G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 92
Một Chữ “Phật” Làm Chấn Động Một Đời

Kinh Sela

Sela Sutta — MN 92 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Sela

Bà-la-môn Sela đi ngang nhà bện tóc Keṇiya, thấy người ta tất bật nấu nướng, tưởng có đám cưới hay đón vua. Chủ nhà đáp: sửa soạn cúng dường “đức Phật”. Chỉ một chữ ấy khiến ông hỏi lại hai lần — rồi đi tìm, và bảy ngày sau chứng A-la-hán cùng ba trăm học trò.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 92
  • Nơi thuyết — thị trấn Āpaṇa, xứ Aṅguttarāpa
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu
  • Cũng có trong — Kinh Tập (Sn 3.7), gần như trùng khớp

Kinh Sela kể lại một cuộc gặp gỡ có thể xem như bài học mẫu về niềm tin đặt đúng chỗ. Thế Tôn cùng 1.250 vị Tỷ-kheo du hành đến thị trấn Āpaṇa. Bện tóc Keṇiya nghe danh Ngài, ba lần khẩn khoản thỉnh Ngài thọ trai, và Thế Tôn im lặng nhận lời. Trong lúc cả nhà Keṇiya lo sửa soạn — người đào lò, người bửa củi, người rửa chén bát — thì Bà-la-môn Sela, bậc thông ba tập Veda và Ðại nhân tướng, thầy dạy của ba trăm thanh niên Bà-la-môn, đi ngang qua và hỏi có phải đang chuẩn bị lễ cưới hay đón vua. Keṇiya đáp là để cúng dường "đức Phật". Chỉ một chữ "Buddho" ấy khiến Sela chấn động: ông hỏi lại hai lần, rồi nhớ lời Thánh điển truyền lại rằng bậc đủ ba mươi hai Ðại nhân tướng chỉ có hai con đường — Chuyển Luân Thánh Vương, hoặc bậc Chánh Ðẳng Giác. Sela dặn ba trăm đệ tử đi thật nhẹ, im lặng, vì "các bậc Thế Tôn ấy như con sư tử sống một mình, rất khó đến gần". Ông xem tướng trên thân Thế Tôn, thấy đủ, chỉ nghi hai tướng; Thế Tôn dùng thần thông khiến ông thấy được. Rồi Sela tán thán Thế Tôn bằng những bài kệ, và cuối cùng mời Ngài… làm vua trị vì thiên hạ. Thế Tôn trả lời câu bất hủ: "Sela, Ta là vua, bậc Pháp vương vô thượng", và khi được hỏi ai là vị tướng quân nối tiếp chuyển bánh xe Pháp, Ngài nêu tên Tôn giả Sāriputta. Ngài xác nhận tư cách Phật bằng ba việc: cần biết đã biết, cần tu đã tu, cần bỏ đã bỏ. Sela liền quy y, ba trăm thanh niên xin theo, tất cả được xuất gia và thọ đại giới. Hôm sau Thế Tôn thọ trai nhà Keṇiya và nói kệ tùy hỷ: chúng Tăng là ruộng phước tối thượng cho người bố thí. Bảy ngày sau, Tôn giả Sela cùng hội chúng đều chứng A-la-hán, trở lại đảnh lễ và dâng lên Thế Tôn bài kệ tạ ơn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Keṇiya thỉnh Phật thọ trai — Thế Tôn du hành ở Aṅguttarāpa với 1.250 Tỷ-kheo, đến Āpaṇa. Bện tóc Keṇiya nghe tiếng đồn tốt đẹp, đến thăm, ba lần thỉnh Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo thọ trai; Thế Tôn im lặng nhận lời. Keṇiya nhờ thân hữu bà con giúp sửa soạn, tự mình dựng giàn hoa hình tròn (maṇḍalamāḷa).
  • 2. Bà-la-môn Sela nghe tiếng 'đức Phật' — Sela trú tại Āpaṇa, tinh thông ba tập Veda và Ðại nhân tướng, dạy ba trăm thanh niên Bà-la-môn. Thấy Keṇiya sửa soạn, ông hỏi có phải rước dâu, đưa dâu, hay mời vua Bimbisāra. Keṇiya đáp là chuẩn bị đại tế đàn cúng dường Sa-môn Gotama. Sela hỏi lại hai lần 'có phải Ông nói đức Phật?', rồi nhớ lời Thánh điển về ba mươi hai Ðại nhân tướng và hai con đường (Chuyển Luân Thánh Vương hoặc Chánh Ðẳng Giác).
  • 3. Sela đến gặp Thế Tôn và xem tướng — Sela dặn ba trăm thanh niên đi im lặng, đặt chân từng bước một. Ngồi một bên, ông xem ba mươi hai Ðại nhân tướng, thấy đủ trừ hai tướng (mã âm tàng và lưỡi rộng dài) nên nghi hoặc. Thế Tôn dùng thần thông khiến ông thấy được cả hai. Sela nhớ lời các Bà-la-môn niên cao rằng bậc Chánh Ðẳng Giác tự hiện hình khi được tán thán, nên quyết định tán thán bằng những bài kệ xứng đáng.
  • 4. Kệ tán thán của Sela và lời đáp của Thế Tôn — Sela tán thán thân tướng Thế Tôn và mời Ngài làm Chuyển Luân Vương trị vì quốc độ. Thế Tôn đáp Ngài là bậc Pháp vương vô thượng, chuyển bánh xe Pháp chưa từng chuyển. Sela hỏi ai là vị tướng quân, đệ tử nối tiếp chuyển Pháp luân; Thế Tôn nêu Tôn giả Sāriputta. Ngài tuyên bố: cần biết đã biết, cần tu đã tu, cần bỏ đã bỏ, do vậy Ta là Phật; và khuyên Sela gác bỏ nghi hoặc.
  • 5. Sela và ba trăm đệ tử xuất gia — Sela kêu gọi hội chúng lắng nghe, tuyên bố sẽ xuất gia nơi bậc Trí Tuệ tối thượng; ba trăm Bà-la-môn chắp tay xin theo. Thế Tôn nói kệ về Phạm hạnh khéo giảng, thiết thực hiện tại, vượt khỏi thời gian. Sela cùng hội chúng được xuất gia và thọ đại giới.
  • 6. Thọ trai nhà Keṇiya và kệ tùy hỷ — Sáng hôm sau Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo thọ trai tại tinh xá Keṇiya. Sau bữa ăn, Ngài nói kệ tùy hỷ công đức: tế lửa tối thượng giữa các tế đàn, Sāvittī tối thượng giữa các bài thơ Veda, vua tối thượng giữa loài người, đại dương tối thượng giữa sông ngòi, mặt trăng tối thượng giữa các vì sao, và chúng Tăng là tối thượng đối với những ai bố thí cầu công đức.
  • 7. Sela chứng A-la-hán và bài kệ tạ ơn — Tôn giả Sela cùng hội chúng sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, cần mẫn; không bao lâu chứng vô thượng Phạm hạnh, 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành', tất cả trở thành A-la-hán. Các vị trở lại đảnh lễ Thế Tôn, đọc bài kệ: tám ngày trước quy y, bảy đêm được nhiếp phục trong giáo lý của Ngài; Ngài là bậc Giác Giả, Ðạo Sư, Mâu-ni đã chiến thắng quần ma; ba trăm Tỷ-kheo chắp tay xin Ngài duỗi chân để đảnh lễ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 92.16 (bản Việt: SC 34)
“Paripuṇṇakāyo suruci,
Sujāto cārudassano;
Suvaṇṇavaṇṇosi bhagavā,
Susukkadāṭhosi vīriyavā.
Thân trọn đủ chói sáng,
Khéo sanh và đẹp đẽ,
Thế Tôn sắc vàng chói,
Răng trơn, láng, tinh cần.
“O Blessed One, your body’s perfect, you’re radiant, handsome, lovely to behold; golden colored, with teeth so white; you’re strong.
MN 92.16.17–16.20 (bản Việt: SC 34)
Rājā arahasi bhavituṁ,
cakkavattī rathesabho;
Cāturanto vijitāvī,
jambusaṇḍassa issaro.
Ngài xứng bậc Ðại vương,
Chuyển Luân, bậc Ðiều Ngự,
Chiến thắng khắp thiên hạ,
Bậc tối thượng Diêm-phù.
You’re fit to be a king, a wheel-turning monarch, chief of charioteers, victorious in the four quarters, lord of the Black Plum Tree Land.
MN 92.17 (bản Việt: SC 35)
“Rājāhamasmi selāti,
dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṁ vattemi,
cakkaṁ appaṭivattiyaṁ”.
Sela, Ta là vua,
Bậc Pháp vương vô thượng,
Ta chuyển bánh xe pháp,
Bánh xe chưa từng chuyển.
“I am a king, Sela, the supreme king of the teaching. By the teaching I roll forth the wheel which cannot be rolled back.”
MN 92.19.6–9 (bản Việt: SC 39)
Abhiññeyyaṁ abhiññātaṁ,
bhāvetabbañca bhāvitaṁ;
Pahātabbaṁ pahīnaṁ me,
tasmā buddhosmi brāhmaṇa.
Cần biết, Ta đã biết,
Cần tu, Ta đã tu,
Cần bỏ, Ta đã bỏ.
Do vậy Ta là Phật,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
I have known what should be known, and developed what should be developed, and given up what should be given up: and so, brahmin, I am a Buddha.
MN 92.19.10–11 (bản Việt: SC 40)
Vinayassu mayi kaṅkhaṁ,
adhimuccassu brāhmaṇa;
Còn gì nghi ở Ta,
Hãy gác bỏ một bên,
Hãy giải thoát khỏi chúng,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
Dispel your doubt in me— make up your mind, brahmin!
MN 92.20.9–12 (bản Việt: SC 46)
Yo maṁ icchati anvetu,
yo vā nicchati gacchatu;
Idhāhaṁ pabbajissāmi,
varapaññassa santike”.
Ai muốn, hãy theo Ta,
Không muốn, hãy ra đi,
Ở đây, Ta xuất gia,
Bậc Trí Tuệ tối thượng!
Those who wish may follow me; those who don’t may go. Right here, I’ll go forth in his presence, the one of such outstanding wisdom.”
MN 92.23 (bản Việt: SC 49)
“Svākkhātaṁ brahmacariyaṁ,
(selāti bhagavā)
Sandiṭṭhikamakālikaṁ;
Yattha amoghā pabbajjā,
Appamattassa sikkhato”ti.
Nầy Sela,
Phạm hạnh được khéo giảng,
Thiết thực ngay hiện tại,
Vượt khỏi thời gian tính.
Ở đây sự xuất gia,
Không uổng công hoang phí,
Với ai không phóng dật,
Tinh tấn chuyên tu học.
“The spiritual life is well explained,” said the Buddha, “apparent in the present life, immediately effective. Here the going forth isn’t in vain for one who trains with diligence.”
MN 92.26.5–8 (bản Việt: SC 54)
Nakkhattānaṁ mukhaṁ cando,
ādicco tapataṁ mukhaṁ;
Puññaṁ ākaṅkhamānānaṁ,
saṅgho ve yajataṁ mukhan”ti.
Mặt trăng là tối thượng,
Giữa các vì sao sáng,
Chúng Tăng thật tối thượng,
Với những ai bố thí,
Tâm mong ước nguyện cầu,
Gặt hái nhiều công đức.
the foremost of stars is the moon; the sun is the foremost of blazes; for those who sacrifice seeking merit, the Saṅgha is the foremost.”
MN 92.28.6–9 (bản Việt: SC 60–61)
Tuvaṁ buddho tuvaṁ satthā,
tuvaṁ mārābhibhū muni;
Tuvaṁ anusaye chetvā,
tiṇṇo tāresimaṁ pajaṁ.
Ngài là bậc Giác Giả,
Ngài là bậc Ðạo Sư,
Ngài là bậc Mâu-ni,
Ðã chiến thắng quần ma.
Sau khi Ngài đoạn trừ,
Vượt qua biển sanh tử,
Ngài giúp quần sanh này,
Cùng vượt qua bể khổ.
You are the Buddha, you are the Teacher, you are the sage who has overcome Māra; you have cut off the underlying tendencies, you’ve crossed over, and you bring humanity across.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
Buddha (Buddho)Ðức Phật, bậc Giác NgộBản Việt: 'đức Phật'; chính một tiếng này làm Sela chấn động — 'Chỉ một âm thanh đức Phật này cũng khó tìm được trong đời' (SC 24).
dhammarājā anuttaroBậc Pháp vương vô thượngLời Thế Tôn tự nhận trong MN 92.17.
dhammacakkaBánh xe Pháp, Pháp luân'Ta chuyển bánh xe pháp, bánh xe chưa từng chuyển' (cakkaṁ appaṭivattiyaṁ).
dvattiṁsa mahāpurisalakkhaṇāniBa mươi hai Ðại nhân tướngTheo Thánh điển Bà-la-môn, người đủ tướng này chỉ có hai con đường: Chuyển Luân Thánh Vương hoặc Chánh Ðẳng Giác.
cakkavattīChuyển Luân Thánh VươngVị vua trị vì bằng Chánh pháp, không dùng gậy, không dùng đao, đủ bảy món báu.
jaṭilaBện tóc (đạo sĩ tóc bện)Chỉ Keṇiya, vị gia chủ đạo sĩ thỉnh Phật thọ trai.
brāhmaṇaBà-la-môn, Phạm chí
svākkhāta / sandiṭṭhika / akālikaKhéo giảng / thiết thực hiện tại / vượt khỏi thời gianBa đức tính của Phạm hạnh trong lời đáp của Thế Tôn (MN 92.23), cũng là các đức của Pháp trong kinh tán Pháp.
brahmacariyaPhạm hạnh, đời sống thanh tịnh
appamattaKhông phóng dật'Với ai không phóng dật, tinh tấn chuyên tu học' — điều kiện để xuất gia không uổng công.
pabbajjā / upasampadāXuất gia / thọ đại giới
arahaṁ sammāsambuddhoBậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
muniBậc Mâu-ni, bậc tịch mặc
anusayaTùy miên, khuynh hướng ngủ ngầmBản Việt SC 61 dịch thoát là 'Sau khi Ngài đoạn trừ'.
upadhiSanh y, nền tảng chấp thủ
āsavaLậu hoặc
saṅghaChúng Tăng'Chúng Tăng thật tối thượng, với những ai bố thí' — ruộng phước tối thượng.
mārasenappamaddanaNhiếp phục các ma quân
Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁSanh đã tận, Phạm hạnh đã thànhCông thức tuyên bố chứng A-la-hán.

Bài kinh này bắt đầu bằng một cảnh rất đời thường. Nhà bện tóc Keṇiya rộn ràng cả lên: người đào lò, người bửa củi, người rửa chén bát. Bà-la-môn Sela đi ngang, hỏi một câu rất tự nhiên: nhà có đám cưới, hay đón vua Bimbisāra?

Câu trả lời chỉ có một chữ đáng kể. Keṇiya nói đang sửa soạn cúng dường Sa-môn Gotama, bậc Chánh Đẳng Giác. Và Sela hỏi lại: “Ông nói ‘đức Phật’ ư?”rồi hỏi lại lần nữa.

Xin dừng ở chỗ này một chút. Ông hỏi hai lần không phải vì nghe không rõ, mà vì chữ ấy quá lớn. Trong đời ông, chữ Buddho là chữ trong sách — một điều người ta nói tới chứ chưa ai gặp. Nay có người nói ra tự nhiên như nói tên hàng xóm.

Điều đáng phục ở Sela là ông không dừng ở sự chấn động. Ông đi ngay. Nhiều người trong chúng ta xúc động rồi thôi; ông xúc động rồi bước.

Lời ông dặn ba trăm học trò rất đẹp. Ông bảo các trò đi thật nhẹ, đặt chân từng bước một, đừng nói ồn, vì “các bậc Thế Tôn ấy như con sư tử sống một mình, rất khó đến gần”.

Chi tiết này dạy chúng ta cách vào chùa. Không phải vì chùa cấm nói, mà vì lòng tôn kính tự nó làm bước chân nhẹ đi. Anh chị em có thể dạy các em điều này mà không cần một điều luật nào.

Rồi đến đoạn kỳ lạ nhất của bài kinh. Sela tán thán Thế Tôn bằng những bài kệ rất trang trọng — và kết thúc bằng lời mời Ngài… làm vua trị vì thiên hạ.

Vì sao lại mời làm vua? Vì trong khung hiểu của ông, người đủ ba mươi hai tướng chỉ có hai con đường, và làm Chuyển Luân Thánh Vương là điều cao quý nhất ông hình dung được. Ông đang dâng lên điều tốt đẹp nhất mà ông biết.

Câu trả lời của Thế Tôn là một trong những câu đẹp nhất Trung Bộ. Ngài không từ chối chữ “vua” — Ngài nhận lấy và nâng nó lên: Ta là vua, bậc Pháp vương vô thượng, chuyển bánh xe Pháp chưa từng ai chuyển.

Sela hỏi tiếp một câu rất thực tế: ai là vị tướng quân nối tiếp chuyển bánh xe ấy? Thế Tôn nêu tên Tôn giả Sāriputta. Chi tiết nhỏ này cho thấy Chánh pháp có người kế tục, không dừng ở một người.

Rồi Ngài xác nhận tư cách Phật bằng ba việc, gọn như một lời tổng kết cả đời tu: cần biết đã biết, cần tu đã tu, cần bỏ đã bỏdo vậy, Ta là Phật.

Ba câu ấy nên viết lên bảng cho đoàn sinh. Chúng cho thấy quả vị Phật không phải một danh hiệu được phong, mà là ba việc đã làm xong. Và chúng ta cũng đang đi trên đúng ba việc ấy, chỉ khác ở mức độ.

Ba trăm học trò xin theo thầy xuất gia. Không ai bị bắt, không ai bị thuyết phục dài dòng. Họ thấy thầy mình chắp tay — và đó đã là bài pháp.

Kệ tùy hỷ sau bữa trai của Thế Tôn nói về ruộng phước. Ngài kể một chuỗi “cái tối thượng”: giữa các tế đàn, giữa các bài thơ Veda, giữa loài người, giữa sông ngòi, giữa các vì sao — rồi kết: với người bố thí cầu công đức, chúng Tăng là tối thượng.

Bảy ngày sau, Tôn giả Sela cùng cả hội chúng chứng A-la-hán. Các vị trở lại đảnh lễ và dâng lên bài kệ tạ ơn: tám ngày trước còn quy y, bảy đêm đã được nhiếp phục trong giáo lý của Ngài.

Xin nói thêm một điều cho người mới đọc kinh. Bảy ngày ở đây là chuyện của một hội chúng đã tu tập cả đời trong một truyền thống nghiêm cẩn, gặp đúng thầy đúng lúc. Đọc để thấy đường là có thật, chứ không phải để so bì rồi tự trách mình chậm.

  • “Thế Tôn nhận mình là vua, vậy đạo Phật cũng ham quyền?” Ngài đổi hẳn nghĩa chữ ấy: Pháp vươngvua của Chánh pháp, bánh xe được chuyển là bánh xe Pháp, không ai bị trị.
  • “Chứng quả trong bảy ngày, chắc dễ lắm.” Hội chúng ấy đã tu tập nghiêm cẩn suốt đời trước khi gặp Phật. Bảy ngày là phần cuối của một con đường dài, không phải cả con đường.
  • Một chỗ hai bản đọc ngược nhau — xin thưa rõ để khỏi tưởng trang này chép sai. Ở kệ tùy hỷ (SC 52 / mn92:26), bản Pāli aggihuttamukhā yaññā và bản Anh đọc là tế lửa tối thượng giữa các tế đàn; bản Việt lại đọc “Tế đàn là tối thượng, trong các lễ tế lửa”. Chúng tôi giữ nguyên từng bản.
  • Ngành Oanh. Dạy các em bước nhẹ khi vào chánh điện, và kể chuyện ông Sela dặn học trò đặt chân từng bước một.
  • Ngành Thiếu. Chép ba việccần biết đã biết, cần tu đã tu, cần bỏ đã bỏ — rồi mỗi em tự viết một điều mình cần bỏ trong tuần này.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về ba trăm học trò đi theo vì thấy thầy chắp tay: đoàn sinh của chúng ta đang theo điều gì ở chúng ta?
  • Chữ nào khiến Bà-la-môn Sela chấn động, và ông làm gì tiếp theo?
  • Vì sao Sela mời Thế Tôn làm vua?
  • Thế Tôn xác nhận tư cách Phật bằng ba việc nào?
  • Trong kệ tùy hỷ, cái gì là tối thượng đối với người bố thí cầu công đức?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.