G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 81
Người Thợ Gốm Nắm Tóc Bạn Mà Kéo Đi Nghe Pháp

Kinh Ghaṭīkāra

Ghaṭīkāra Sutta — MN 81 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ghaṭīkāra

Thế Tôn mỉm cười bên lề đường, rồi kể: chính nơi đây xưa kia là thị trấn Vebhaliṅga, nơi Thế Tôn Kassapa từng trú. Và Ngài kể chuyện người thợ gốm Ghaṭīkāra.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 81
  • Nơi chốn — trên đường du hành xứ Kosala, nền đất cũ của Vebhaliṅga
  • Vị Phật đời trướcThế Tôn Kassapa
  • Kết bài — Thế Tôn xác nhận chính Ngài là thanh niên Jotipāla thuở ấy

Kinh Ghaṭikāra là một bài kinh kể chuyện tiền thân, do chính Đức Phật thuật lại cho Tôn giả Ānanda ngay tại nền đất cũ của thị trấn Vebhalinga, nơi Thế Tôn Kassapa (vị Phật đời trước) từng sống. Thuở ấy tại Vebhalinga có người thợ gốm tên Ghaṭikāra, là đàn tín hộ trì đệ nhất của Thế Tôn Kassapa, và có người bạn chí thân là thanh niên Jotipāla. Ghaṭikāra nhiều lần rủ bạn đi yết kiến Phật, nhưng Jotipāla đều gạt đi: "Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?". Sau khi rủ ba lần không được, Ghaṭikāra nhân lúc hai người ra sông tắm, lại rủ ba lần nữa, rồi nắm cổ tay áo bạn, cuối cùng nắm lấy tóc vừa mới gội của bạn mà kéo. Jotipāla kinh ngạc: một người thuộc hạ cấp mà dám làm vậy thì việc này hẳn không tầm thường — nên bằng lòng đi. Nghe Thế Tôn Kassapa thuyết pháp xong, Jotipāla xin xuất gia; còn Ghaṭikāra thì không xuất gia được vì phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Phần sau, khi vua Kikī xứ Kāsi cúng dường thịnh soạn và ba lần thỉnh Phật Kassapa an cư mùa mưa mà không được, vua buồn lòng hỏi có đàn tín nào hơn mình chăng. Thế Tôn Kassapa liền kể về Ghaṭikāra: quy y Tam Bảo, giữ năm giới, thành tựu lòng tin bất thối chuyển và các giới được bậc Thánh ái lạc, không nghi ngờ Bốn Sự Thật, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, không giữ vàng bạc, không tự tay đào đất, chỉ lấy đất do bờ đê sập hay chuột chó đào lên mà làm đồ gốm, và để đồ gốm cho ai muốn lấy thì bỏ lại chút gạo đậu tùy ý — một cách sinh sống hoàn toàn không mua bán, không sát hại. Ông nuôi cha mẹ già mù, và đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử (bậc Bất Lai). Hai chuyện nhỏ cho thấy niềm tin ấy: Phật Kassapa tự vào nhà lấy cháo trong nồi, lấy đồ ăn trong chảo mà dùng; và chư Tăng đến rút cỏ mái nhà ông về lợp cốc Phật bị dột — cả hai lần Ghaṭikāra chỉ thấy "thật là lợi ích cho ta" vì được Phật tin tưởng đến thế, hỷ lạc suốt nửa tháng. Ngôi nhà trống mái suốt ba tháng mà trời không mưa vào. Cuối kinh, Thế Tôn xác nhận: thanh niên Jotipāla thuở ấy chính là Ngài.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nụ cười của Thế Tôn và duyên khởi (MN 81.1–5) — Thế Tôn du hành ở Kosala, rời đường và mỉm cười. Ānanda hỏi nhân duyên. Thế Tôn cho biết nơi này xưa là thị trấn Vebhalinga, chỗ Thế Tôn Kassapa trú và giảng dạy chúng Tỷ-kheo. Ānanda trải y mời Phật ngồi, để đất này được hai bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác sử dụng.
  • 2. Thợ gốm Ghaṭikāra rủ bạn Jotipāla đi yết kiến Phật Kassapa (MN 81.6–9) — Ba lần rủ, ba lần bị từ chối bằng câu "yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì". Nhân đi tắm sông lại rủ ba lần nữa; rồi nắm cổ tay áo, rồi nắm tóc vừa gội của bạn. Jotipāla nhận ra việc này không tầm thường và bằng lòng đi.
  • 3. Nghe pháp và Jotipāla xuất gia (MN 81.10–13) — Phật Kassapa thuyết pháp khích lệ hai người. Jotipāla hỏi vì sao Ghaṭikāra không xuất gia; Ghaṭikāra đáp vì phải nuôi cha mẹ già mù lòa. Jotipāla xin xuất gia, được thọ đại giới. Nửa tháng sau Phật Kassapa du hành đến Bārāṇasī, trú tại Isipatana, vườn Lộc Uyển.
  • 4. Vua Kikī xứ Kāsi cúng dường và thỉnh an cư (MN 81.14–17) — Vua Kikī đến yết kiến, thỉnh Phật thọ trai, dâng các món thượng vị. Ba lần thỉnh Phật an cư mùa mưa tại Bārāṇasī đều được đáp "Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi". Vua thất vọng ưu phiền và hỏi: Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?
  • 5. Phật Kassapa kể về hạnh của thợ gốm Ghaṭikāra (MN 81.18) — Quy y Tam Bảo; từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, rượu men rượu nấu; lòng tin bất thối chuyển và giới được bậc Thánh ái lạc; không nghi ngờ Bốn Sự Thật; ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh; từ bỏ vàng bạc ngọc ngà; không tự tay đào đất; nuôi cha mẹ già mù; đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh và nhập Niết-bàn từ chỗ ấy.
  • 6. Những câu chuyện chứng tỏ lòng tin tưởng (MN 81.19–21) — Pāli chia làm BA đoạn (19, 20, 21), còn bản Việt của Hoà thượng Minh Châu gộp lại thành HAI chuyện; hai con số đều có cơ sở, chỉ khác cách chia — Phật Kassapa tự lấy cháo trong nồi, đồ ăn trong chảo nhà Ghaṭikāra mà dùng (bản Pali kể hai lần: cơm ở đoạn 19 và cháo kummāsa ở đoạn 20; bản Việt kể một lần). Rồi chư Tăng rút cỏ mái nhà ông lợp cốc Phật bị dột. Cả hai lần Ghaṭikāra chỉ thấy được lợi ích lớn, hỷ lạc nửa tháng; nhà trống mái suốt ba tháng mà không mưa rơi vào.
  • 7. Vua Kikī gởi năm trăm xe gạo — Ghaṭikāra từ chối (MN 81.22) — Vua cho đưa năm trăm xe gạo và đồ ăn đến; Ghaṭikāra đáp: nhà vua rất nhiều phận sự, chỉ riêng việc được nhà vua nghĩ đến đã là vừa đủ cho ông.
  • 8. Kết: Thế Tôn xác nhận tiền thân (MN 81.23) — "Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala." Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 81.6 (bản Việt: SC 10–12)
‘āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma. Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti. … ‘alaṁ, samma ghaṭikāra. Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
“—Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”. … “—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
‘Come, dear Jotipāla, let’s go to see the Blessed One Kassapa, the perfected one, the fully awakened Buddha. For I deem it holy to see that Blessed One.’ … ‘Enough, dear Ghaṭīkāra. What’s the use of seeing that shaveling, that fake ascetic?’
MN 81.9 (bản Việt: SC 33)
Atha kho, ānanda, jotipālassa māṇavassa etadahosi: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Yatra hi nāmāyaṁ ghaṭikāro kumbhakāro ittarajacco samāno amhākaṁ sīsaṁnhātānaṁ kesesu parāmasitabbaṁ maññissati; na vatidaṁ kira orakaṁ maññe bhavissatī’ti;
Rồi này Ānanda, thanh niên Jotipala suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu! Thật là hy hữu! Thợ gốm Ghatikara tuy sanh thuộc hạ cấp, lại dám nghĩ có thể nắm lấy tóc của ta, dầu ta vừa mới gội đầu, chắc việc này không phải là tầm thường”
Then Jotipāla thought, ‘Oh lord, how incredible, how amazing, how this potter Ghaṭīkāra, though of lowly birth, should presume to grab me by the hair of my freshly-washed head! This must be no ordinary matter.’
MN 81.11 (bản Việt: SC 41–43)
‘imaṁ nu tvaṁ, samma ghaṭikāra, dhammaṁ suṇanto atha ca pana agārasmā anagāriyaṁ na pabbajissasī’ti? ‘Nanu maṁ, samma jotipāla, jānāsi, andhe jiṇṇe mātāpitaro posemī’ti? ‘Tena hi, samma ghaṭikāra, ahaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmī’ti.
“—Này bạn Ghatikara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia?” “—Này bạn Jotipala, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa”. “—Vậy này bạn Ghatikara, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
‘Dear Ghaṭīkāra, you have heard this teaching, so why don’t you go forth from the lay life to homelessness?’ ‘Don’t you know, dear Jotipāla, that I provide for my blind old parents?’ ‘Well then, dear Ghaṭīkāra, I shall go forth from the lay life to homelessness.’
MN 81.18.10–11 (bản Việt: trong SC 60)
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro ekabhattiko brahmacārī sīlavā kalyāṇadhammo. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro nikkhittamaṇisuvaṇṇo apetajātarūparajato.
Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ ngọc và vàng, không có vàng và bạc.
He eats in one part of the day; he’s chaste, ethical, and of good character. He has set aside gems and gold, and quit using gold and currency.
MN 81.18.12–14 (bản Việt: trong SC 60)
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pannamusalo na sahatthā pathaviṁ khaṇati. Yaṁ hoti kūlapaluggaṁ vā mūsikukkaro vā taṁ kājena āharitvā bhājanaṁ karitvā evamāha: “ettha yo icchati taṇḍulapaṭibhastāni vā muggapaṭibhastāni vā kaḷāyapaṭibhastāni vā nikkhipitvā yaṁ icchati taṁ haratū”ti.
Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau: “Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que (mugga), từng nhúm các loại đậu hột (kalaya), và có thể lấy cái gì mình muốn”.
He has put down the shovel and doesn’t dig the earth with his own hands. He takes what has crumbled off by a riverbank or been dug up by mice, and brings it back in a carrier. When he has made a pot, he says, “Anyone may leave bagged sesame, mung beans, or chickpeas here and take what they wish.”
MN 81.18.15–16 (bản Việt: trong SC 60)
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro andhe jiṇṇe mātāpitaro poseti. Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa.
He provided for his blind old parents. And since he has ended the five lower fetters, Ghaṭīkāra will be reborn spontaneously and will become extinguished there, not liable to return from that world.
MN 81.19.10–12 (bản Việt: SC 67)
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi: “lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti. Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần (không rời khỏi) cha mẹ (người thợ gốm).
Then Ghaṭīkāra thought, “I’m so fortunate, so very fortunate, in that the Buddha Kassapa trusts me so much!” Then joy and happiness did not leave him for a fortnight, or his parents for a week.
MN 81.21.20–21 (bản Việt: SC 81)
Atha kho, mahārāja, āvesanaṁ sabbantaṁ temāsaṁ ākāsacchadanaṁ aṭṭhāsi, na devotivassi. Evarūpo ca, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro’ti.
Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Ðại vương, là người thợ gốm Ghatikara.
Then the workshop remained with the atmosphere for a roof for the whole three months, but the heavens did not rain on it. And that, Great King, is what Ghaṭīkāra the potter is like.’
MN 81.23.1–4 (bản Việt: SC 86)
Siyā kho pana te, ānanda, evamassa: ‘añño nūna tena samayena jotipālo māṇavo ahosī’ti. Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Ahaṁ tena samayena jotipālo māṇavo ahosin”ti.
—Này Ānanda, rất có thể Ông suy nghĩ như sau: “Lúc bây giờ, thanh niên Jotipala có thể là một người khác”. Nhưng này Ānanda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala.
Ānanda, you might think: ‘Surely the student Jotipāla must have been someone else at that time?’ But you should not see it like this. I myself was the student Jotipāla at that time.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kumbhakārathợ gốm, người làm đồ gốm
upaṭṭhāka / aggupaṭṭhākađàn tín hộ trì / đàn tín hộ trì tối thượng (đệ nhất)Bản Việt dịch là "đàn tín", "đàn tín hộ trì tối thượng".
muṇḍaka samaṇakaSa-môn trọc đầu (lời khinh miệt của Jotipāla)
pabbajjā / upasampadāxuất gia / thọ đại giới
aveccappasādalòng tin bất thối chuyển (đối với Phật, Pháp, Tăng)
ariyakantāni sīlānicác giới được bậc Thánh ái lạc
ekabhattikaăn một ngày một bữa
brahmacārīsống Phạm hạnh
pañca orambhāgiyāni saṁyojanāninăm hạ phần kiết sử
opapātikahóa sanhỞ đây chỉ bậc Bất Lai (anāgāmī) hóa sanh và nhập Niết-bàn từ cõi ấy, không trở lui đời này.
parinibbāyī / anāvattidhammonhập Niết-bàn từ chỗ ấy / không phải trở lui (đời này) nữa
pītisukhahỷ lạc
vassāvāsaan cư mùa mưa
saṅghāṭiy tăng-già-lê (y hai lớp)
andhe jiṇṇe mātāpitaro posetinuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa

Bài kinh mở đầu bằng một nụ cười. Thế Tôn bước xuống bên lề đường, đến một địa điểm rồi mỉm cười. Tôn giả Ānanda hỏi nhân duyên — và cả bài kinh từ nụ cười ấy mà ra.

Nhân vật chính là một người thợ gốm. Ghaṭīkārađàn tín hộ trì đệ nhất của Thế Tôn Kassapa. Và ông có một người bạn chí thân: thanh niên Jotipāla.

Đoạn rủ bạn đi nghe pháp là đoạn ai đọc cũng nhớ. Ghaṭīkāra rủ nhiều lần; Jotipāla đều gạt: "Thôi vừa rồi, bạn Ghaṭīkāra, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?"

Rủ ba lần không được, ông không bỏ cuộc. Nhân lúc hai người ra sông tắm, ông rủ ba lần nữa, rồi nắm cổ tay áo bạn, cuối cùng nắm lấy tóc vừa mới gội của bạn mà kéo.

Và phản ứng của Jotipāla mới là chỗ hay. Ông kinh ngạc: một người thuộc hạ cấp mà dám làm vậy thì việc này hẳn không tầm thườngnên bằng lòng đi.

Xin để ý: điều thuyết phục ông không phải lý lẽ. Mà là thấy bạn mình dám làm một việc vượt quá thân phận. Có những lúc lòng thành nói được điều lời nói không nói được.

Nghe pháp xong, Jotipāla xin xuất gia. Còn Ghaṭīkāra thì không xuất gia được — vì phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù loà.

Đó là chỗ cảm động nhất bài kinh. Người đưa bạn tới đạo lại là người ở lại. Và ông ở lại vì một bổn phận rất cụ thể.

Nếp sống của ông được Phật Kassapa kể lại, và rất đáng chép. Ông không mua bán: bày đồ gốm ra, ai muốn lấy thì bỏ lại chút gạo đậu tuỳ ý. Không sát hại, không đào đất. Và ông đã đoạn năm hạ phần kiết sử — bậc Bất Lai.

Những câu chuyện chứng tỏ lòng tin của ông thì rất tự nhiên. Phật Kassapa tự vào nhà lấy cháo trong nồi, lấy đồ ăn trong chảo mà dùng.chư Tăng đến rút cỏ mái nhà ông về lợp cốc Phật bị dộtông chỉ thấy đó là lợi ích lớn cho mình.

Xin nói rõ một chi tiết của nguyên bản. Pāli phân biệt nhà ở (nivesana — không lợp cỏ) với xưởng làm gốm (āvesana — chỗ này mới có mái cỏ). Chính cái xưởng ấy đứng ba tháng không mái mà không bị mưa dột. Bản Việt gộp cả hai thành "ngôi nhà".

Và câu kết là câu bất ngờ nhất. Thế Tôn xác nhận: thanh niên Jotipāla thuở ấy CHÍNH LÀ NGÀI. Người từng nói "Sa-môn trọc đầu để làm gì".

  • "Người hộ pháp thì phải xuất gia." Ghaṭīkāra ở lại nuôi cha mẹ — và đã là bậc Bất Lai.
  • "Kéo bạn đi là ép buộc." Chính việc dám làm ấy thuyết phục được bạn.
  • "Bồ-tát thì đời nào cũng kính Phật." Kinh chép Ngài từng nói "Sa-môn trọc đầu để làm gì".
  • Ngành Oanh. Kể chuyện người thợ gốm nuôi cha mẹ mù.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao Jotipāla đổi ý?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài rất hợp nói về người cư sĩ hộ phápbổn phận với cha mẹ.
  • Vì sao Thế Tôn mỉm cười?
  • Ghaṭīkāra làm gì để bạn chịu đi?
  • Vì sao ông không xuất gia?
  • Jotipāla là ai?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.