G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 89
Hai Ông Già Tám Mươi Tuổi · Vua Hôn Chân Phật

Kinh Pháp Trang Nghiêm

Dhammacetiya Sutta — MN 89 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Pháp Trang Nghiêm

Vua Pasenadi đang dạo vườn, thấy những gốc cây khả ái, lặng tiếng thì nhớ đến Thế Tôn — và đi ba do-tuần ngay trong ngày để yết kiến. Lúc ấy cả hai đều tám mươi tuổi.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 89
  • Nơi chốn — thị trấn Medaḷumpa của dân chúng Sakka
  • TuổiThế Tôn và vua đều tám mươi
  • Chữ dhammanvayapháp truyền thống: căn cứ vào Pháp mà suy ra về Phật

Đây là bài kinh ghi lại lần yết kiến của vua Pasenadi nước Kosala với Thế Tôn tại thị trấn Medaḷumpa của dân chúng Sakka. Đang dạo vườn thượng uyển ở Nagaraka, vua thấy những gốc cây khả ái, lặng tiếng, thích hợp với trầm tư mặc tưởng, liền nhớ đến Thế Tôn và lập tức truyền sửa soạn xe, đi ba do-tuần đến nơi Phật trú trong ngày. Đến tịnh xá, vua trao kiếm và vành khăn cho Dīgha Kārāyana, một mình im lặng bước vào hành lang, đằng hắng rồi gõ cửa; Thế Tôn mở cửa. Vua cúi đầu đảnh lễ chân Phật, hôn chân, tay xoa rờ chân và xưng tên mình hai lần. Thế Tôn hỏi vì cớ gì vua lại hạ mình tột bực như vậy. Vua trả lời bằng một chuỗi những điều chính mắt mình thấy — kinh gọi là "pháp truyền thống" (dhammanvaya), tức là căn cứ vào Pháp mà suy ra về Phật. Mỗi điều đều kết lại bằng cùng một câu: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì." Những điều vua nêu: các Sa-môn, Bà-la-môn ngoài kia chỉ hành Phạm hạnh có hạn kỳ mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm rồi trở lại hưởng dục, còn các Tỷ-kheo giữ Phạm hạnh trọn đời cho đến hơi thở cuối cùng; đời thì vua cãi với vua, mẹ cãi với con, bạn cãi với bạn, còn chúng Tăng sống hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính; các tu sĩ nơi khác gầy mòn khốn khổ, còn các Tỷ-kheo hân hoan phấn khởi, tâm tư như con thú rừng; vua ngồi xử kiện còn bị người ngắt lời, còn hội chúng hàng trăm người nghe Phật thuyết pháp không một tiếng ho, "không gậy, không kiếm" mà khéo được huấn luyện; những bậc bác học biện bác định đến chất vấn thì rốt cuộc thành đệ tử, có người xin xuất gia rồi chứng đạt cứu cánh Phạm hạnh; hai quan giữ ngựa Isidatta và Purāṇa ăn cơm vua nhưng nằm quay đầu về phía Thế Tôn, quay chân về phía vua. Cuối cùng vua nói: Thế Tôn cũng dòng Sát-đế-lị, cũng người Kosala, cũng tám mươi tuổi như con. Vua cáo từ ra đi. Thế Tôn liền bảo các Tỷ-kheo: đó là những "pháp trang nghiêm" (dhammacetiya), hãy học, hãy thấu triệt, hãy thọ trì, vì chúng liên hệ đến mục tiêu, là căn bản của Phạm hạnh.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: vua Pasenadi nhớ đến Thế Tôn nơi vườn thượng uyển — Vua đi Nagaraka, sai Dīgha Kārāyana sửa soạn xe đi ngắm cảnh; thấy những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, thích hợp với trầm tư mặc tưởng thì nhớ đến Thế Tôn, hỏi ra biết Thế Tôn đang ở Medaḷumpa cách ba do-tuần (mn89:1.1–5.10).
  • Vua đến tịnh xá và một mình vào yết kiến Phật — Vua đến nơi trong ngày, các Tỷ-kheo chỉ chỗ Thế Tôn ở trong ngôi nhà cửa khép kín; vua trao kiếm và vành khăn cho Dīgha Kārāyana, im lặng vào hành lang, đằng hắng, gõ khóa cửa; Thế Tôn mở cửa. Vua đảnh lễ chân Phật, hôn chân, xoa chân và xưng tên (mn89:6.1–9.4).
  • Pháp truyền thống thứ nhất: Phạm hạnh trọn đời — Ngoài kia hành Phạm hạnh có hạn kỳ mười đến bốn mươi năm rồi trở lại hưởng năm dục; ở đây các Tỷ-kheo hành Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh cho đến hơi thở cuối cùng (mn89:10.1–10.8).
  • Pháp truyền thống thứ hai: chúng Tăng hòa hợp — Đời thì vua chúa, Sát-đế-lị, Bà-la-môn, gia chủ, mẹ con, cha con, anh em, bạn bè cãi lộn nhau; các Tỷ-kheo sống hòa hợp như nước với sữa (mn89:11.1–11.5).
  • Pháp truyền thống thứ ba: dung sắc hân hoan của các Tỷ-kheo — Các Sa-môn, Bà-la-môn nơi khác gầy mòn, khốn khổ, da xấu bạc nhợt, tự nói bị bệnh gia truyền; còn các Tỷ-kheo hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, với tâm tư như con thú rừng (mn89:12.1–12.15).
  • Pháp truyền thống thứ tư: hội chúng khéo huấn luyện — Vua ngồi xử kiện còn bị ngắt lời; còn khi Thế Tôn thuyết pháp cho hàng trăm người thì không một tiếng ho, tiếng nhảy mũi — hội chúng khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm (mn89:13.1–13.18).
  • Pháp truyền thống thứ năm: các bậc bác học đến chất vấn lại thành đệ tử — Sát-đế-lị bác học, rồi Bà-la-môn, gia chủ, Sa-môn bác học biện bác như chia chẻ sợi tóc, soạn sẵn câu hỏi để chất vấn Sa-môn Gotama; nghe pháp thoại rồi không hỏi được câu nào, trái lại thành đệ tử, có người xin xuất gia và chứng đạt cứu cánh Phạm hạnh (mn89:14.1–17.21).
  • Pháp truyền thống thứ sáu: hai quan giữ ngựa Isidatta và Purāṇa — Hai người ăn cơm vua, đi xe vua, sinh sống do vua cho, nhưng khi ngủ lại nằm quay đầu về phía Thế Tôn và quay chân về phía vua (mn89:18.1–18.11).
  • Ba điều cùng chung giữa Thế Tôn và vua; vua cáo từ — Thế Tôn thuộc dòng Sát-đế-lị, người nước Kosala, tám mươi tuổi — vua cũng vậy; nên vua sẵn sàng hạ mình tột bực và biểu lộ tình thân ái. Rồi vua đảnh lễ, thân phía hữu hướng về Ngài, ra đi (mn89:19.1–20.4).
  • Lời Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo về các pháp trang nghiêm — Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo hãy học, hãy thấu triệt, hãy thọ trì các pháp trang nghiêm, vì chúng liên hệ đến mục tiêu, là căn bản của Phạm hạnh. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (mn89:21.1–21.9).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

mn89:9.1–9.4 (bản Việt: SC 20–22)
Atha kho rājā pasenadi kosalo vihāraṁ pavisitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti: “rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo; rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo”ti. “Kiṁ pana tvaṁ, mahārāja, atthavasaṁ sampassamāno imasmiṁ sarīre evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karosi, mittūpahāraṁ upadaṁsesī”ti?
Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên — Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. — Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
King Pasenadi entered the dwelling, and bowed with his head to the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name: “Sir, I am Pasenadi, king of Kosala! I am Pasenadi, king of Kosala!” “But, Great King, for what reason do you demonstrate such utmost deference for this body, conveying your manifest love?”
mn89:10.1–10.2 (bản Việt: SC 23)
“Atthi kho me, bhante, bhagavati dhammanvayo hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì”.
“Sir, I infer about the Buddha from the teaching: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
mn89:11.1–11.2 (bản Việt: SC 24)
Puna caparaṁ, bhante, rājānopi rājūhi vivadanti, khattiyāpi khattiyehi vivadanti, brāhmaṇāpi brāhmaṇehi vivadanti, gahapatayopi gahapatīhi vivadanti, mātāpi puttena vivadati, puttopi mātarā vivadati, pitāpi puttena vivadati, puttopi pitarā vivadati, bhātāpi bhaginiyā vivadati, bhaginīpi bhātarā vivadati, sahāyopi sahāyena vivadati. Idha panāhaṁ, bhante, bhikkhū passāmi samagge sammodamāne avivadamāne khīrodakībhūte aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassante viharante.
Lại nữa bạch Thế Tôn, vua chúa cãi lộn với vua chúa, Sát-đế-lị cãi lộn với Sát-đế-lị, Bà-la-môn cãi lộn với Bà-la-môn, gia chủ cãi lộn với gia chủ, mẹ cãi lộn với con, con cãi lộn với mẹ, cha cãi lộn với con, con cãi lộn với cha, anh em cãi lộn với anh em, anh em cãi lộn với chị em, chị em cãi lộn với anh em, bạn bè cãi lộn với bạn bè. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống với nhau thuận hòa, thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính.
Furthermore, kings fight with kings, aristocrats fight with aristocrats, brahmins fight with brahmins, householders fight with householders. A mother fights with her child, child with mother, father with child, and child with father. Brother fights with brother, brother with sister, sister with brother, and friend fights with friend. But here I see the mendicants living in harmony, appreciating each other, without dispute, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes.
mn89:12.10 (bản Việt: SC 29)
Idha panāhaṁ, bhante, bhikkhū passāmi haṭṭhapahaṭṭhe udaggudagge abhiratarūpe pīṇindriye appossukke pannalome paradattavutte migabhūtena cetasā viharante.
Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, không dao động, bình tĩnh, sống dựa vào sự hỷ cúng của người khác, với tâm tư như con thú rừng.
But here I see mendicants always smiling and joyful, obviously happy, with cheerful faces, living relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer.
mn89:13.14–13.15 (bản Việt: SC 30)
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Adaṇḍena vata kira, bho, asatthena evaṁ suvinītā parisā bhavissatī’ti.
Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thính chúng này thật khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm.
‘Oh lord, how incredible, how amazing, how an assembly can be so well trained without rod or sword!’
mn89:17.17–17.19 (bản Việt: SC 32)
‘manaṁ vata, bho, anassāma; manaṁ vata, bho, panassāma’. Mayañhi pubbe assamaṇāva samānā samaṇāmhāti paṭijānimhā, abrāhmaṇāva samānā brāhmaṇāmhāti paṭijānimhā, anarahantova samānā arahantāmhāti paṭijānimhā. ‘Idāni khomha samaṇā, idāni khomha brāhmaṇā, idāni khomha arahanto’ti.
Thật sự chúng ta gần hoại vong! Thật sự chúng ta gần hoại diệt! Xưa kia chúng ta không phải Sa-môn lại tự xem là Sa-môn, không phải Bà-la-môn lại tự xem là Bà-la-môn, không phải bậc A-la-hán lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán.
They say: ‘We were almost lost! We almost perished! For we used to claim that we were ascetics, brahmins, and perfected ones, but we were none of these things. But now we really are ascetics, brahmins, and perfected ones!’
mn89:19.1–19.3 (bản Việt: SC 34)
Puna caparaṁ, bhante, bhagavāpi khattiyo, ahampi khattiyo; bhagavāpi kosalo, ahampi kosalo; bhagavāpi āsītiko, ahampi āsītiko.
Thế Tôn thuộc dòng Sát-đế-lị, con cũng thuộc dòng Sát-đế-lị. Thế Tôn là người nước Kosala, con cũng thuộc người nước Kosala. Thế Tôn được tám mươi tuổi, con cũng được tám mươi tuổi.
Furthermore, the Buddha is an aristocrat, and so am I. The Buddha is Kosalan, and so am I. The Buddha is eighty years old, and so am I.
mn89:21.2–21.6 (bản Việt: SC 38)
“eso, bhikkhave, rājā pasenadi kosalo dhammacetiyāni bhāsitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto. Uggaṇhatha, bhikkhave, dhammacetiyāni; pariyāpuṇātha, bhikkhave, dhammacetiyāni; dhāretha, bhikkhave, dhammacetiyāni. Atthasaṁhitāni, bhikkhave, dhammacetiyāni ādibrahmacariyakānī”ti.
Này các Tỷ-kheo, đấy là vua Pasenadi nước Kosala. Sau khi nói lên những pháp trang nghiêm, vua đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Này các Tỷ-kheo, hãy học các pháp trang nghiêm. Hãy thấu triệt các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, các pháp trang nghiêm này liên hệ đến mục tiêu, là căn bản của Phạm hạnh.
“Mendicants, before he got up and left, King Pasenadi spoke shrines to the teaching. Learn these shrines to the teaching! Memorize these shrines to the teaching! Remember these shrines to the teaching! These shrines to the teaching are beneficial and relate to the fundamentals of the spiritual life.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dhammacetiyapháp trang nghiêmTên bài kinh. Bản Việt HT. Thích Minh Châu dịch là “pháp trang nghiêm”; bản Anh của Tỳ-kheo Sujato dịch “shrines to the teaching”. Chữ cetiya nghĩa gốc là tháp thờ, đền thờ, chỗ đáng tôn kính.
dhammanvayapháp truyền thốngBản Việt để nguyên chữ Pāli trong ngoặc: “con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn”. Bản Anh: “I infer about the Buddha from the teaching”.
sammāsambuddhabậc Chánh Ðẳng Giác
svākkhātakhéo giảng (nói về Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo giảng”)
suppaṭipannakhéo tu tập hành trì (nói về chúng Tăng đệ tử)
sāvakasaṅghachư Tăng đệ tử của Thế Tôn
brahmacariyaPhạm hạnh
khīrodakībhūtahòa hợp như nước với sữa
paramanipaccakārahạ mình tột bực
mittūpahārabiểu lộ tình thân ái
khattiyaSát-đế-lị (giai cấp vua chúa, chiến sĩ)
yojanado-tuần (đơn vị đo đường)Bản Việt ghi “có ba yojana (do tuần)”.
nigamathị trấnMedaḷumpa là một thị trấn của dân chúng Sakka.
adaṇḍena asatthenakhông gậy, không kiếm
ādibrahmacariyakacăn bản của Phạm hạnh

Cách bài kinh mở ra đã rất đẹp. Vua đang tản bộ trong vườn thượng uyển, thấy những gốc cây khả ái, đẹp mắt, lặng tiếng, thích hợp với trầm tư mặc tưởng — và chính cảnh ấy làm ông nhớ đến Thế Tôn.

Rồi ông đi ngay. Ba do-tuần, trong ngày. Một ông vua tám mươi tuổi.

Đoạn vào cửa là đoạn ai đọc cũng nhớ. Vua trao kiếm và vành khăn cho người hầu — bỏ hết dấu hiệu của quyền lực — rồi một mình im lặng bước vào hành lang, đằng hắng, gõ cửa.

Và điều ông làm sau đó thì rất khó hình dung nơi một quân vương. Cúi đầu đảnh lễ chân Phật, hôn xung quanh chân, tay xoa rờ chân, rồi tự xưng tên mình hai lần: "Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala."

Thế Tôn không khen cũng không cản. Ngài hỏi lý do. "Do thấy nguyên nhân gì, Đại vương lại hạ mình tột bực như vậy?" Và cả bài kinh là câu trả lời ấy.

Câu trả lời không phải là lòng tin suông. Vua kể một chuỗi những điều chính mắt mình thấy — kinh gọi là "pháp truyền thống" (dhammanvaya): căn cứ vào Pháp mà suy ra về Phật.

Điều thứ nhất: Phạm hạnh trọn đời. Các Sa-môn ngoài kia hành Phạm hạnh có hạn kỳ mười, hai mươi, bốn mươi năm rồi trở lại hưởng dục; còn các Tỷ-kheo giữ trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng.

Điều thứ hai: chúng Tăng hoà hợp. Ngoài đời thì vua cãi với vua, mẹ cãi với con, bạn cãi với bạn; còn chúng Tăng sống hoà hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính.

Điều thứ ba rất cụ thể, ai cũng kiểm được. Các tu sĩ nơi khác thì gầy mòn, khốn khổ, da xấu bạc nhợt, tự nói là bệnh gia truyền; còn các Tỷ-kheo hân hoan, phấn khởi, các căn thoải mái, tâm tư như con thú rừng.

Điều thứ tư là điều một ông vua mới thấy được. Vua ngồi xử kiện còn bị người ta ngắt lời; còn hàng trăm người nghe Phật thuyết pháp không một tiếng ho — và vua nói thêm một câu rất đắt: "không gậy, không kiếm" mà khéo được huấn luyện.

Điều thứ năm: các bậc bác học đến để chất vấn. Họ soạn sẵn câu hỏi, biện bác như chia chẻ sợi tóc — rồi rốt cuộc thành đệ tử, có người xin xuất gia và chứng đạt cứu cánh.

Điều thứ sáu là điều thật lòng nhất, vì nó chạm tới chính vua. Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purāṇa ăn cơm vua, đi xe vua, sinh sống do vua cho — nhưng khi ngủ thì nằm quay đầu về phía Thế Tôn, quay chân về phía vua.

Vua kể chuyện ấy mà không giận. Ông lấy đó làm bằng chứng. Đó mới là chỗ đáng kính của ông vua này.

Và điều cuối cùng rất giản dị. Thế Tôn cũng dòng Sát-đế-lị, cũng người Kosala, cũng tám mươi tuổi như con. Ba điều cùng chung — nên con sẵn lòng hạ mình.

Vua đi rồi, Thế Tôn mới nói với các Tỷ-kheo. Đó là những "pháp trang nghiêm"hãy học, hãy thấu triệt, hãy thọ trì, vì chúng liên hệ đến mục tiêu, là căn bản của Phạm hạnh.

  • "Tin Phật là tin sẵn." Vua nêu sáu điều chính mắt thấy.
  • "Vua thì không hạ mình được." Kinh chép ông hôn chân Phật.
  • "Người ăn lộc mình thì phải theo mình." Vua kể chuyện hai quan mà không giận.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện ông vua bỏ kiếm ngoài cửa.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: nhìn vào đâu để biết một đoàn thể tốt?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Sáu điều vua nêu là sáu thước đo một đoàn thể — rất nên đem soi lại đoàn mình.
  • Điều gì làm vua nhớ đến Thế Tôn?
  • “Pháp truyền thống” nghĩa là gì?
  • Chuyện hai quan giữ ngựa nói lên điều gì?
  • Vì sao gọi là “pháp trang nghiêm”?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.