G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 83
Sợi Tóc Bạc Là Thiên Sứ · Chớ Thành Người Tối Hậu

Kinh Makhādeva

Maghadeva Sutta — MN 83 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Makhādeva

Vua Makhādeva dặn người thợ cạo tóc: khi nào thấy tóc bạc thì báo cho ta. Nhiều ngàn năm sau, người thợ tâu: "Các Thiên sứ đã hiện ra cho Đại vương."

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 83
  • Nơi chốnMithilā, rừng xoài Makhādeva
  • Duyên khởimột nụ cười của Thế Tôn
  • Kết bài — Thế Tôn xác nhận chính Ngài là vua Makhādeva thuở ấy

Kinh Makhàdeva (MN 83) mở đầu bằng nụ cười của Thế Tôn tại rừng xoài Makhadeva ở Mithila. Tôn giả Ānanda thưa hỏi nhân duyên, và Thế Tôn kể lại chuyện xưa: tại chính nước Mithila này có vua Makhadeva, một vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, hành trì lễ Bố-tát (Uposatha) vào các ngày 14, 15 và mồng 8. Vua dặn người thợ cạo tóc: khi nào thấy tóc bạc mọc trên đầu thì báo cho vua biết. Nhiều ngàn năm sau, người thợ cạo tóc thấy tóc bạc và tâu: "Các Thiên sứ đã hiện ra cho Ðại vương". Vua cho nhổ sợi tóc bạc đặt vào lòng bàn tay mình, ban thưởng cho người thợ cạo tóc một lương ấp, giao ngôi cho hoàng tử con đầu, rồi cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia ngay tại rừng xoài này. Trước khi đi, vua dặn con phải tiếp tục duy trì truyền thống tốt đẹp ấy, chớ thành "người tối hậu" cắt đứt truyền thống. Xuất gia rồi, vua tu tập bốn Phạm trú (từ, bi, hỷ, xả), biến mãn khắp mười phương, và khi thân hoại mạng chung được sanh lên Phạm thiên giới. Con vua, rồi các đời cháu chắt nối tiếp, đều làm y như vậy: mỗi giai đoạn tám vạn bốn ngàn năm, và đều sanh lên Phạm thiên giới. Vua Nemi là vị cuối cùng trong dòng ấy, đức hạnh đến mức chư Thiên cõi trời Ba mươi ba tán thán; Thiên chủ Sakka sai người đánh xe Mātali đem thiên xa ngàn ngựa rước vua lên giảng đường Thiện Pháp. Nhưng vua Nemi từ chối ở lại hưởng thiên lạc, xin trở về Mithila để sống đúng pháp và giữ trai giới. Sau đó vua cũng xuất gia và sanh lên Phạm thiên giới. Con vua Nemi là Kalarajanaka không xuất gia, cắt đứt truyền thống, trở thành người tối hậu. Cuối kinh, Thế Tôn xác nhận chính Ngài thuở ấy là vua Makhadeva, và dạy điểm then chốt: truyền thống tốt đẹp ấy chỉ đưa đến Phạm thiên giới, không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Truyền thống tốt đẹp nay do Thế Tôn thiết lập chính là Thánh đạo Tám ngành — và Ngài dặn hàng đệ tử hãy tiếp tục duy trì, chớ thành người tối hậu sau Ngài.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: nụ cười của Thế Tôn — Thế Tôn trú tại rừng xoài Makhadeva ở Mithila, mỉm cười tại một địa điểm; Tôn giả Ānanda thưa hỏi nhân duyên (đoạn 1-2).
  • 2. Vua Makhadeva, vị pháp vương — Giới thiệu vua Makhadeva: pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, hành trì lễ Bố-tát ngày 14, 15, mồng 8 (đoạn 3).
  • 3. Thiên sứ hiện ra: sợi tóc bạc — Vua dặn thợ cạo tóc báo khi thấy tóc bạc; tóc bạc mọc, được nhổ đặt trên bàn tay vua; vua ban lương ấp, gọi hoàng tử con đầu, giao nước và dặn duy trì truyền thống tốt đẹp, chớ thành người tối hậu (đoạn 4).
  • 4. Xuất gia và tu bốn Phạm trú — Vua xuất gia tại rừng xoài, an trú biến mãn từ, bi, hỷ, xả khắp mười phương (đoạn 5).
  • 5. Bốn giai đoạn tám vạn bốn ngàn năm và sanh Phạm thiên — Vua Makhadeva trải bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn tám vạn bốn ngàn năm; sau khi tu tập bốn Phạm trú, thân hoại mạng chung được sanh lên Phạm thiên giới (đoạn 6).
  • 6. Con vua Makhadeva và các đời nối tiếp — Con vua lặp lại y như cha; rồi các tử tôn nối tiếp, tám vạn bốn ngàn vị vua đều xuất gia tại rừng xoài này, tu bốn Phạm trú và sanh Phạm thiên giới (đoạn 7-11).
  • 7. Vua Nemi và chư Thiên cõi trời Ba mươi ba — Nemi là vị vua cuối cùng của dòng ấy; chư Thiên Tāvatiṁsa tán thán, Thiên chủ Sakka đến mời, sai Mātali đem cỗ xe ngàn ngựa; vua xin đi cả hai con đường (thiện nghiệp và ác nghiệp) (đoạn 12-14).
  • 8. Vua Nemi từ chối thiên lạc, trở về Mithila — Tại giảng đường Thiện Pháp, Sakka mời vua hoan lạc với thiên uy lực; vua từ chối, xin về Mithila sống theo Chánh pháp và thọ trì trai giới; sau đó vua cũng xuất gia, tu bốn Phạm trú, sanh Phạm thiên giới (đoạn 15-19).
  • 9. Kalarajanaka, người tối hậu — Con vua Nemi tên Kalarajanaka không xuất gia, cắt đứt truyền thống tốt đẹp, trở thành người tối hậu (đoạn 20).
  • 10. Thế Tôn xác nhận tiền thân và chỉ ra truyền thống tốt đẹp mới — Thế Tôn cho biết Ngài chính là vua Makhadeva thuở ấy; truyền thống cũ chỉ đưa đến Phạm thiên giới, không đưa đến Niết-bàn; truyền thống tốt đẹp nay do Ngài thiết lập là Thánh đạo Tám ngành; Ngài dặn chớ thành người tối hậu sau Ngài. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ (đoạn 21).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 83.1
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā mithilāyaṁ viharati maghadevaambavane.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Mithila (Di-tát-la), tại rừng Makhadevamba.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Mithilā in the Maghadeva Mango Grove.
MN 83.3
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imissāyeva mithilāyaṁ rājā ahosi maghadevo nāma dhammiko dhammarājā dhamme ṭhito mahārājā; dhammaṁ carati brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca; uposathañca upavasati cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassa.
Thuở xưa, này Ānanda, vị vua chính nước Mithila này tên là Makhadeva, là vị pháp vương như pháp, kiên trì trên pháp, vị Ðại vương thực hành Chánh pháp, giữa các Bà-la-môn, gia chủ, giữa thị dân và thôn dân, hành trì lễ Uposatha (Bố-tát) vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8.
“Once upon a time, Ānanda, right here in Mithilā there was a just and principled king named Maghadeva, a great king who stood by his duty. He justly treated brahmins and householders, and people of town and country. And he observed the sabbath on the fourteenth, fifteenth, and eighth of the fortnight.
MN 83.4.6
‘pātubhūtā kho devassa devadūtā, dissanti sirasmiṁ palitāni jātānī’ti.
“—Các Thiên sứ đã hiện ra cho Ðại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu”.
‘The messengers of the gods have shown themselves to you. Grey hairs can be seen growing on your head.’
MN 83.4.17
Yena me idaṁ kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ anuppavatteyyāsi, mā kho me tvaṁ antimapuriso ahosi.
Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì, con chớ thành người tối hậu sau ta.
Keep up this good practice that I have founded. Do not be my final man.
MN 83.5.2
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā vihāsi.
Vị này an trú, biến mãn một phương với tâm thấm nhuần lòng từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm thấm nhuần lòng từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
He meditated spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, he spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
MN 83.6.2
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Vị này, sau khi tụ tập bốn Phạm trú, khi thân hoại mạng chung, được sanh lên Phạm thiên giới.
And having developed the four divine meditations, when his body broke up, after death, he was reborn in a good place, a realm of divinity.
MN 83.15.13-15
‘Alaṁ, mārisa, tattheva maṁ mithilaṁ paṭinetu. Tathāhaṁ dhammaṁ carissāmi brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca; uposathañca upavasāmi cātuddasiṁ pañcadasiṁ aṭṭhamiñca pakkhassā’ti.
“—Thôi vừa rồi, Tôn giả. Hãy đưa tôi về Mithila, tại đấy tôi sẽ sống theo Chánh pháp giữa các vị Bà-la-môn, gia chủ, và giữa các thị dân và thôn dân và thọ trì trai giới vào các ngày 14, ngày 15 và ngày mồng 8”.
‘Enough, good fellow. Send me back to Mithilā right away. That way I shall justly treat brahmins and householders, and people of town and country. And I shall observe the sabbath on the fourteenth, fifteenth, and eighth of the fortnight.’
MN 83.21.7-11
Taṁ kho panānanda, kalyāṇaṁ vattaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva brahmalokūpapattiyā. Idaṁ kho panānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Katamañcānanda, etarahi mayā kalyāṇaṁ vattaṁ nihitaṁ ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
Nhưng này Ānanda, truyền thống tốt đẹp ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn và này Ānanda, nay thế nào là truyền thống tốt đẹp được Ta thiết lập, và truyền thống ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Chính là Thánh đạo Tám ngành này, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
But that good practice doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the realm of divinity. But now I have founded a good practice that does lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. And what is that good practice? It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
devadūtaThiên sứ — trong kinh này chỉ sợi tóc bạc, dấu hiệu báo tuổi giàHT. Thích Minh Châu dịch là "Thiên sứ"; bản Anh: messengers of the gods.
kalyāṇa vattaTruyền thống tốt đẹpChủ đề trục của kinh; cuối kinh được thay bằng Thánh đạo Tám ngành.
antimapurisaNgười tối hậu — người làm đứt đoạn truyền thống
uposathaLễ Bố-tát, ngày trai giới (14, 15, mồng 8 mỗi nửa tháng)
brahmavihāraPhạm trú — bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả
mettā / karuṇā / muditā / upekkhāTừ / bi / hỷ / xả
brahmalokaPhạm thiên giớiQuả báo cao nhất của truyền thống cũ, nhưng chưa phải Niết-bàn.
ariyo aṭṭhaṅgiko maggoThánh đạo Tám ngành
nibbidā, virāga, nirodha, upasama, abhiññā, sambodha, nibbānaYểm ly, ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bànChuỗi bảy mục tiêu dùng để phân biệt hai truyền thống.
pabbajjā / agārasmā anagāriyaṁ pabbajiXuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình
Sakka devānamindoThiên chủ Ðế-thích, vua chư Thiên cõi trời Ba mươi ba
TāvatiṁsaCõi trời Ba mươi ba (Tam thập tam thiên)
Sudhammā sabhāGiảng đường Thiện Pháp

Cả bài kinh khởi từ một nụ cười. Thế Tôn mỉm cười tại một địa điểm; Tôn giả Ānanda hỏi nhân duyên — và chuyện xưa được kể ra.

Vua Makhādeva là một pháp vương. Kiên trì trên pháp, hành trì lễ Bố-tát vào các ngày 14, 15 và mồng 8ngay khi đang làm vua.

Nhưng điều làm bài kinh này nhớ mãi là lời dặn người thợ cạo tóc. Khi nào thấy tóc bạc mọc trên đầu thì báo cho vua biết. Một lời dặn rất bình thường — và rất chuẩn bị.

Cách người thợ báo tin mới là chỗ đẹp. Ông không nói "bệ hạ có tóc bạc rồi". Ông nói: "Các Thiên sứ đã hiện ra cho Đại vương. Tóc bạc đã được thấy mọc ra trên đầu."

Chữ "Thiên sứ" ở đây rất đáng dừng lại. Không phải một vị trời hiện xuống — mà là MỘT SỢI TÓC BẠC. Cái báo tin không đến từ trên cao; nó mọc ra từ chính đầu mình.

Và vua làm ngay, không chần chừ. Cho nhổ sợi tóc bạc đặt vào lòng bàn tay, ban thưởng một lương ấp cho người báo tin, giao ngôi cho hoàng tử, rồi xuất gia ngay tại rừng xoài này.

Lời dặn con trước khi đi là câu trục của cả bài. "Truyền thống tốt đẹp này do ta thiết lập, con phải tiếp tục duy trì, con chớ thành người tối hậu sau ta."

Rồi truyền thống ấy chạy suốt tám vạn bốn ngàn đời vua. Mỗi vị đều xuất gia tại rừng xoài này, tu bốn Phạm trú (từ, bi, hỷ, xả), và sanh lên Phạm thiên giới.

Vua Nemi là vị cuối cùng — và câu chuyện của ông rất hay. Chư Thiên cõi trời Ba mươi ba tán thán, Thiên chủ Sakka sai Mātali đem thiên xa ngàn ngựa tới rước.

Nhưng vua Nemi từ chối ở lại hưởng thiên lạc. Ông xin trở về Mithilā để sống đúng pháp và giữ trai giới. Được mời lên trời mà xin về nhà làm việc của mình.

Rồi tới người con: Kalārajanaka. Ông không xuất gia, cắt đứt truyền thốngtrở thành "người tối hậu". Tám vạn bốn ngàn đời giữ được, một đời làm đứt.

Và câu kết mới là chỗ Thế Tôn muốn nói. Truyền thống tốt đẹp ấy CHỈ đưa đến Phạm thiên giớikhông đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Tám vạn bốn ngàn đời vua, mà vẫn chưa tới đích.

Truyền thống tốt đẹp mới do chính Ngài thiết lập là Thánh đạo Tám ngành. Và Ngài dặn lại đúng câu ngày xưa: hãy tiếp tục duy trì, chớ thành người tối hậu sau Ngài.

  • "Thiên sứ là vị trời hiện xuống." Ở đây Thiên sứ là sợi tóc bạc.
  • "Sanh Phạm thiên là xong." Kinh nói vẫn chưa tới Niết-bàn.
  • "Truyền thống lâu đời thì chắc đúng." Kinh nói truyền thống ấy chưa đủ.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện ông vua và sợi tóc bạc.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: cái gì trong đời em đang báo tin thời gian trôi?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Câu "chớ thành người tối hậu" rất hợp cho việc trao truyền trong đoàn.
  • Thiên sứ trong bài kinh này là gì?
  • Vua dặn con điều gì?
  • Vì sao vua Nemi từ chối lên trời?
  • Truyền thống tốt đẹp mới là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.