”một bước nhảy không có căn cứ. Bài kinh chỉ trách bước nhảy ấy.

Thế Tôn còn nói rõ vì sao Pokkharasāti không thể chứng tri: ông bị năm triền cái trùm chebị năm dục trưởng dưỡng trói buộc. Không phải vì ông kém thông minh — mà vì tâm đang bị che.

Rồi Ngài phân biệt hai thứ hỷ bằng ví dụ ngọn lửa: hỷ do năm dục như lửa phải nhờ cỏ củi khôhết củi thì tắt; hỷ do ly dục trong Thiền thứ nhất và thứ hai như lửa không nhờ cỏ củi.

Ví dụ này rất đáng dạy cho các em lớn. Niềm vui phải cắm điện mới có thì rút điện là hết. Đạo Phật không cấm niềm vui — đạo Phật chỉ cho biết có một thứ vui không cần cắm điện.

Bàn tiếp về năm pháp, Thế Tôn dẫn Subha nhận ra “tác phước sự thứ sáu”: lòng ái mẫn. Qua ví dụ hai Bà-la-môn tranh chỗ ngồi tại tế đàn, chính Subha nhận rằng bố thí chỉ vì lòng thương mới là điều đáng kể.

Và Ngài kết về năm pháp một cách rất khác với cách hỏi ban đầu: năm pháp ấy là tư cụ của tâmđồ dùng để tu tâm, để tâm không hận, không sân. Chúng không phải cái giá phải trả để mua phước.

Cuối kinh Subha xin nghe con đường đưa đến cọng trú với Phạm thiên, và Thế Tôn dạy bốn tâm từ, bi, hỷ, xả biến mãn khắp mười phương. Subha xin quy y và trọn đời làm cư sĩ.

Xin để ý một điều rất đẹp về Subha. Ông đã phẫn nộ, đã mạ lỵ giữa buổi. Thế Tôn không đuổi ông, không hạ ông một câu nào. Buổi nói chuyện vẫn đi tới cùng — và người nổi giận lúc giữa buổi là người quy y lúc cuối buổi.

  • “Thế Tôn bênh người xuất gia.” Ngược lại — chính chỗ này Ngài từ chối trả lời một chiều. Tiêu chuẩn là chánh đạo hay tà đạo, không phải tại gia hay xuất gia.
  • “Ví dụ người mù là chê các Bà-la-môn.” Ví dụ ấy nhắm vào một cách lập luận: truyền lại lâu đời“tôi không thấy nên không có”. Người theo đạo Phật cũng có thể mắc đúng lỗi ấy.
  • “Trong năm pháp, thí xả quả báo lớn nhất — Phật dạy vậy.” Không. Đó là câu trả lời của chính Subha (mn99:18.2) khi được Thế Tôn hỏi các Bà-la-môn chủ trương thế nào. Bản nháp của trang này viết mơ hồ, dễ đọc thành lời Thế Tôn — đã sửa.
  • Ngành Oanh. Chơi trò nối đuôi bịt mắt, rồi hỏi: người dẫn đầu cũng bịt mắt thì cả hàng đi đâu?
  • Ngành Thiếu. Tập nói ba chữ “em chưa biết” thay vì “không có đâu”, và bàn xem hai câu ấy khác nhau chỗ nào.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Lấy ví dụ hai ngọn lửa mà xét lại: những niềm vui của mình tuần qua, thứ nào cần cắm điện?
  • “Chủ trương phân tích” nghĩa là gì?
  • Ví dụ chuỗi người mù nói lên điều gì?
  • Câu “tôi không thấy, vậy là không có” sai ở chỗ nào?
  • Hai thứ hỷ khác nhau thế nào qua ví dụ ngọn lửa?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.