G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 96
Lửa Mang Tên Củi · Người Mang Tên Dòng Họ

Kinh Esukārī

Esukārī Sutta — MN 96 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Esukārī

Bà-la-môn Esukārī nêu chủ trương ai phải phụng sự ai, ai được có tài sản gìchia theo bốn giai cấp. Thế Tôn hỏi lại một câu giản dị: có phải cả đời đều đồng ý như vậy không? Rồi Ngài đưa ra ví dụ ngọn lửa: lửa được gọi tên theo củinhưng lửa nào cũng có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng như nhau.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 96
  • Nơi thuyết — Sāvatthī, rừng Jetavana, tinh xá ông Cấp Cô Độc
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu
  • Cùng chủ đề — MN 93 Assalāyana, MN 84 Madhurā

Kinh này ghi lại cuộc đối thoại giữa Thế Tôn và Bà-la-môn Esukari tại tinh xá Cấp Cô Ðộc, xoay quanh vấn đề giai cấp — một vấn đề rất nặng nề trong xã hội Ấn Độ thời ấy. Esukari nêu chủ trương thứ nhất của các Bà-la-môn: có bốn loại phụng sự, chia theo bốn giai cấp Bà-la-môn, Khattiya (Sát-đế-lỵ), Vessa (Phệ-xá) và Sudda (Thủ-đà); người giai cấp thấp phải phụng sự người giai cấp cao, còn Sudda thì chỉ có Sudda phụng sự. Thế Tôn hỏi lại: có phải tất cả mọi người ở đời đều đồng ý với chủ trương ấy không? Esukari đáp là không. Thế Tôn dùng ví dụ người nghèo khốn khổ bị ép nuốt miếng thịt rồi bắt phải trả tiền, để chỉ rằng các Bà-la-môn đã áp đặt chủ trương ấy mà không được người khác chấp nhận. Rồi Thế Tôn nêu tiêu chuẩn khác hẳn: không phải sanh trong gia đình cao quý, không phải nhan sắc hay tài sản thù thắng làm cho người ta tốt hơn hay xấu hơn; điều đáng kể là hành vi — mười thiện nghiệp hay mười ác nghiệp. Về việc phụng sự, Ngài không nói tất cả cần phụng sự, cũng không nói tất cả không cần phụng sự: hãy phụng sự người mà khi phụng sự thì lòng tin, giới, sự nghe (văn), bố thí và trí tuệ của mình được tăng trưởng. Esukari nêu tiếp chủ trương thứ hai: bốn loại tài sản theo giai cấp (khất thực, cung tên, canh nông nuôi bò, lưỡi liềm và đòn gánh). Thế Tôn lại bác bằng cùng ví dụ miếng thịt, và tuyên bố tài sản đích thực cho con người là Thánh pháp vô thượng. Ngài ví với ngọn lửa: lửa được gọi tên theo nhiên liệu (lửa củi, lửa cỏ, lửa phân bò), cũng như người được gọi theo gia đình mình sanh ra — chỉ là tên gọi, không phải giá trị. Bằng ba câu hỏi liên tiếp, Thế Tôn buộc chính Esukari phải tự thừa nhận: cả bốn giai cấp đều có thể tu tập từ tâm không hận không sân, đều có thể tắm rửa sạch bụi bặm, và lửa nhen từ củi hạ tiện cũng có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng như lửa nhen từ gỗ chiên-đàn. Cũng vậy, người thuộc bất cứ gia đình nào, khi xuất gia sống theo Pháp và Luật của Như Lai, giữ giới và có chánh kiến, đều thành tựu chánh đạo thiện pháp. Cuối kinh, Esukari xin quy y Tam Bảo trọn đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — SC 1-2: Thế Tôn trú tại Sāvatthi, rừng Jetavana, tinh xá ông Anāthapiṇḍika. Bà-la-môn Esukari đến chào hỏi rồi ngồi xuống một bên.
  • 2. Câu hỏi thứ nhất: bốn loại phụng sự — SC 3: Esukari trình bày chủ trương của các Bà-la-môn về bốn loại phụng sự theo giai cấp Bà-la-môn, Khattiya, Vessa, Sudda.
  • 3. Thế Tôn bác chủ trương: ví dụ miếng thịt bị ép ăn — SC 4-6: Không phải tất cả mọi người đồng ý; ví như người nghèo khốn khổ bị bắt nuốt miếng thịt rồi phải trả tiền.
  • 4. Tiêu chuẩn phụng sự: tốt hơn hay xấu hơn — SC 7-9: Không phải tất cả cần phụng sự hay không cần phụng sự; chỉ nên phụng sự người mà nhờ đó mình trở thành tốt hơn. Cả Khattiya lẫn Sudda nếu trả lời chân chánh đều đáp như vậy.
  • 5. Sanh trong gia đình cao quý, nhan sắc, tài sản không quyết định — SC 10-12: Không nói tốt hơn hay xấu hơn vì sanh trong gia đình cao quý, vì nhan sắc thù thắng, vì tài sản thù thắng; vì trong các hạng ấy có người làm ác, có người làm thiện.
  • 6. Nên phụng sự ai: năm pháp tăng trưởng — SC 13: Nên phụng sự người mà nhờ phụng sự, lòng tin, giới, sự nghe, bố thí, trí tuệ được tăng trưởng.
  • 7. Câu hỏi thứ hai: bốn loại tài sản — SC 14-18: Esukari trình bày chủ trương bốn loại tài sản theo giai cấp; Thế Tôn lại hỏi có phải tất cả đều đồng ý.
  • 8. Tài sản vô thượng là Thánh pháp — ví dụ ngọn lửa mang tên nhiên liệu — SC 19: Ta chủ trương tài sản cho con người là Thánh pháp vô thượng; người được gọi theo gia đình sanh ra, cũng như lửa được gọi theo củi, dăm bào, cỏ, phân bò.
  • 9. Xuất gia từ bất cứ gia đình nào cũng thành tựu chánh đạo — SC 20-21: Người từ gia đình Khattiya, Bà-la-môn, Vessa hay Sudda xuất gia, nhờ Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, giữ giới và có chánh kiến, đều thành tựu chánh đạo, thiện pháp.
  • 10. Ba ví dụ buộc Esukari tự thừa nhận: từ tâm, tắm sông, ngọn lửa — SC 22-29: Cả bốn giai cấp đều có thể tu tập từ tâm không hận không sân; đều có thể tắm rửa sạch đất bụi; lửa nhen từ củi hạ tiện cũng có ngọn, có màu sắc, có ánh sáng như lửa nhen từ gỗ quý.
  • 11. Esukari quy y — SC 30-31: Bà-la-môn Esukari tán thán Chánh pháp và xin quy y Phật, Pháp, chúng Tỷ-kheo, trọn đời quy ngưỡng.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 6 (mn96:4.3-4.4)
Seyyathāpi, brāhmaṇa, puriso daliddo assako anāḷhiyo. Tassa akāmassa bilaṁ olaggeyyuṁ: ‘idaṁ te, ambho purisa, maṁsaṁ khāditabbaṁ, mūlañca anuppadātabban’ti. Evameva kho, brāhmaṇa, brāhmaṇā appaṭiññāya tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ, atha ca panimā catasso pāricariyā paññapenti.
—Này Bà-la-môn, ví như một người nghèo nàn, không có sở hữu, khốn khổ, dầu cho người đó không muốn, vẫn bị bắt nuốt miếng thịt: “Này người kia, Ông phải ăn miếng thịt này và Ông phải trả một số tiền”. Cũng vậy, này Bà-la-môn, dầu không được các Sa-môn, Bà-la-môn ấy chấp nhận, các Bà-la-môn chủ trương bốn loại phụng sự này.
“It’s as if they were to force a chop on a poor, penniless person, telling them, ‘Eat this meat and pay for it!’ In the same way, the brahmins have prescribed these four kinds of service without the consent of those ascetics and brahmins.
SC 7 (mn96:5.1-5.3)
Nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘sabbaṁ paricaritabban’ti vadāmi; nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘sabbaṁ na paricaritabban’ti vadāmi. Yaṁ hissa, brāhmaṇa, paricarato pāricariyāhetu pāpiyo assa na seyyo, nāhaṁ taṁ ‘paricaritabban’ti vadāmi; yañca khvāssa, brāhmaṇa, paricarato pāricariyāhetu seyyo assa na pāpiyo tamahaṁ ‘paricaritabban’ti vadāmi.
Này Bà-la-môn, Ta không nói rằng, tất cả cần phải phụng sự. Nhưng này Bà-la-môn, Ta cũng không nói rằng, tất cả không cần phải phụng sự. Vì rằng, này Bà-la-môn, nếu có ai trong khi phụng sự, trở thành xấu hơn, không trở thành tốt hơn, Ta không nói rằng, người đó cần phải phụng sự. Nhưng này Bà-la-môn, nếu có ai trong khi phụng sự, trở thành tốt hơn, không trở thành xấu hơn. Ta nói rằng, người đó cần phải phụng sự.
Brahmin, I don’t say that you should serve everyone, nor do I say that you shouldn’t serve anyone. I say that you shouldn’t serve someone if serving them makes you worse, not better. And I say that you should serve someone if serving them makes you better, not worse.
SC 10 (mn96:7.7-7.9)
Nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uccākulīnatā seyyaṁso’ti vadāmi, na panāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uccākulīnatā pāpiyaṁso’ti vadāmi; nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uḷāravaṇṇatā seyyaṁso’ti vadāmi, na panāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uḷāravaṇṇatā pāpiyaṁso’ti vadāmi; nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uḷārabhogatā seyyaṁso’ti vadāmi, na panāhaṁ, brāhmaṇa, ‘uḷārabhogatā pāpiyaṁso’ti vadāmi.
Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì sanh trong một gia đình cao quý. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì sanh trong một gia đình cao quý. Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì nhan sắc thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì nhan sắc thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói tốt hơn vì tài sản thù thắng. Này Bà-la-môn, Ta không nói xấu hơn vì tài sản thù thắng.
Brahmin, I don’t say that an eminent family makes you a better or worse person. I don’t say that exceptional beauty makes you a better or worse person. I don’t say that exceptional wealth makes you a better or worse person.
SC 13 (mn96:9.1-9.2)
Nāhaṁ, brāhmaṇa, ‘sabbaṁ paricaritabban’ti vadāmi, na panāhaṁ, brāhmaṇa, ‘sabbaṁ na paricaritabban’ti vadāmi. Yaṁ hissa, brāhmaṇa, paricarato pāricariyāhetu saddhā vaḍḍhati, sīlaṁ vaḍḍhati, sutaṁ vaḍḍhati, cāgo vaḍḍhati, paññā vaḍḍhati, tamahaṁ ‘paricaritabban’ti vadāmi.
Này Bà-la-môn, Ta không nói tất cả cần phải phụng sự. Nhưng này Bà-la-môn, Ta cũng không nói tất cả không cần phải phụng sự. Này Bà-la-môn, người nào phụng sự, do nguyên nhân phụng sự này, lòng tin được tăng trưởng, giới được tăng trưởng, sự nghe được tăng trưởng, bố thí được tăng trưởng, trí tuệ được tăng trưởng, Ta nói người ấy cần phải phụng sự.
Brahmin, I don’t say that you should serve everyone, nor do I say that you shouldn’t serve anyone. And I say that you should serve someone if serving them makes you grow in faith, ethics, learning, generosity, and wisdom.
SC 19 (mn96:12.1, 12.7-12.11)
Ariyaṁ kho ahaṁ, brāhmaṇa, lokuttaraṁ dhammaṁ purisassa sandhanaṁ paññapemi. … Seyyathāpi, brāhmaṇa, yaṁyadeva paccayaṁ paṭicca aggi jalati tena teneva saṅkhyaṁ gacchati. Kaṭṭhañce paṭicca aggi jalati ‘kaṭṭhaggi’tveva saṅkhyaṁ gacchati; sakalikañce paṭicca aggi jalati ‘sakalikaggi’tveva saṅkhyaṁ gacchati; tiṇañce paṭicca aggi jalati ‘tiṇaggi’tveva saṅkhyaṁ gacchati; gomayañce paṭicca aggi jalati ‘gomayaggi’tveva saṅkhyaṁ gacchati.
Này Bà-la-môn, Ta chủ trương tài sản cho con người là Thánh pháp vô thượng. … Này Bà-la-môn, như tùy thuộc duyên gì một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa được chấp nhận theo duyên ấy. Nếu do duyên củi, một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa ấy được chấp nhận là lửa củi. Nếu do duyên dăm bào, một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa ấy được chấp nhận là lửa dăm bào. Nếu do duyên cỏ, một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa ấy được chấp nhận là lửa cỏ. Nếu do duyên phân bò, một ngọn lửa được đốt lên, thời ngọn lửa ấy được chấp nhận là lửa phân bò.
I assert that a person’s own wealth is the noble, transcendent teaching. … It’s like fire, which is reckoned according to the very same condition dependent upon which it burns. A fire that burns dependent on logs is reckoned as a log fire. A fire that burns dependent on twigs is reckoned as a twig fire. A fire that burns dependent on grass is reckoned as a grass fire. A fire that burns dependent on cow-dung is reckoned as a cow-dung fire.
SC 20 (mn96:13.1)
Khattiyakulā cepi, brāhmaṇa, agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, abrahmacariyā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti, anabhijjhālu hoti, abyāpannacitto hoti, sammādiṭṭhi hoti, ārādhako hoti ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Nhưng này Bà-la-môn, nếu một người từ một gia đình Khattiya xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình nhờ Pháp và Luật được Như Lai tuyên thuyết, người ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham tâm, không có sân tâm, có chánh kiến, người ấy thành tựu chánh đạo, thiện pháp.
Suppose someone from a family of aristocrats goes forth from the lay life to homelessness. Relying on the teaching and training proclaimed by the Realized One they refrain from killing living creatures, stealing, and sex. They refrain from using speech that’s false, divisive, harsh, or nonsensical. And they’re content, kind-hearted, with right view. They succeed in the system of the skillful teaching.
SC 23 (mn96:14.8)
sabbepi hi, bho gotama, cattāro vaṇṇā pahonti asmiṁ padese averaṁ abyābajjhaṁ mettacittaṁ bhāvetun”ti.
Tất cả bốn giai cấp, thưa Tôn giả Gotama, trong lập trường này đều có thể tu tập từ tâm, không hận, không sân.
For all four classes are capable of developing a heart of love free of enmity and ill will for this region.”
SC 28 (mn96:16.11)
Sabbopi hi, bho gotama, aggi accimā ceva vaṇṇavā ca pabhassaro ca sabbenapi sakkā agginā aggikaraṇīyaṁ kātun”ti.
Thưa Tôn giả Gotama, tất cả ngọn lửa đều có ngọn, đều có màu sắc, đều có ánh sáng, tất cả loại lửa đều có thể dùng được vào các công việc do lửa đem lại.
For all fire has flames, color, and radiance, and is usable as fire.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pāricariyāsự phụng sự, hầu hạBản Việt HT. Thích Minh Châu dịch là “phụng sự”.
brāhmaṇaBà-la-mônGiai cấp tế tự, tự cho là cao nhất.
khattiyaSát-đế-lỵBản Việt ghi “Khattiya”, giai cấp vua chúa, chiến sĩ.
vessaPhệ-xá: người buôn bánChú thích ngay trong bản Việt SC 3.
suddaThủ-đà: lao côngChú thích ngay trong bản Việt SC 3.
cattāro vaṇṇābốn giai cấp
sandhanatài sản (của riêng mình)
ariya lokuttara dhammaThánh pháp vô thượngBản Việt SC 19 dịch “Thánh pháp vô thượng”; Pāli lokuttara nghĩa là siêu thế.
mettacittatừ tâm
avera, abyābajjhakhông hận, không sân
saddhā, sīla, suta, cāga, paññālòng tin, giới, sự nghe (văn), bố thí, trí tuệNăm pháp tăng trưởng làm tiêu chuẩn chọn người để phụng sự (SC 13).
sammādiṭṭhichánh kiến
agārasmā anagāriyaṁ pabbajitoxuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình
ñāya dhamma kusalachánh đạo, thiện phápBản Việt: “thành tựu chánh đạo, thiện pháp”.
caṇḍālaChiên-đà-la (hạ tiện)Chú thích trong bản Việt SC 27.

Bài kinh này đụng tới vấn đề nặng nề nhất của xã hội Ấn Độ thời ấy: giai cấp. Bà-la-môn Esukārī trình bày chủ trương của giới mình về bốn loại phụng sự: người giai cấp thấp phải phụng sự người giai cấp cao, còn Sudda thì chỉ có Sudda phụng sự.

Thế Tôn không tranh cãi về nội dung ngay. Ngài hỏi một câu đơn giản đến bất ngờ: có phải tất cả mọi người ở đời đều đồng ý với chủ trương ấy không? Esukārī phải đáp: không.

Xin để ý cách hỏi này. Ngài không nói “điều ấy sai”. Ngài chỉ hỏi ai cho phép. Một quy tắc chỉ do một nhóm đặt ra rồi bắt cả xã hội theo thì tự nó đã lộ chỗ yếu.

Rồi Ngài đưa ra một ví dụ rất mạnh. Như có người nghèo khốn khổ, bị người ta ép nuốt một miếng thịt rồi bắt phải trả tiền. Các Bà-la-môn áp đặt chủ trương ấy lên người khác đúng như vậyngười ta không xin, mà vẫn phải nhận và phải chịu.

Ví dụ này rất đáng suy nghĩ trong đời sống hôm nay. Có những tập tục, thành kiến, quy ướcchúng ta không hề chọn, chỉ được trao chorồi phải trả giá cả đời.

Rồi Thế Tôn nêu tiêu chuẩn khác hẳn. Ngài dạy: không phải sanh trong gia đình cao quý, không phải nhan sắc thù thắng, không phải tài sản thù thắng làm cho người ta tốt hơn hay xấu hơn. Vì trong hạng nào cũng có người làm ác, có người làm thiện.

Điều đáng kể là hành vi: mười thiện nghiệp hay mười ác nghiệp. Đây là tiêu chuẩn ai cũng kiểm được, không cần tra gia phả.

Về việc phụng sự, câu trả lời của Ngài rất cân bằng. Ngài không nói tất cả đều cần phụng sự, cũng không nói tất cả đều không cần. Ngài dạy: hãy phụng sự người mà khi phụng sự thì lòng tin, giới, sự nghe, bố thí và trí tuệ của mình được tăng trưởng.

Xin thưa đây là một câu rất đáng ghi nhớ suốt đời. Nó cho ta một cái thước để chọn thầy, chọn bạn, chọn nơi sinh hoạt: không hỏi người ấy là ai, mà hỏi gần người ấy thì mình có tốt lên không.

Esukārī nêu tiếp chủ trương thứ hai: bốn loại tài sản theo giai cấpkhất thực, cung tên, canh nông nuôi bò, lưỡi liềm và đòn gánh. Thế Tôn lại bác bằng đúng ví dụ miếng thịt, rồi tuyên bố: tài sản đích thực cho con người là Thánh pháp vô thượng.

Rồi đến ví dụ đẹp nhất của bài kinh: ngọn lửa. Lửa được gọi tên theo nhiên liệulửa củi, lửa dăm bào, lửa cỏ, lửa phân bò. Cũng vậy, người được gọi theo gia đình mình sanh ra. Đó chỉ là tên gọi.

Ví dụ này hay ở chỗ nó không chối bỏ sự thật. Thế Tôn không nói “không có dòng họ”. Ngài công nhận người ta có gọi tên như vậynhưng cái tên không phải cái giá trị.

Sau đó Ngài dùng ba câu hỏi buộc chính Esukārī tự thừa nhận. Một: cả bốn giai cấp đều có thể tu tập từ tâm, không hận, không sân chứ? — . Hai: cả bốn đều có thể xuống sông tắm rửa sạch bụi bặm chứ? — . Ba: lửa nhen từ củi hạ tiệnngọn, màu sắc, ánh sáng khác lửa nhen từ gỗ chiên-đàn không? — Không khác.

Xin để ý Ngài không hề bắt Esukārī nhận mình sai. Ngài hỏi ba câu mà ai cũng phải trả lời như nhau, và kết luận tự nó hiện ra. Đây vẫn là cách dạy của bậc Đạo Sư: để người ta tự thấy.

Kết luận: người thuộc bất cứ gia đình nào, khi xuất gia sống theo Pháp và Luật của Như Lai, giữ giớicó chánh kiến, đều thành tựu chánh đạo thiện pháp. Cuối kinh, Esukārī xin quy y Tam Bảo trọn đời.

Vì sao bài kinh này rất cần cho đoàn sinh hôm nay. Chúng ta không còn chế độ giai cấp, nhưng vẫn còn cách xếp hạng người: học trường nào, nhà ở khu nào, cha mẹ làm nghề gì, tiếng Anh giọng gì. Ví dụ ngọn lửa trả lời được tất cả những chuyện ấy.

  • “Vậy không cần kính trọng ai cả.” Ngược lại. Kinh dạy phụng sự — chỉ đổi tiêu chuẩn: phụng sự người làm mình tăng trưởng lòng tin, giới, sự nghe, bố thí, trí tuệ.
  • “Thế Tôn bác cả chuyện dòng họ.” Ngài công nhận có tên gọi theo dòng họ — như lửa gọi theo củi. Điều Ngài bác là lấy cái tên ấy làm thước đo hơn kém.
  • “Chỉ người xuất gia mới thành tựu được.” Câu kết nói về người xuất gia theo mạch hỏi của Esukārī, nhưng tiêu chuẩn Ngài nêu suốt bài là mười thiện nghiệp và năm pháp tăng trưởngngười tại gia kiểm được từng ngày.
  • Ngành Oanh. Đốt (hoặc xem hình) hai ngọn nến khác nhau và hỏi: ánh sáng có khác nhau không? Rồi kể ví dụ ngọn lửa của Đức Phật.
  • Ngành Thiếu. Cho các em kể những cách người ta hay xếp hạng nhau ở trường, rồi đối chiếu với ba câu hỏi Thế Tôn đặt cho Esukārī.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Lấy năm pháp tăng trưởng làm thước tự xét lại các mối quan hệ của mình trong ba tháng qua.
  • Thế Tôn hỏi câu gì trước khi bàn tới nội dung chủ trương giai cấp?
  • Ví dụ miếng thịt bị ép ăn nói lên điều gì?
  • Nên phụng sự người nào, theo Thế Tôn?
  • Ví dụ ngọn lửa dạy điều gì về dòng họ và giá trị con người?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.