G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 78
Không Làm Ác Chưa Phải Là Thiện · Thí Dụ Đứa Con Nít Nằm Ngửa

Kinh Samaṇamaṇḍikā

Samaṇamuṇḍika Sutta — MN 78 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Samaṇamaṇḍikā

Du sĩ Uggāhamāna chủ trương: ai không làm ác về thân, không nói lời ác, không tư duy ác, không sinh sống bằng nếp sống ác thì là "bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng". Nghe rất thuận tai — và Thế Tôn bác bằng một thí dụ khó quên.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 78
  • Nơi chốn — Sāvatthi, Jetavana
  • Người đem chuyện về hỏi — thợ mộc Pañcakaṅga
  • Số du sĩ — bản Việt ghi ba trăm, Pāli và bản Anh ghi năm trăm

Kinh mở đầu bằng một chủ trương của du sĩ Uggahamana: hễ ai thành tựu bốn pháp — không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác, không tư duy ác tư duy, không sinh sống bằng nếp sống ác — thì người ấy "được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng". Thợ mộc Pañcakaṅga không tranh cãi mà đem về hỏi Thế Tôn. Thế Tôn bác chủ trương ấy bằng một thí dụ rất dễ nhớ: nếu chỉ "không làm bốn điều ác" là đủ, thì một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa cũng thành bậc Sa-môn tối thượng, vì nó chưa hề có ý niệm "đây là thân", "đây là lời nói", "đây là tư duy", "đây là nghề sinh sống". Xin phân biệt cho rõ: kinh CHỈ nói người thành tựu bốn pháp ấy “ngang bằng đứa con nít nằm ngửa” (Pāli samadhigayha tiṭṭhati). Còn câu “thiện của kẻ chưa biết làm ác không phải là thiện do tu tập; đạo Phật đòi hỏi sự đoạn trừ có ý thức chứ không phải sự ngây thơ thụ động” là LỜI GIẢNG của chúng tôi — cách hiểu chuẩn mực của thí dụ ấy, nhưng không phải chữ trong kinh. Kế đó Thế Tôn dạy mười pháp mới thật sự làm nên bậc Sa-môn vô năng thắng, và trước hết chỉ ra bốn điều cần hiểu đối với mỗi nhóm pháp: đây là (bất) thiện giới / (bất) thiện tư duy, chúng sanh khởi từ đâu, chúng được trừ diệt không dư tàn ở đâu, và thực hành thế nào để đưa đến sự trừ diệt ấy. Bốn nhóm được phân tích: bất thiện giới (thân nghiệp, khẩu nghiệp bất thiện, nếp sống ác) sanh từ tâm có tham, sân, si; thiện giới sanh từ tâm không tham, không sân, không si; bất thiện tư duy (dục, sân, hại) sanh từ tưởng; thiện tư duy (ly dục, vô sân, bất hại) cũng sanh từ tưởng. Bất thiện giới diệt khi Tỷ-kheo đoạn thân, khẩu, ý ác hạnh và sống chánh mạng; thiện giới diệt nơi vị có giới hạnh mà không chấp trước giới, như thật tuệ tri tâm giải thoát và tuệ giải thoát; bất thiện tư duy diệt trong Thiền thứ nhất, thiện tư duy diệt trong Thiền thứ hai. Đường thực hành cho cả bốn là Bốn Chánh Cần. Cuối kinh, mười pháp được nêu rõ: các chi phần vô học (asekha) — chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh trí, chánh giải thoát. Thợ mộc Pañcakaṅga hoan hỷ tín thọ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Sāvatthi và cuộc gặp với du sĩ Uggahamana — SC 1–6: Thế Tôn trú tại Kỳ Viên; du sĩ Uggahamana cùng BA TRĂM du sĩ theo bản Việt của Hoà thượng Minh Châu — nhưng Pāli mn78:1.3 ghi “pañcamattehi paribbājakasatehi” và bản Anh ghi “around five hundred wanderers”, tức NĂM trăm ở tinh xá Mallikā đang bàn nhiều chuyện phù phiếm; thấy thợ mộc Pañcakaṅga đến liền khuyến cáo chúng giữ im lặng.
  • 2. Chủ trương bốn pháp của Uggahamana — SC 7: Không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác, không tư duy ác tư duy, không sinh sống bằng nếp sống ác — như vậy là Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng.
  • 3. Thợ mộc đem hỏi Thế Tôn; thí dụ đứa con nít nằm ngửa — SC 8–10: Thợ mộc không hoan hỷ cũng không kích bác, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn chỉ rõ nếu vậy thì đứa con nít nằm ngửa cũng thành Sa-môn tối thượng; người thành tựu bốn pháp ấy chỉ ngang bằng đứa con nít, chưa phải thiện tối thắng.
  • 4. Nêu mười pháp và bốn điều cần hiểu về mỗi nhóm — SC 11: Với bất thiện giới, thiện giới, bất thiện tư duy, thiện tư duy — cần hiểu: chúng là gì, từ đâu sanh, diệt không dư tàn ở đâu, và thực hành nào đưa đến sự diệt ấy.
  • 5. Bất thiện giới: định nghĩa, nguồn sanh, chỗ diệt, đường tu — SC 12–15: Thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, nếp sống ác; sanh từ tâm có tham, sân, si; diệt nơi Tỷ-kheo đoạn thân/khẩu/ý ác hạnh và sống chánh mạng; đường tu là Bốn Chánh Cần.
  • 6. Thiện giới: định nghĩa, nguồn sanh, chỗ diệt, đường tu — SC 16–19: Thân nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, thanh tịnh mạng; sanh từ tâm không tham, không sân, không si; diệt nơi vị có giới hạnh mà không chấp trước giới (sīlamaya), như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát; đường tu là Bốn Chánh Cần.
  • 7. Bất thiện tư duy: định nghĩa, nguồn sanh, chỗ diệt, đường tu — SC 20–23: Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy; sanh từ tưởng (dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng); diệt trong Thiền thứ nhất; đường tu là Bốn Chánh Cần.
  • 8. Thiện tư duy: định nghĩa, nguồn sanh, chỗ diệt, đường tu — SC 24–27: Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy; sanh từ tưởng; diệt trong Thiền thứ hai; đường tu là Bốn Chánh Cần.
  • 9. Mười pháp vô học và kết kinh — SC 28–29: Các chi phần vô học từ chánh tri kiến đến chánh giải thoát làm nên bậc Sa-môn vô năng thắng; thợ mộc Pañcakaṅga hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 7 / MN 78:5.1–5.3
“Catūhi kho ahaṁ, gahapati, dhammehi samannāgataṁ purisapuggalaṁ paññapemi sampannakusalaṁ paramakusalaṁ uttamapattipattaṁ samaṇaṁ ayojjhaṁ. Katamehi catūhi? Idha, gahapati, na kāyena pāpakammaṁ karoti, na pāpakaṁ vācaṁ bhāsati, na pāpakaṁ saṅkappaṁ saṅkappeti, na pāpakaṁ ājīvaṁ ājīvati—
—Này Thợ mộc, ta chủ trương rằng một người thành tựu bốn pháp, người ấy sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn thành đạt tối thượng, vô năng thắng. Thế nào là bốn? Ở đây, này Thợ mộc, không làm ác nghiệp về thân, không nói lời ác, không tư duy ác tư duy, không sinh sống (bằng) nếp sống ác.
“Householder, when an individual person has four qualities I describe them as an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment. What four? It’s when they do no bad deeds with their body; speak no bad words; think no bad thoughts; and don’t earn a living by bad livelihood.
SC 9 / MN 78:8.2–8.3
“evaṁ sante kho, thapati, daharo kumāro mando uttānaseyyako sampannakusalo bhavissati paramakusalo uttamapattipatto samaṇo ayojjho, yathā uggāhamānassa paribbājakassa samaṇamuṇḍikāputtassa vacanaṁ. Daharassa hi, thapati, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa kāyotipi na hoti, kuto pana kāyena pāpakammaṁ karissati, aññatra phanditamattā.
—Nếu sự tình là như vậy thời một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa sẽ được thiện cụ túc, thiện tối thắng, là bậc Sa-môn, thành đạt tối thượng, là bậc vô năng thắng đúng như lời du sĩ Uggahamana, con của Samanamandika. Này Thợ mộc, đối với đứa con nít nhỏ bé, vô trí, nằm ngửa, không có nghĩ: “Ðây là thân”, từ đâu nó có thể làm ác nghiệp về thân, trừ ra chỉ biết quơ tay quơ chân?
“Chamberlain, if what Uggāhamāna says is true, a little baby boy is an invincible ascetic—accomplished in the skillful, excelling in the skillful, attained to the highest attainment. For a little baby doesn’t even have a concept of ‘a body’, so how could they possibly do a bad deed with their body, aside from just wriggling?
SC 12–13 / MN 78:10.1–10.9
Katame ca, thapati, akusalā sīlā? Akusalaṁ kāyakammaṁ, akusalaṁ vacīkammaṁ, pāpako ājīvo—ime vuccanti, thapati, akusalā sīlā. Ime ca, thapati, akusalā sīlā kiṁsamuṭṭhānā? Samuṭṭhānampi nesaṁ vuttaṁ. ‘Cittasamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ. Katamaṁ cittaṁ? Cittampi hi bahuṁ anekavidhaṁ nānappakārakaṁ. Yaṁ cittaṁ sarāgaṁ sadosaṁ samohaṁ, itosamuṭṭhānā akusalā sīlā.
Và này Thợ mộc, thế nào là bất thiện giới? Thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất thiện, nếp sống ác. Những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là bất thiện giới. Và này Thợ mộc, những bất thiện giới này sanh khởi như thế nào? Sự sanh khởi của chúng cũng được nói đến, cần phải trả lời từ tâm sanh khởi. Thế nào là tâm? Tâm có nhiều loại, đa chủng, sai biệt. Tâm có tham, có sân, có si, từ đây những bất thiện giới sanh khởi.
And what, chamberlain, are unskillful behaviors? Unskillful deeds by way of body and speech, and bad livelihood. These are called unskillful behaviors. And where do these unskillful behaviors stem from? Where they stem from has been stated. You should say that they stem from the mind. What mind? The mind takes many and diverse forms. But unskillful behaviors stem from a mind that has greed, hate, and delusion.
SC 18 / MN 78:11.10–11.13
Ime ca, thapati, kusalā sīlā kuhiṁ aparisesā nirujjhanti? Nirodhopi nesaṁ vutto. Idha, thapati, bhikkhu sīlavā hoti no ca sīlamayo, tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti; yatthassa te kusalā sīlā aparisesā nirujjhanti.
Và này Thợ mộc, những thiện giới này từ đâu được trừ diệt, không có dư tàn? Sự trừ diệt của chúng cũng được nói đến. Ở đây, vị Tỷ-kheo có giới hạnh, và không chấp trước giới (silamayo), và vị này như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ở đây, những thiện giới ấy được trừ diệt, không có dư tàn.
And where do these skillful behaviors cease without remainder? Their cessation has also been stated. It’s when a mendicant behaves ethically, but they are not determined by ethical behavior. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where these skillful behaviors cease without remainder.
SC 20–22 / MN 78:12.1–12.13
Katame ca, thapati, akusalā saṅkappā? Kāmasaṅkappo, byāpādasaṅkappo, vihiṁsāsaṅkappo—ime vuccanti, thapati, akusalā saṅkappā. … ‘Saññāsamuṭṭhānā’tissa vacanīyaṁ. … Kāmasaññā, byāpādasaññā, vihiṁsāsaññā—itosamuṭṭhānā akusalā saṅkappā. … Idha, thapati, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; etthete akusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti.
Và này Thợ mộc, thế nào là bất thiện tư duy? Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy. Pháp này, này Thợ mộc, được gọi là bất thiện tư duy. Và này Thợ mộc, những bất thiện tư duy này sanh khởi như thế nào? … Cần phải trả lời là từ tưởng sanh khởi. … dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, từ đấy những bất thiện tư duy sanh khởi. … Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Ở đây, những bất thiện tư duy được trừ diệt, không có dư tàn.
And what are unskillful thoughts? Purposes of sensuality, of malice, and of cruelty. These are called unskillful thoughts. … You should say that they stem from perception. … Perceptions of sensuality, malice, and cruelty—unskillful thoughts stem from this. … It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This is where these unskillful thoughts cease without remainder.
SC 24, 26 / MN 78:13.1–13.14
Katame ca, thapati, kusalā saṅkappā? Nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṁsāsaṅkappo—ime vuccanti, thapati, kusalā saṅkappā. … Idha, thapati, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati; etthete kusalā saṅkappā aparisesā nirujjhanti.
Này Thợ mộc, thế nào là thiện tư duy? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy; những pháp này, này Thợ mộc, được gọi là thiện tư duy. … Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ở đây, những thiện tư duy ấy được trừ diệt không có dư tàn.
And what are skillful thoughts? Thoughts of renunciation, good will, and harmlessness. These are called skillful thoughts. … It’s when, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. This is where these skillful thoughts cease without remainder.
SC 15 / MN 78:10.15–10.19
Kathaṁ paṭipanno, thapati, akusalānaṁ sīlānaṁ nirodhāya paṭipanno hoti? Idha, thapati, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati; … uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Thực hành như thế nào, này Thợ mộc, là sự thực hành đưa đến diệt trừ các bất thiện giới? Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo khởi lên ý muốn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, sách tấn tâm; khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sanh không được sanh khởi; … khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể duy trì, không có mơ hồ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn.
And how is someone practicing for the cessation of unskillful behaviors? It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise. … They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed.
SC 28 / MN 78:14.2
Idha, thapati, bhikkhu asekhāya sammādiṭṭhiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsaṅkappena samannāgato hoti, asekhāya sammāvācāya samannāgato hoti, asekhena sammākammantena samannāgato hoti, asekhena sammāājīvena samannāgato hoti, asekhena sammāvāyāmena samannāgato hoti, asekhāya sammāsatiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsamādhinā samannāgato hoti, asekhena sammāñāṇena samannāgato hoti, asekhāya sammāvimuttiyā samannāgato hoti—
Ở đây, này Thợ mộc, vị Tỷ-kheo thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh niệm, thành tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành tựu vô học chánh giải thoát.
It’s when a mendicant has an adept’s right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sampannakusalathiện cụ túc — đầy đủ, trọn vẹn về thiệnBản Anh: accomplished in the skillful
paramakusalathiện tối thắng
uttamapattipattathành đạt tối thượng
ayojjhavô năng thắng (không thể bị đánh bại, không ai luận thắng được)Bản Anh: invincible
thapatithợ mộc (chức quan trông coi xây cất)Chỉ ông Pañcakaṅga; bản Anh dịch là chamberlain
akusalā sīlā / kusalā sīlābất thiện giới / thiện giớiỞ đây "giới" chỉ nếp hành xử thân, khẩu và mạng
itosamuṭṭhānatừ đây sanh khởiBản Việt giữ nguyên chữ Pali: Itosamutthana
cittasamuṭṭhānatừ tâm sanh khởi
saññāsamuṭṭhānatừ tưởng sanh khởi
aparisesā nirujjhantiđược trừ diệt không có dư tàn
sīlavā hoti no ca sīlamayocó giới hạnh mà không chấp trước giớiBản Việt ghi chú nguyên chữ silamayo
saṅkappatư duy (ý định, chí hướng)kāma- / byāpāda- / vihiṁsā-saṅkappa: dục, sân, hại tư duy
nekkhammasaṅkappaly dục tư duy
abyāpāda, avihiṁsāvô sân, bất hại
cetovimutti, paññāvimuttitâm giải thoát, tuệ giải thoát
asekhavô học — bậc đã hoàn tất việc tu học (A-la-hán)Đối lại với sekha (hữu học)
sammāñāṇa, sammāvimuttichánh trí, chánh giải thoátHai chi thứ chín và mười, thêm vào Bát Chánh Đạo thành mười chi vô học
paṭhamaṁ jhānaṁ / dutiyaṁ jhānaṁThiền thứ nhất / Thiền thứ hai

Điều đáng học đầu tiên nằm ở thái độ của người thợ mộc. Nghe một chủ trương lạ, ông không hoan hỷ cũng không kích bác — ông đem về hỏi lại. Không vội tin, cũng không vội cãi.

Chủ trương ấy nghe rất thuận tai. Không làm ác về thân, không nói lời ác, không tư duy ác, không sinh sống bằng nếp sống ácbốn điều "không". Ai cũng thấy đúng.

Và Thế Tôn bác bằng một thí dụ khó quên. Nếu vậy thì một đứa con nít còn bé nhỏ, vô trí, nằm ngửa cũng là bậc Sa-môn tối thượng.

Lý do Ngài nêu rất sắc. Đứa bé ấy chưa hề có ý niệm "đây là thân"vậy nó lấy gì mà làm ác nghiệp về thân, ngoài việc quơ tay quơ chân? Tương tự với lời nói, tư duy, nghề sinh sống.

Xin phân biệt cho rõ đâu là lời kinh, đâu là lời giảng. Kinh CHỈ nói người thành tựu bốn pháp ấy "ngang bằng đứa con nít nằm ngửa". Còn câu "thiện của kẻ chưa biết làm ác không phải là thiện do tu tập"lời giảng của chúng tôi — cách hiểu chuẩn mực, nhưng không phải chữ trong kinh.

Rồi Thế Tôn dạy mười pháp mới thật sự làm nên bậc Sa-môn. Nhưng trước đó Ngài nêu bốn điều cần hiểu về mỗi nhóm pháp: nó là gì, từ đâu sanh, diệt không dư tàn ở đâu, và thực hành thế nào để đưa đến sự diệt ấy.

Khung bốn câu hỏi ấy rất đáng học riêng. Biết một pháp là xấu thì chưa đủphải biết nó mọc ở đâu và cắt ở đâu.

Và câu trả lời cho "từ đâu sanh" rất gọn. Bất thiện giới sanh từ tâm có tham, sân, si. Thiện giới sanh từ tâm không tham, không sân, không si. Cả hai đều sanh từ TÂM.

Còn tư duy thì sanh từ chỗ khác — và đây là chỗ tinh tế. Bất thiện tư duy (dục, sân, hại) sanh từ TƯỞNG; và thiện tư duy (ly dục, vô sân, bất hại) cũng sanh từ tưởng. Cùng một gốc, hai ngả.

Chỗ diệt cũng được chỉ rất cụ thể. Bất thiện tư duy diệt trong Thiền thứ nhất; thiện tư duy diệt trong Thiền thứ hai. Ngay cả tư duy thiện cũng có chỗ dừng.

Và một câu rất dễ bỏ qua về thiện giới. Thiện giới diệt nơi vị có giới hạnh MÀ KHÔNG CHẤP TRƯỚC GIỚI, như thật tuệ tri tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Giữ giới mà bám vào giới thì vẫn còn chỗ phải buông.

Đường thực hành cho cả bốn nhóm chỉ có một: Bốn Chánh Cần. Và mười pháp cuối cùng là các chi phần vô họctừ chánh tri kiến đến chánh giải thoát.

  • "Không làm ác là đủ." Kinh nói vậy thì đứa bé nằm ngửa cũng đủ.
  • "Giữ giới càng chặt càng tốt." Kinh nói đừng chấp trước giới.
  • "Tư duy thiện thì giữ mãi." Kinh nói nó diệt trong Thiền thứ hai.
  • Ngành Oanh. Hỏi: em bé chưa biết nói dối — vậy em bé có giữ giới không?
  • Ngành Thiếu. Học bốn câu hỏi: là gì, từ đâu sanh, diệt ở đâu, tu thế nào.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bàn câu "có giới hạnh mà không chấp trước giới".
  • Chủ trương bốn pháp là gì?
  • Vì sao đứa bé nằm ngửa bác được chủ trương ấy?
  • Bốn điều cần hiểu về mỗi nhóm pháp là gì?
  • Thiện giới diệt ở đâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.