G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 77
Vì Sao Học Trò Thật Sự Kính Trọng Một Vị Thầy

Đại Kinh Sakuludāyin

Mahāsakuludāyi Sutta — MN 77 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Sakuludāyin

Câu hỏi của bài kinh rất thiết thực với người làm Huynh trưởng: điều gì khiến một vị thầy thật sự được học trò kính trọng và nương tựa lâu dài? Và Đức Phật bác bỏ năm điều người ta tưởng, rồi nêu năm điều thật.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 77
  • Nơi chốnRājagaha, tịnh xá du sĩ ở Moranivāpa (chỗ nuôi công)
  • Người đối thoại — du sĩ Sakuludāyi
  • Trang này đã sửa nặng — xem phần Nguồn ở cuối

Đại kinh Sakuludāyin (MN 77) trả lời một câu hỏi rất thiết thực với người làm Huynh trưởng: điều gì khiến một vị thầy thật sự được học trò kính trọng và nương tựa lâu dài? Buổi sáng, trước giờ khất thực ở Vương Xá, Đức Phật ghé qua tịnh xá của các du sĩ ở chỗ nuôi công. Họ đang bàn tán ồn ào đủ thứ chuyện thế tục; thấy Đức Phật đến thì bảo nhau im lặng. Du sĩ Sakuludāyi kể lại: mấy hôm trước, các Sa-môn, Bà-la-môn họp nhau bàn xem trong các vị giáo chủ nổi tiếng đang an cư tại Vương Xá, ai được đệ tử tôn kính. Họ kể rằng đệ tử của các giáo chủ khác ngắt lời thầy giữa hội chúng, bác bỏ giáo lý rồi bỏ đi; còn hội chúng của Sa-môn Gotama thì khi Ngài thuyết pháp, cả trăm người không ai ho hen một tiếng, như đám đông đang chờ ép mật ong nguyên chất. Ngay cả người hoàn tục cũng chỉ khen bậc Đạo Sư, khen Pháp, khen Tăng, và tự trách mình ít phước. Đức Phật hỏi Udāyi thấy những pháp nào nơi Ngài. Udāyi nêu năm điều về lối sống khổ hạnh: ăn ít, biết đủ với y áo, với đồ ăn khất thực, với chỗ ở, và sống viễn ly. Đức Phật bác bỏ cả năm: có những đệ tử của Ngài ăn ít hơn Ngài, mặc y phấn tảo, chỉ ăn đồ khất thực, ở gốc cây tám tháng không vào mái che, ở rừng sâu — nếu vì năm pháp ấy mà kính trọng thì họ đã không kính trọng Ngài. Rồi Ngài chỉ ra năm pháp khác: (1) tăng thượng giới; (2) tri kiến thù thắng — biết mới nói biết, thấy mới nói thấy, thuyết pháp có chứng nghiệm; (3) tăng thượng tuệ; (4) giải đáp thoả đáng Bốn Thánh đế cho những người đang chìm trong khổ; (5) con đường tu tập Ngài đã giảng cho đệ tử, nhờ đó rất nhiều đệ tử chứng đạt cứu cánh: Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành, Tám giải thoát, Tám thắng xứ, Mười biến xứ, Bốn Thiền, quán thân này do bốn đại hợp thành, ý thành thân, các thần thông, thiên nhĩ, tha tâm thông, túc mạng minh, thiên nhãn minh, và lậu tận minh. Đây mới là lý do đệ tử tôn kính Ngài.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Đức Phật đến tịnh xá du sĩ ở chỗ nuôi công — Đức Phật trú ở Rājagaha, Veluvana. Buổi sáng thấy còn sớm để khất thực nên ghé thăm du sĩ Sakuludāyi. Hội chúng du sĩ đang bàn chuyện thế tục; Sakuludāyi bảo họ im lặng vì Sa-môn Gotama ưa tĩnh lặng và tán thán tĩnh lặng.
  • 2. Câu chuyện tại giảng đường tranh luận: ai được đệ tử tôn kính — Sakuludāyi thuật lại cuộc bàn luận về sáu vị giáo chủ an cư tại Rājagaha. Đệ tử của Pūraṇa Kassapa và Nigaṇṭha Nātaputta ngắt lời thầy, bác bỏ giáo lý rồi bỏ đi. Trái lại, khi Sa-môn Gotama thuyết pháp cho hàng trăm người thì không có tiếng ho hen; ví như đám đông đang chờ ép mật ong nguyên chất.
  • 3. Câu hỏi của Đức Phật và năm pháp Udāyi nêu ra — Đức Phật hỏi: người thấy bao nhiêu pháp nơi Ta mà đệ tử tôn kính? Udāyi nêu năm: ăn ít và tán thán ăn ít; biết đủ với y áo bất kỳ; biết đủ với đồ khất thực; biết đủ với sàng toạ; sống viễn ly và tán thán viễn ly.
  • 4. Đức Phật bác bỏ cả năm pháp ấy — Với từng pháp một, Đức Phật nêu ra những đệ tử còn nghiêm khắc hơn Ngài — ăn bằng một chén hay nửa chén, mặc y phấn tảo lấy từ nghĩa địa và đống rác, chỉ ăn đồ khất thực theo thứ lớp, ở gốc cây ngoài trời tám tháng, ở rừng sâu chỉ về giữa Tăng mỗi nửa tháng. Nếu vì năm pháp ấy mà kính trọng thì những vị kia mới đáng kính trọng hơn Ngài.
  • 5. Năm pháp thật sự: tăng thượng giới, tri kiến, tăng thượng tuệ, giải đáp Bốn Thánh đế, và con đường tu tập — Pháp thứ nhất: đệ tử quý trọng Ngài ở tăng thượng giới. Thứ hai: ở tri kiến thù thắng — biết mới nói biết, thấy mới nói thấy, thuyết pháp với thắng trí, có nhân duyên, có chứng nghiệm. Thứ ba: ở tăng thượng tuệ. Thứ tư: khi đệ tử đang chìm trong khổ đến hỏi về Bốn Thánh đế, Ngài trả lời làm tâm họ thoả mãn.
  • 6. Pháp thứ năm: con đường tu tập đã được giảng cho đệ tử — Đức Phật lần lượt kể ra các pháp môn Ngài đã giảng, và sau mỗi pháp môn đều nói rất nhiều đệ tử đã chứng đạt cứu cánh: Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành, Tám giải thoát, Tám thắng xứ, Mười biến xứ, Bốn Thiền, và các thắng trí cho đến lậu tận minh.
  • 7. Kết kinh — Đây là năm pháp khiến các đệ tử tôn kính, cung kính, sùng bái, cúng dường và sống nương tựa Đức Phật. Du sĩ Sakuludāyi hoan hỷ tín thọ lời Đức Phật dạy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 77:6.62–6.65 (bản Việt: trong SC 13)
Yasmiṁ samaye samaṇo gotamo anekasatāya parisāya dhammaṁ deseti, neva tasmiṁ samaye samaṇassa gotamassa sāvakānaṁ khipitasaddo vā hoti ukkāsitasaddo vā. Tamenaṁ mahājanakāyo paccāsīsamānarūpo paccupaṭṭhito hoti: “yaṁ no bhagavā dhammaṁ bhāsissati taṁ no sossāmā”ti. Seyyathāpi nāma puriso cātummahāpathe khuddamadhuṁ anelakaṁ pīḷeyya.
Trong khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho giữa các đệ tử của Sa-môn Gotama. Từng nhóm đại thính chúng đang sống trong nhiệt tình kỳ vọng; nghĩ rằng: “Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho ta và ta đã được nghe”.
While the ascetic Gotama is teaching an assembly of many hundreds, there is no sound of his disciples coughing or clearing their throats. That large crowd is poised expectantly at the ready, thinking, “Whatever the Buddha teaches, we shall listen to it.” It’s like when there’s a person at the crossroads pressing out pure dwarf-bee honey,
MN 77:6.70–6.71 (bản Việt: trong SC 13)
Yepi samaṇassa gotamassa sāvakā sabrahmacārīhi sampayojetvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattanti tepi satthu ceva vaṇṇavādino honti, dhammassa ca vaṇṇavādino honti, saṅghassa ca vaṇṇavādino honti, attagarahinoyeva honti anaññagarahino, “mayamevamhā alakkhikā mayaṁ appapuññā te mayaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajitvā nāsakkhimhā yāvajīvaṁ paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caritun”ti. Te ārāmikabhūtā vā upāsakabhūtā vā pañcasikkhāpade samādāya vattanti.
Các đệ tử của Sa-môn Gotama sau khi cãi lộn với các vị đồng Phạm hạnh từ bỏ tu học, trở lại hoàn tục, các vị ấy vẫn tán thán bậc Ðạo sư, tán thán Pháp, tán thán Tăng, tự quở trách mình, không quở trách người khác: “Chính chúng ta thật bất hạnh, chính chúng ta thật thiếu phước, dầu chúng ta xuất gia trong Pháp và Luật được khéo giảng như vậy mà không thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh cho đến trọn đời”.
Even when disciples of the ascetic Gotama, having clashed with their spiritual companions, resign the training and return to a lesser life, they speak only praise of the Teacher, the teaching, and the Saṅgha. They blame only themselves, not others: “We were unlucky, we had little merit. For even after going forth in such a well explained teaching and training we weren’t able to practice for life the perfectly full and pure spiritual life.” They become monastery workers or lay followers, and they proceed having undertaken the five precepts.
MN 77:8.1–8.3 (bản Việt: SC 15)
“Pañca kho ahaṁ, bhante, bhagavati dhamme samanupassāmi yehi bhagavantaṁ sāvakā sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanti. Katame pañca? Bhagavā hi, bhante, appāhāro, appāhāratāya ca vaṇṇavādī.
—Bạch Thế Tôn, con thấy nơi Thế Tôn có năm pháp mà do năm pháp này, các đệ tử cung kính, tôn trọng, kính lễ, cúng dường Thế Tôn, và sau khi cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào Thế Tôn. Thế nào là năm? Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ăn ít và tán thán hạnh ăn ít.
“Sir, I see five such qualities in the Buddha. What five? The Buddha eats little and praises eating little.
MN 77:12.2–12.6 (bản Việt: SC 29)
‘jānaṁyevāha samaṇo gotamo—jānāmīti, passaṁyevāha samaṇo gotamo—passāmīti; abhiññāya samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no anabhiññāya; sanidānaṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no anidānaṁ; sappāṭihāriyaṁ samaṇo gotamo dhammaṁ deseti no appāṭihāriyan’ti.
Lại nữa, này Udāyi, các đệ tử của Ta thán phục tri kiến vi diệu. Khi nói: “Ta biết”, nghĩa là Sa-môn Gotama có biết. Khi nói: “Ta thấy”, nghĩa là Sa-môn Gotama có thấy. Sa-môn Gotama thuyết pháp với thắng trí, không phải không với thắng trí. Sa-môn Gotama thuyết pháp có nhơn duyên, không phải không có nhơn duyên. Sa-môn Gotama thuyết pháp có thần thông lực, không phải không có thần thông lực.
‘The ascetic Gotama only claims to know when he does in fact know. He only claims to see when he really does see. He teaches based on direct knowledge, not without direct knowledge. He teaches based on reason, not without reason. He teaches with a demonstrable basis, not without it.’
MN 77:13.7–13.8 (bản Việt: SC 32)
“Na kho panāhaṁ, udāyi, sāvakesu anusāsaniṁ paccāsīsāmi; aññadatthu mamayeva sāvakā anusāsaniṁ paccāsīsanti.
—Này Udāyi, Ta không chờ đợi sự giáo giới từ nơi những đệ tử của Ta. Trái lại, chính những đệ tử của Ta chờ đợi sự giáo giới từ nơi Ta.
“That’s because I don’t expect to be instructed by my disciples. Invariably, my disciples expect instruction from me.
MN 77:14.1 (bản Việt: SC 33)
Puna caparaṁ, udāyi, mama sāvakā yena dukkhena dukkhotiṇṇā dukkhaparetā te maṁ upasaṅkamitvā dukkhaṁ ariyasaccaṁ pucchanti, tesāhaṁ dukkhaṁ ariyasaccaṁ puṭṭho byākaromi, tesāhaṁ cittaṁ ārādhemi pañhassa veyyākaraṇena;
Lại nữa, này Udāyi, những đệ tử của Ta bị đắm chìm trong đau khổ, bị đau khổ chi phối, đến Ta và hỏi về Khổ Thánh đế. Ðược hỏi về Khổ Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta. Họ hỏi Ta về Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo Thánh đế, Ta trả lời cho họ. Ta làm cho tâm của họ thỏa mãn với câu trả lời của Ta.
Furthermore, my disciples come to me and ask how the noble truth of suffering applies to the suffering in which they are swamped and mired. And I provide them with a satisfying answer to their question.
MN 77:15.1–15.2 (bản Việt: SC 34)
Puna caparaṁ, udāyi, akkhātā mayā sāvakānaṁ paṭipadā, yathāpaṭipannā me sāvakā cattāro satipaṭṭhāne bhāventi. Idhudāyi, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
Lại nữa, này Udāyi, Ta thuyết giảng con đường tu hành cho các đệ tử. Và các đệ tử của Ta y cứ theo đường tu hành này, tu tập Bốn Niệm xứ. Ở đây, này Udāyi, vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời, quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời.
Furthermore, I have explained to my disciples a practice that they use to develop the four kinds of mindfulness meditation. It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
paribbājakadu sĩ ngoại đạo, người tu hành lang thang không thuộc Tăng đoàn Phật giáo
sakkata garukata mānita pūjitađược tôn kính, cung kính, sùng bái, cúng dườngCụm từ lặp lại xuyên suốt bài kinh, là trục chính của kinh
upanissāya viharatisống nương tựa (vào bậc Đạo Sư)
appāhāraăn ít
santuṭṭhabiết đủ, tri túc
pavivekaviễn ly, sống xa lìa đám đông
paṁsukūlikavị thọ hạnh mặc y phấn tảo (y làm từ vải vứt bỏ)
adhisīlatăng thượng giới, giới cao thượng
adhipaññātăng thượng tuệ, trí tuệ cao thượng
ñāṇadassanatri kiến, cái biết và cái thấy
sappāṭihāriyacó chứng nghiệm, có sức thuyết phục kiểm chứng được
ariyasaccaThánh đế (Bốn Sự Thật Cao Thượng)
cattāro satipaṭṭhānāBốn Niệm xứ
cattāro sammappadhānāBốn Chánh cần
cattāro iddhipādāBốn Như ý túc
pañcindriyāni / pañca balāniNam Can / Nam Luc
satta bojjhaṅgāBảy giác chi
aṭṭha vimokkhāTám giải thoát
aṭṭha abhibhāyatanāniTám thắng xứ
dasa kasiṇāyatanāniMười biến xứ
cattāri jhānāniBốn Thiền
dibbacakkhuthiên nhãn minh
ariya aṭṭhaṅgika maggaThánh đạo Tám ngành (Bát Chánh Đạo)Bản nháp của trang này in hỏng thành “Tam Thánh Đạo Tám Ngành”, đọc ra thành “tam” (ba) gây hiểu lầm về số ngành. Đúng là TÁM ngành.
manomaya kāyaý thành thân — thân do ý tạo ra
pubbenivāsānussatitúc mạng minh — nhớ lại các đời sống quá khứ
āsavānaṁ khayādo đoạn tận các lậu hoặc
cetovimutti / paññāvimuttitâm giải thoát / tuệ giải thoát
abhiññāvosānapāramippattađã đạt đến cứu cánh viên mãn của thắng trí

Cảnh mở đầu rất sinh động. Buổi sáng, còn sớm chưa tới giờ khất thực, Đức Phật ghé qua tịnh xá của các du sĩ. Họ đang bàn tán ồn ào đủ thứ chuyện thế tục; thấy Ngài đến thì bảo nhau im lặng.

Sakuludāyi kể lại một cuộc bàn luận mấy hôm trước. Các Sa-môn, Bà-la-môn họp nhau hỏi: trong các vị giáo chủ nổi tiếng đang ở Vương Xá, ai được đệ tử tôn kính?

Và câu trả lời của họ rất cụ thể. Đệ tử của các giáo chủ khác thì ngắt lời thầy giữa hội chúng, bác bỏ giáo lý rồi bỏ đi. Còn hội chúng của Sa-môn Gotama thì khi Ngài thuyết pháp, cả trăm người không ai ho hen một tiếng.

Ví dụ họ dùng rất đẹp. Như đám đông đang chờ ép mật ong nguyên chất. Không phải im vì sợ — im vì mong.

Và chi tiết mạnh nhất là chuyện người hoàn tục. Ngay cả những vị cãi nhau với bạn đồng tu rồi bỏ về cũng chỉ khen bậc Đạo Sư, khen Pháp, khen Tăng, và tự trách mình ít phước.

Rồi Đức Phật hỏi Udāyi: ông thấy những pháp nào nơi Ta? Udāyi nêu năm điều về lối sống khổ hạnh: ăn ít, biết đủ với y áo, với đồ khất thực, với chỗ ở, và sống viễn ly.

Và Đức Phật bác bỏ cả năm — bằng cách rất bất ngờ. Ngài chỉ ra có những đệ tử của Ngài còn nghiêm khắc hơn Ngài: ăn bằng một chén hay nửa chén, mặc y phấn tảo lấy từ nghĩa địa và đống rác, ở gốc cây ngoài trời tám tháng không vào mái che.

Lập luận ấy khép lại rất gọn. Nếu vì năm pháp ấy mà kính trọng, thì họ đã kính trọng những vị kia hơn Ngài. Vậy không phải vì năm pháp ấy.

Rồi Ngài nêu năm pháp thật. (1) tăng thượng giới. (2) tri kiến thù thắngbiết mới nói biết, thấy mới nói thấy, thuyết pháp với thắng trí, có nhân duyên, có chứng nghiệm.

(3) tăng thượng tuệ. (4) khi đệ tử đang chìm trong khổ đến hỏi về Bốn Thánh đế, Ngài trả lời làm tâm họ thoả mãn. Xin để ý: không phải trả lời đúng — mà là làm tâm người hỏi thoả mãn.

(5) và pháp thứ năm dài nhất: con đường tu tập Ngài đã giảng. Sau mỗi pháp môn — Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành… — Ngài đều nói rất nhiều đệ tử đã chứng đạt cứu cánh.

Và đó mới là lý do thật. Không phải vì thầy khổ hạnh hơn ai — mà vì đi theo thầy thì tới nơi.

Xin thưa rõ hai chỗ chúng tôi đã sửa nặng ở trang này. Thứ nhất, bản nháp báo sai rằng không lấy được bản Việt và dặn tuyệt đối không dùng nguồn — khiến tám ô tiếng Việt bị bỏ trống; chúng tôi đã tra lại, nguồn hoàn toàn tốt, và điền lại nguyên văn cho bảy ô, còn một ô chưa đối chiếu chắc được thì bỏ hẳn. Thứ hai, toàn bộ phần văn xuôi tiếng Việt của bản nháp viết KHÔNG DẤU, đọc gần như không ra chữ — chúng tôi đã viết lại. Phần kinh văn thì giữ nguyên chữ của Hoà thượng.

  • "Thầy càng khổ hạnh càng đáng kính." Kinh bác đúng ý ấy.
  • "Trả lời đúng là đủ." Kinh đòi làm tâm người hỏi thoả mãn.
  • "Người hoàn tục thì oán thầy." Kinh kể họ vẫn khen và tự trách mình.
  • Ngành Oanh. Hỏi: vì sao em nghe lời một huynh trưởng?
  • Ngành Thiếu. Kể ví dụ đám đông chờ ép mật ong.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài nên đọc cho người mới nhận trách nhiệm đoàn — năm pháp thật là năm điều đáng nhắm tới.
  • Năm pháp Udāyi nêu ra là gì?
  • Vì sao Đức Phật bác bỏ cả năm?
  • Năm pháp thật sự là gì?
  • Vì sao người hoàn tục vẫn khen thầy?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.