G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 94
Bốn Hạng Người · Và Cách Tranh Luận Có Văn Hoá

Kinh Ghoṭamukha

Ghoṭamukha Sutta — MN 94 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ghoṭamukha

Bà-la-môn Ghoṭamukha mở đầu bằng một lời phủ nhận thẳng thừng: “không có một sự xuất gia đúng pháp”. Tôn giả Udena không cãi lại — ngài đặt một giao ước, rồi nêu bốn hạng người. Và chính Ghoṭamukha tự rút lại lời mình. Bài kinh này đáng dạy cho đoàn sinh về cách tranh luận không kém gì về giáo lý.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 94
  • Nơi thuyết — Bārāṇasī, rừng xoài Khemiya
  • Người giảng — Tôn giả Udena, sau khi Thế Tôn đã nhập Niết-bàn
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Bà-la-môn Ghotamukha gặp Tôn giả Udena và mở đầu bằng một lời phủ nhận: theo ông, "không có một sự xuất gia đúng pháp" — nghĩa là ông không tin đời sống xuất gia có thể đúng chánh pháp; tuy vậy ông thừa nhận mình chưa từng gặp một vị đáng kính như Tôn giả Udena, cũng chưa từng nghe pháp ấy là gì. Trước khi luận bàn, Tôn giả Udena đặt điều kiện đối thoại rất đẹp: điều gì đáng tán đồng thì tán đồng, điều gì đáng bài bác thì bài bác, điều gì không hiểu thì hỏi lại. Đây là mẫu mực về cách tranh luận có văn hóa, rất đáng dạy cho đoàn sinh. Rồi Tôn giả Udena nêu bốn hạng người có mặt ở đời: (1) người tự hành khổ mình; (2) người hành khổ người khác; (3) người vừa hành khổ mình vừa hành khổ người; (4) người không hành khổ mình cũng không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Ghotamukha chỉ thích ý hạng thứ tư; được chính Tôn giả Udena hỏi vì sao tâm ông không thích ý ba hạng kia (mn94:6.1), ông mới thưa rằng ba hạng kia hành hạ mình hoặc hành hạ người, trong khi ai cũng ao ước lạc và chán ghét khổ. Tôn giả Udena tiếp: có hai hội chúng — hội chúng tham đắm châu báu, vợ con, tôi tớ, ruộng đất, vàng bạc; và hội chúng từ bỏ tất cả, xuất gia sống không gia đình. Hạng người thứ tư thường thấy ở hội chúng nào? Ghotamukha đáp: ở hội chúng xuất gia. Bấy giờ Tôn giả Udena mới nhắc lại lời phủ nhận ban đầu của ông, và Ghotamukha tự nhận lại: "Có một sự xuất gia đúng pháp." Ghotamukha xin giải rộng bốn hạng người. Tôn giả Udena giảng: hạng tự hành khổ mình là người khổ hạnh lõa thể ép xác đủ cách; hạng hành khổ người là kẻ làm nghề giết hại, săn bắn, đánh cá, cai ngục…; hạng hành khổ cả hai là vị vua hay Bà-la-môn triệu phú mở đại tế đàn giết hại súc vật, bắt kẻ tôi tớ khóc lóc làm việc vì sợ đòn gậy; hạng thứ tư chính là con đường Phật giáo: Như Lai ra đời thuyết pháp, người nghe pháp phát khởi lòng tin, xuất gia, giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, biết đủ, sống nơi thanh vắng, đoạn trừ năm triền cái, chứng bốn Thiền, rồi ba minh cho đến lậu tận: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành." Kết kinh, Ghotamukha xin quy y Tôn giả Udena; Tôn giả từ chối và chỉ ông quy y Thế Tôn. Ông xin dâng lên Tôn giả khoản bố thí thường xuyên hằng ngày mà vua nước Aṅga cấp cho ông — năm trăm kahāpana (không phải một món cúng một lần); Tôn giả không được phép nhận vàng bạc, nên khuyên xây giảng đường cho chúng Tăng ở Pātaliputta, và ông dùng khoản thường thí ấy cùng một khoản thường thí khác để xây. Giảng đường ấy về sau gọi là Ghotamukhi.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: cuộc gặp ở rừng xoài Khemiya — Tôn giả Udena trú tại Bārāṇāsī, rừng xoài Khemiya; Bà-la-môn Ghotamukha đến, tuyên bố 'không có một sự xuất gia đúng pháp'. (đoạn 1–4)
  • 2. Giao ước trước khi luận bàn — Tôn giả Udena đề nghị: tán đồng điều đáng tán đồng, bài bác điều đáng bài bác, không hiểu thì hỏi lại; Ghotamukha nhận lời. (đoạn 4)
  • 3. Bốn hạng người nêu vắn tắt — Tự hành khổ mình; hành khổ người; hành khổ cả hai; không hành khổ mình cũng không hành khổ người. Ghotamukha chọn hạng thứ tư, và khi Tôn giả Udena hỏi vì sao thì nói rõ lý do. (đoạn 5–6)
  • 4. Hai hội chúng — Hội chúng tham đắm châu báu, vợ con, ruộng đất, vàng bạc — và hội chúng từ bỏ tất cả, xuất gia; hạng người thứ tư phần lớn thấy ở hội chúng xuất gia. (đoạn 7)
  • 5. Ghotamukha rút lại lời phủ nhận — Tôn giả Udena nhắc lại lời ban đầu; Ghotamukha nhận: 'Có một sự xuất gia đúng pháp', và thỉnh giải rộng bốn hạng người. (đoạn 8)
  • 6. Giải rộng hạng thứ nhất: tự hành khổ mình — Các hạnh khổ hạnh lõa thể, tiết chế ăn uống, y phục thô, nhổ râu tóc, ngồi chõ hỏ, nằm giường gai, tắm ba lần một đêm. (đoạn 10)
  • 7. Hạng thứ hai: hành khổ người — Người làm các nghề độc ác: giết trâu bò, heo, vịt, săn thú, đánh cá, ăn trộm, xử tử, cai ngục. (đoạn 11)
  • 8. Hạng thứ ba: hành khổ cả mình lẫn người — Vua Sát-đế-lị đã quán đảnh hoặc Bà-la-môn triệu phú tổ chức đại tế đàn: tự ép xác, giết hại súc vật, bắt tôi tớ khóc lóc làm việc vì sợ đòn gậy. (đoạn 12)
  • 9. Hạng thứ tư: con đường tu học trọn vẹn — Như Lai xuất hiện ở đời và thuyết pháp; người nghe pháp phát tín tâm, xuất gia; giới hạnh, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, biết đủ, trú xứ thanh vắng, đoạn năm triền cái, bốn Thiền, túc mạng trí, sanh tử trí, lậu tận trí. (đoạn 13–30)
  • 10. Ghotamukha quy y và cúng dường — Ghotamukha xin quy y Tôn giả Udena; Tôn giả chỉ ông quy y Thế Tôn — nhưng Thế Tôn đã nhập Niết-bàn. Ông quy y Phật đã nhập Niết-bàn, Pháp và chúng Tỷ-kheo; xin dâng khoản bố thí thường xuyên hằng ngày vua nước Aṅga cấp cho ông là năm trăm kahāpana, được khuyên xây giảng đường cho chúng Tăng ở Pātaliputta, sau gọi là Ghotamukhi. (đoạn 31–33)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 94.5
Cattārome, brāhmaṇa, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro? Idha, brāhmaṇa, ekacco puggalo attantapo hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto. Idha pana, brāhmaṇa, ekacco puggalo parantapo hoti paraparitāpanānuyogamanuyutto. Idha pana, brāhmaṇa, ekacco puggalo attantapo ca hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto. Idha pana, brāhmaṇa, ekacco puggalo nevattantapo hoti nāttaparitāpanānuyogamanuyutto, na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto.
Này Bà-la-môn, ở đây có bốn hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này Bà-la-môn, có người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình. Ở đây, này Bà-la-môn, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người.
“Brahmin, these four individuals are found in the world. What four? One individual mortifies themselves, committed to the practice of mortifying themselves. One individual mortifies others, committed to the practice of mortifying others. One individual mortifies themselves and others, committed to the practice of mortifying themselves and others. One individual doesn’t mortify either themselves or others, committed to the practice of not mortifying themselves or others.
MN 94.5.7
So anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati.
Người ấy không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.
They live without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine.
MN 94.6.2
Yvāyaṁ, bho udena, puggalo attantapo attaparitāpanānuyogamanuyutto so attānaṁ sukhakāmaṁ dukkhapaṭikkūlaṁ ātāpeti paritāpeti; iminā me ayaṁ puggalo cittaṁ nārādheti.
Thưa tôn giả Udena, hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, hạng người này tự hành khổ mình, tự hành hạ mình, trong khi tự ao ước lạc, yểm ly khổ. Do vậy, tâm con không thích ý hạng người này.
“Worthy Udena, the individual who mortifies themselves does so even though they want to be happy and recoil from pain. That’s why I don’t like the sound of that individual.
MN 94.11.2–11.3
Idha, brāhmaṇa, ekacco puggalo orabbhiko hoti sūkariko sākuṇiko māgaviko luddo macchaghātako coro coraghātako goghātako bandhanāgāriko—ye vā panaññepi keci kurūrakammantā. Ayaṁ vuccati, brāhmaṇa, puggalo parantapo paraparitāpanānuyogamanuyutto.
Ở đây, Bà-la-môn, có người giết trâu bò, là người giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và những người làm các nghề độc ác khác. Như vậy, này Bà-la-môn, được gọi là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
It’s when an individual is a slaughterer of sheep, pigs, poultry, or deer, a hunter or fisher, a bandit, an executioner, a butcher of cattle, a jailer, or has some other cruel livelihood. This is called an individual who mortifies others, being committed to the practice of mortifying others.
MN 94.15.4
‘sambādho gharāvāso rajopatho abbhokāso pabbajjā.
Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không.
‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open.
MN 94.17.2
Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti sapattabhārova ḍeti; evameva bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena, kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati.
Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo.
They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things.
MN 94.29.3
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có trở lui đời sống này nữa”.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
MN 94.32.1–32.2
“Mā kho maṁ tvaṁ, brāhmaṇa, saraṇaṁ agamāsi. Tameva bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāhi yamahaṁ saraṇaṁ gato”ti.
—Này Bà-la-môn, chớ có quy y với ta. Hãy quy y với Thế Tôn, bậc mà ta đã quy y.
“Brahmin, don’t go for refuge to me. You should go for refuge to that same Blessed One to whom I have gone for refuge.”
MN 94.33.6
“Sace kho me tvaṁ, brāhmaṇa, vihāraṁ, kārāpetukāmo, pāṭaliputte saṅghassa upaṭṭhānasālaṁ kārāpehī”ti.
—Này Bà-la-môn, nếu ông muốn xây dựng một tinh xá cho ta, thì hãy xây dựng một giảng đường cho chúng Tăng ở Pātaliputta.
“If you want to build me a dwelling, then build an assembly hall for the Saṅgha at Pāṭaliputta.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
attantapatự hành khổ mìnhBản HT. Minh Châu: 'tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình' (attaparitāpanānuyogamanuyutta).
parantapahành khổ người
dhammiko paribbajosự xuất gia đúng phápCâu mở đầu của Ghotamukha: 'natthi dhammiko paribbajo' — không có một sự xuất gia đúng pháp.
brahmabhūtena attanā viharatitự ngã trú vào Phạm thể
nibbuta / sītībhūtatịch tịnh / cảm thấy mát lạnh
pañca nīvaraṇanăm triền cáidục tham, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi.
jhānaThiền (bốn Thiền: sơ, nhị, tam, tứ)
pubbenivāsānussatiñāṇatúc mạng trí — nhớ các đời sống quá khứ
cutūpapātañāṇasanh tử trí — thiên nhãn thấy chúng sanh chết và tái sanh theo nghiệp
āsavānaṁ khayañāṇalậu tận trí
indriyasaṁvarahộ trì các căn
satisampajaññachánh niệm tỉnh giác
kahāpaṇakahāpana — đơn vị tiền; bản Việt ghi '(đồng tiền vàng)'
yojanado-tuần, đơn vị đo đường
upaṭṭhānasālāgiảng đường (chỗ hội họp) của chúng Tăng

Trước hết xin lưu ý một điều ít người để ý. Bài kinh này không do Thế Tôn giảng, mà do Tôn giả Udena giảng, và xảy ra sau khi Thế Tôn đã nhập Niết-bàn — ta biết được vì cuối kinh, khi Ghoṭamukha xin quy y, Tôn giả chỉ ông quy y bậc Thế Tôn đã nhập Niết-bàn.

Chi tiết ấy rất đáng an ủi cho chúng ta. Nó cho thấy khi Phật không còn tại thế, Chánh pháp vẫn giảng được, vẫn chuyển được lòng ngườiqua các đệ tử. Chúng ta hôm nay đang ở đúng hoàn cảnh của Ghoṭamukha.

Ghoṭamukha mở lời bằng một câu phủ nhận: theo ông, không có một sự xuất gia đúng pháp — nghĩa là ông không tin đời sống xuất gia có thể đúng chánh pháp. Nhưng ông thành thật thêm: ông chưa từng gặp vị nào đáng kính như Tôn giả, và chưa từng nghe pháp ấy là gì.

Đây là một người phản đối rất đàng hoàng. Ông nói rõ mình chưa biết ngay trong lúc phản đối. Rất nhiều cuộc cãi vã ngày nay sẽ tan biến nếu mỗi bên chịu nói thêm một câu như vậy.

Rồi đến chỗ đẹp nhất của bài kinh: giao ước trước khi luận bàn. Tôn giả Udena đề nghị ba điều: điều gì đáng tán đồng thì tán đồng, điều gì đáng bài bác thì bài bác, điều gì không hiểu thì hỏi lại.

Xin Huynh Trưởng chép ba câu này ra và dùng trong đoàn. Chúng không cho phép ai thắng bằng giọng to, không cho phép ai im lặng cho qua, và bắt buộc phải hỏi khi chưa hiểu. Có ba câu ấy, một buổi họp đoàn khó mà thành cãi vã.

Bốn hạng người ở đời — nêu vắn tắt: (1) người tự hành khổ mình; (2) người hành khổ người khác; (3) người hành khổ cả mình lẫn người; (4) người không hành khổ mình cũng không hành khổ người — vị này ngay trong hiện tại không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh.

Ghoṭamukha chỉ thích ý hạng thứ tư. Được chính Tôn giả Udena hỏi vì sao, ông thưa rằng ba hạng kia đều hành hạ ai đó, mà ai cũng ao ước lạc và chán ghét khổ.

Lý do ông đưa ra rất đơn sơ mà rất chắc. Ông không viện tới kinh sách, ông viện tới chỗ ai cũng biết trong lòng mình. Đạo Phật thường bắt đầu đúng từ chỗ ấy.

Rồi Tôn giả đặt một câu hỏi rất khéo: có hai hội chúnghội chúng còn tham đắm châu báu, vợ con, tôi tớ, ruộng đất, vàng bạc, và hội chúng từ bỏ tất cả để sống không gia đình. Hạng người thứ tư mà ông vừa khen thường thấy ở hội chúng nào?

Ghoṭamukha phải đáp: ở hội chúng xuất gia. Bấy giờ Tôn giả chỉ cần nhắc lại lời ông nói lúc đầu. Và ông tự nhận lại: “Có một sự xuất gia đúng pháp.”

Đây là cách thuyết phục cao nhất. Tôn giả không hề nói “ông sai”. Ngài chỉ dẫn ông tới chỗ ông tự thấy. Người tự rút lại lời mình thì không mất mặt, và điều họ nhận thì họ giữ.

Phần giải rộng bốn hạng người rất cụ thể. Tự hành khổ mìnhkhổ hạnh lõa thể ép xác. Hành khổ ngườicác nghề giết hại, săn bắn, đánh cá, cai ngục. Hành khổ cả haivua hoặc Bà-la-môn triệu phú mở đại tế đàn: giết hại súc vậtbắt kẻ tôi tớ vừa khóc vừa làm vì sợ đòn gậy.

Xin để ý chi tiết “vừa khóc vừa làm vì sợ đòn gậy”. Kinh không chỉ trách việc giết súc vật — kinh đếm cả nước mắt của người làm công. Một lễ lớn xây trên sự sợ hãi của người khác thì không phải phước.

Hạng thứ tư chính là con đường Phật giáo, kể trọn từ đầu: Như Lai ra đời và thuyết phápngười nghe phát khởi lòng tinxuất giagiữ giớihộ trì các cănchánh niệm tỉnh giácbiết đủsống nơi thanh vắngđoạn năm triền cáibốn Thiềnba minh“Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành”.

Kết kinh có một chi tiết rất người. Ghoṭamukha xin dâng lên Tôn giả khoản bố thí thường xuyên hằng ngày mà vua nước Aṅga cấp cho ôngnăm trăm kahāpana. Tôn giả không được phép nhận vàng bạc, nên khuyên xây một giảng đường cho chúng Tăng ở Pāṭaliputta. Giảng đường ấy về sau mang tên ông: Ghoṭamukhī.

Chỗ này dạy một điều rất thực tế. Khi không thể nhận một món cúng dường, Tôn giả không từ chối suông — ngài chỉ cho tấm lòng ấy một chỗ đi đúng. Đó là cách giữ giới mà không làm nguội lòng người.

  • “Vậy tất cả người tại gia đều thuộc ba hạng xấu?” Không. Bài kinh nói hạng thứ tư thường thấy ở hội chúng xuất giakhông nói chỉ có ở đó. Ba hạng kia được mô tả bằng hành vi cụ thể, không bằng địa vị.
  • “Đây là kinh Phật giảng.” Không — Tôn giả Udena giảng, sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn. Đó là một phần ý nghĩa của bài kinh.
  • “Năm trăm kahāpana là một món cúng một lần.” Theo mn94:33, đó là khoản bố thí thường xuyên hằng ngày vua nước Aṅga cấp cho ông, và ông xin dâng khoản thường thí ấy.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện ông nhà giàu muốn cúng vàng, thầy không nhận, thầy bảo xây nhà cho chúng Tăng — và ngôi nhà ấy mang tên ông tới bây giờ.
  • Ngành Thiếu. Dán ba điều giao ước lên bảng trước mỗi buổi thảo luận, rồi cho các em thử tranh luận một đề nhỏ theo đúng ba điều ấy.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về cách Tôn giả không nói “ông sai” một lần nào mà vẫn khiến người kia tự rút lại lời. Có việc nào trong đoàn nên xử theo cách ấy không?
  • Ba điều giao ước trước khi luận bàn là gì?
  • Bốn hạng người ở đời là bốn hạng nào?
  • Vì sao Ghoṭamukha tự rút lại lời phủ nhận ban đầu?
  • Vì sao kinh nhắc tới nước mắt của kẻ tôi tớ trong đại tế đàn?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.