G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 87
Trung Bộ · Sầu Khổ Sinh Từ Người Thương

Kinh Ái Sanh

Piyajātika Sutta — MN 87 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ái Sanh

Một người cha mất con, bỏ ăn, bỏ làm, ngày ngày ra nghĩa địa khóc. Đức Phật nói một câu ông không chịu nổi: sầu khổ sinh ra từ chính người mình thương. Ông giận bỏ đi. Câu ấy lan tới hoàng cung — và hoàng hậu Mallikā làm một việc rất khéo.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 87
  • Nhân vật — một gia chủ mất con; vua Pasenadihoàng hậu Mallikā
  • Câu cốt lõipiyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā: sầu bi khổ ưu não sinh từ người thương
  • Cách kếtkhông phải bằng lý luận, mà bằng một loạt câu hỏi rất riêng tư

Kinh Ái Sanh được Thế Tôn nói tại Sāvatthī, trong rừng Jetavana, tinh xá ông Cấp Cô Độc. Duyên khởi là một gia chủ có đứa con một thương yêu vừa mất; ông đau buồn đến mức không thiết làm việc, không thiết ăn uống, cứ ra nghĩa địa mà khóc than: "Con một của ta ở đâu? Con một của ta ở đâu?" Khi ông đến gặp Phật, Thế Tôn nói lời cốt lõi của kinh: "Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái." Gia chủ không chấp nhận, cãi lại rằng "Hỷ lạc do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái", rồi bỏ đi. Ông tìm đến đám người đánh bạc gần đó kể lại; họ đồng tình với ông, và ông ra về, nghĩ rằng "Ta đồng ý với các người đánh bạc." Câu chuyện lan dần vào hoàng cung. Vua Pasenadi nước Kosala đem lời ấy nói với hoàng hậu Mallikā với ý chê bai; hoàng hậu chỉ đáp: "Nếu Thế Tôn đã dạy như vậy, thì sự việc là như vậy." Vua nổi giận, mắng bà chỉ biết hùa theo thầy như đệ tử hùa theo thầy, rồi đuổi bà đi. Hoàng hậu Mallikā liền sai Bà-la-môn Nāḷijaṅgha đến đảnh lễ và thưa hỏi Thế Tôn cho rõ ràng, vì "Các Như Lai không bao giờ nói không như thật." Thế Tôn xác nhận lời dạy ấy và đưa ra một loạt sự việc đã từng xảy ra ngay tại Sāvatthī: người đàn bà mất mẹ, mất cha, mất anh, mất chị, mất con trai, con gái, mất chồng mà phát cuồng loạn tâm trí, chạy khắp ngã đường hỏi có ai thấy người thân của mình; cũng vậy với người đàn ông mất mẹ, cha, anh, chị, con, vợ. Cuối cùng là chuyện đôi vợ chồng bị bà con chia lìa, người chồng giết vợ rồi tự sát với ý nghĩ cả hai sẽ có nhau đời sau. Nghe Bà-la-môn thuật lại, hoàng hậu Mallikā đến hỏi vua từng câu: vua có thương công chúa Vajirī, phu nhân Vāsabhā, tướng quân Viḍūḍabha, thương chính bà, và thương hai nước Kāsi–Kosala không; nếu những người và những điều ấy biến dịch đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên nơi vua không. Lần nào vua cũng thừa nhận: nếu có sự biến dịch, đổi khác thì đến mạng sống của vua cũng đổi khác. Nhờ đó vua thấy rõ ý nghĩa lời Phật dạy, tán thán trí tuệ thể nhập của Thế Tôn, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và ba lần đảnh lễ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: gia chủ mất con một (đoạn 1-3) — Tại Jetavana, một gia chủ có đứa con một thương yêu mệnh chung; ông không thiết làm việc, không thiết ăn uống, ra nghĩa địa khóc than. Đến gặp Thế Tôn, được dạy: sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái. Gia chủ phản bác rằng hỷ lạc mới do ái sanh ra, không hoan hỷ, chống báng rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.
  • Những người đánh bạc đồng tình (đoạn 4) — Gần đó có nhiều người đánh bạc đang chơi xúc xắc. Gia chủ kể lại câu chuyện; họ tán đồng rằng hỷ lạc do ái sanh ra. Gia chủ ra đi với ý nghĩ mình đồng ý với những người đánh bạc.
  • Câu chuyện vào hoàng cung: vua Pasenadi và hoàng hậu Mallikā (đoạn 5) — Câu chuyện lần lượt lan vào nội cung. Vua Pasenadi nước Kosala đem lời Sa-môn Gotama nói cho Mallikā; hoàng hậu đáp nếu Thế Tôn đã dạy như vậy thì sự việc là như vậy. Vua chê bà chỉ biết hùa theo như đệ tử hùa theo thầy, rồi đuổi bà đi.
  • Hoàng hậu sai Bà-la-môn Nāḷijaṅgha đi hỏi Thế Tôn (đoạn 6) — Mallikā sai Bà-la-môn Nāḷijaṅgha nhân danh bà đảnh lễ, vấn an Thế Tôn và hỏi cho rõ có phải Thế Tôn đã nói lời ấy chăng; phải học thuộc kỹ lời đáp mà về thuật lại, vì các Như Lai không nói lời không như thật.
  • Thế Tôn xác nhận và nêu các sự việc đã xảy ra (đoạn 7-22) — Thế Tôn xác nhận lời dạy, rồi nêu pháp môn để hiểu: tại chính Sāvatthī, người đàn bà mất mẹ, cha, anh, chị, con trai, con gái, chồng mà phát cuồng, loạn tâm, chạy từ đường này qua đường khác, từ ngã tư này qua ngã tư khác hỏi có ai thấy người thân mình; cũng vậy với người đàn ông mất mẹ, cha, anh, chị, con trai, con gái, vợ. Sau cùng là chuyện người đàn bà bị bà con muốn cướp khỏi chồng để gả cho người khác, người chồng chặt vợ làm hai rồi tự sát với ý nghĩ cả hai sẽ có nhau đời sau.
  • Hoàng hậu Mallikā hỏi vua từng điều thân yêu (đoạn 23-28) — Bà-la-môn thuật lại đầy đủ cho hoàng hậu. Mallikā đến hỏi vua: có thương công chúa Vajirī, phu nhân Vāsabhā, tướng quân Viḍūḍabha, thương chính bà, và thương hai nước Kāsi–Kosala chăng; nếu có sự biến dịch đổi khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não có khởi lên chăng. Lần nào vua cũng thừa nhận đến mạng sống của vua cũng đổi khác, và mỗi lần hoàng hậu kết lại bằng chính lời Thế Tôn đã nói.
  • Vua tán thán và đảnh lễ Thế Tôn (đoạn 29) — Vua tán thán Thế Tôn thật vi diệu, hy hữu, đã thể nhập và thấy rõ với trí tuệ; bảo hoàng hậu đem nước rửa tay, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và ba lần nói lời đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 3 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
MN 87.1
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery.
MN 87.2
So āḷāhanaṁ gantvā kandati: "kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā"ti.
[Gia chủ] đi đến nghĩa địa và than khóc: "Con một của ta ở đâu? Con một của ta ở đâu?"
He would go to the cremation ground and wail, "Where are you, my only child? Where are you, my only child?"
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
MN 87.3.9 (câu cốt lõi của kinh, lặp lại nhiều lần)
Piyajātikā hi, gahapati, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā.
Sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.
For our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
MN 87.3.12
Piyajātikā hi kho, bhante, ānandasomanassā piyappabhavikā.
Hỷ lạc do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.
For our loved ones are a source of joy and happiness.
MN 87.5.5
Sacetaṁ, mahārāja, bhagavatā bhāsitaṁ, evametanti.
Nếu Thế Tôn đã dạy như vậy, thì sự việc là như vậy.
If that's what the Buddha said, Great King, then that's how it is.
MN 87.6.8
Na hi tathāgatā vitathaṁ bhaṇantī.
Các Như Lai không bao giờ nói không như thật.
For Realized Ones say nothing that is not so.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
MN 87.22.7-8
Atha kho so puriso taṁ itthiṁ dvidhā chetvā attānaṁ upphālesi: 'ubho pecca bhavissāmā'ti.
Rồi người ấy chặt người đàn bà ấy làm hai, rồi tự vận, nghĩ rằng: "Hai chúng ta sẽ gặp nhau trong đời sau."
But he cut her in two and disemboweled himself, thinking, 'We shall be together after death.'
MN 87.24.6 (lặp lại ở 25-28)
Vajiriyā me, mallike, kumāriyā vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāti.
Nếu có một sự biến dịch, đổi khác xảy đến cho công chúa Vajirī của ta, thì sẽ có một sự thay đổi cả đến mạng sống của ta, làm sao không khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?
If she were to decay and perish, my life would fall apart. How could sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress not arise in me?
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
MN 87.29.5-7
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. (tikkhattuṁ)
Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! (nói ba lần)
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha! (three times)
Chữ PāliNghĩaGhi chú
piyathân yêu, khả ái; người/vật mình thương mếnHT. Thích Minh Châu dịch chữ gốc này trong nhan đề là "ái" (Kinh Ái Sanh).
piyajātikado cái thân yêu (ái) sanh raTên kinh: Piyajātikasutta.
piyappabhavikahiện hữu (phát xuất) từ nơi ái
sokasầu
paridevabi (than khóc)
dukkhakhổ
domanassaưu (buồn khổ trong tâm)
upāyāsanão (tuyệt vọng, bức xúc)
vipariṇāmabiến dịch, đổi khác, hoại diệt
aññathābhāvatrở thành khác đi, đổi khác
gahapatigia chủ
ummattaka / ummattikāngười phát cuồng (nam / nữ)
khittacittaloạn tâm, tâm điên đảo
akkhadhuttangười đánh bạc (chơi xúc xắc)
pariyāyapháp môn, cách thức để hiểu rõ một điều
udānalời cảm hứng thốt lên
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassaĐảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng GiácCâu đảnh lễ quen thuộc, ở đây do chính vua Pasenadi thốt lên ba lần.

Người cha không sai khi giận. Ông đáp lại Đức Phật: “Không phải vậy, bạch Thế Tôn! Hỷ lạc mới sinh từ người thương chứ!” Rồi bỏ đi, và đi đánh bạc với mấy người ngoài, họ cũng nói ông đúng. Kinh ghi lại cả chuyện ấy — không giấu việc lời dạy này bị bác bỏ.

Vua Pasenadi cũng không chịu. Nghe lại, vua nói ngay: “Sao lại thế được?” Hai người, một dân một vua, cùng phản ứng như nhau. Lời dạy này đi ngược lòng người, và kinh biết điều đó.

Hoàng hậu Mallikā không tranh luận.hỏi. Và bà hỏi về chính những người vua thương: Bệ hạ có thương công chúa Vajirī không? Có thương phu nhân Vāsabhā không? Có thương tướng quân Viḍūḍabha, con trai bệ hạ, không? Có thương thiếp không? Có thương nước Kāsi–Kosala không?

Rồi câu hỏi thứ hai, sau mỗi tên. Nếu người ấy bị đổi khác, bị biến hoại, thì nơi bệ hạ có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não không? Vua đáp: — mỗi lần đều . Bà không nói thêm một lời nào. Vua tự thấy.

Đây là chỗ bài kinh hơn hẳn một bài giảng. Câu “sầu sinh từ người thương” nghe lạnh lùng và vô lý khi nói suông. Nhưng khi đặt tên từng người mình thương và hỏi nếu mất họ thì sao, thì câu ấy hiện ra rõ đến mức không cãi được.

Chỗ cần nói cho đúng, kẻo dạy sai. Kinh không bảo đừng thương ai. Kinh chỉ ra chỗ nỗi khổ từ đâu mà tới. Hai câu ấy khác nhau rất xa. Ai đọc thành “đừng thương để khỏi khổ”đọc hỏng cả bài — và đó là cách hiểu lầm thường gặp nhất.

Vua kết bằng một cử chỉ đẹp. Nghe xong, vua đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn và thốt lên lời kính lễ ba lần. Không phải vì thua lý — vì thấy ra.

  • “Kinh dạy đừng thương ai.” Kinh chỉ ra nỗi khổ từ đâu tới, không bảo bỏ thương.
  • “Người cha ấy ngu si.” Cả vua Pasenadi cũng phản ứng y như ông.
  • “Thương thì phải khổ, thế thôi.” Kinh nói khổ sinh khi cái mình thương đổi khác — chỗ ấy mới là điểm.
  • Ngành Oanh. Cân nhắc kỹ. Bài mở đầu bằng cái chết của một đứa trẻ. Với em nhỏ, chỉ lấy đoạn hoàng hậu hỏi vua.
  • Ngành Thiếu. Làm như hoàng hậu: mỗi em tự kể tên ba người mình thương — trong lòng thôi — rồi hỏi câu thứ hai.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Cách hoàng hậu Mallikā dạy đáng học hơn cả nội dung: bà không cãi, bà hỏi. Đọc kèm SN 3.25.
  • Vì sao người cha và cả nhà vua đều phản ứng giống nhau?
  • Hoàng hậu Mallikā làm gì thay vì tranh luận?
  • Đừng thương ai khác thấy nỗi khổ từ đâu tới thế nào?
  • Em có thử đặt tên từng người mình thương và hỏi câu thứ hai chưa?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.