G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 76
Bốn Chủ Thuyết Làm Đời Tu Thành Vô Nghĩa

Kinh Sandaka

Sandaka Sutta — MN 76 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Sandaka

Bài kinh do Tôn giả Ānanda thuyết, không phải Đức Phật. Ngài nêu bốn chủ thuyết mà nếu theo thì đời sống phạm hạnh thành vô nghĩa, rồi bốn thứ phạm hạnh không đem lại an ổn.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 76
  • Người thuyết — Tôn giả Ānanda
  • Nơi chốnKosambī, tu viện Ghosita; đàm luận ở hang Devakatasobbha
  • Người nghe — du sĩ Sandaka cùng năm trăm du sĩ

Kinh Sandaka là một bài kinh do Tôn giả Ānanda thuyết, không phải chính Ðức Phật thuyết. Nhân duyên rất đời thường: chiều hôm ấy Tôn giả Ānanda rủ chư Tỷ-kheo đi xem hang ở Devakatasobbha, gặp du sĩ Sandaka đang ngồi bàn chuyện phù phiếm với năm trăm du sĩ. Sandaka thỉnh Tôn giả nói về giáo pháp của Thầy mình. Tôn giả Ānanda trình bày theo một khung rất rõ, gồm ba phần. Phần một: bốn "phi phạm hạnh trú" (abrahmacariyavāsa) — bốn chủ thuyết mà nếu theo thì đời sống phạm hạnh trở thành vô nghĩa: (1) thuyết đoạn diệt, phủ nhận bố thí, phủ nhận nghiệp báo, phủ nhận đời sau; (2) thuyết vô tác, cho rằng giết hại hay bố thí đều không tội không phước; (3) thuyết vô nhân vô duyên, cho rằng chúng sanh nhiễm ô hay thanh tịnh không do nhân duyên, không có tinh tấn, không có nỗ lực của con người; (4) thuyết bảy thân thường trú với luân hồi định sẵn, kẻ ngu và người trí cứ trôi lăn đủ số kiếp rồi tự hết khổ. Với mỗi thuyết, "người có trí" đều suy tư giống nhau: nếu thuyết ấy đúng thì người tu và người không tu cũng như nhau, vậy tu để làm gì — rồi yểm ly và bỏ đi. Phần hai: bốn "bất an phạm hạnh" (anassāsika brahmacariya) — không phải sai hẳn, nhưng không đáng nương tựa: (1) vị Ðạo sư tự xưng nhất thiết tri nhất thiết kiến mà vẫn vào nhà trống, bị chó cắn, phải hỏi đường; (2) vị y cứ truyền thuyết, "có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ"; (3) vị là nhà lý luận suy luận, "có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận"; (4) vị đần độn ngu si, trả lời trườn uốn như con lươn. Phần ba: giáo pháp đáng sống phạm hạnh — Như Lai xuất hiện, người nghe pháp phát tín tâm, xuất gia, giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, trừ năm triền cái, chứng bốn thiền và ba minh; mỗi chặng đều là "ưu thắng đặc thù" khiến người có trí đáng sống phạm hạnh. Cuối kinh, Sandaka hỏi về bậc A-la-hán, được nghe năm điều bậc lậu tận không thể vi phạm và ví dụ người bị chặt tay chân. Nghe xong, Sandaka bảo đồ chúng đi sống phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi tại Devakatasobbha — Thế Tôn trú ở Kosambi, tu viện Ghosita. Du sĩ Sandaka ở hang Pilakka với năm trăm du sĩ đang bàn nhiều chuyện phù phiếm. Tôn giả Ānanda đến, Sandaka thỉnh thuyết pháp thoại của bậc Ðạo sư mình (SC 1–12).
  • Bốn phi phạm hạnh trú (abrahmacariyavāsa) — xin để ý chỗ đổi người nói: Tôn giả Ānanda nêu ở SC 13, còn SC 14 là câu Sandaka HỎI LẠI “bốn pháp phi phạm hạnh trú ấy là gì?” — Nêu tổng quát bốn pháp phi phạm hạnh trú và bốn pháp bất an phạm hạnh (SC 13–14); rồi lần lượt: thuyết đoạn diệt phủ nhận bố thí và nghiệp báo (SC 15–17), thuyết vô tác không tội không phước (SC 18–20), thuyết vô nhân vô duyên (SC 21–23), thuyết bảy thân và luân hồi định sẵn (SC 24–26); tổng kết (SC 27).
  • Bốn bất an phạm hạnh (anassāsika brahmacariya) — Sandaka hỏi tiếp (SC 28). Bốn hạng: vị tự xưng nhất thiết tri nhất thiết kiến (SC 29–31); vị y cứ truyền thuyết (SC 32–34); vị lý luận suy luận (SC 35–37); vị đần độn ngụy biện trườn uốn như con lươn (SC 38–40); tổng kết (SC 41).
  • Giáo pháp đáng sống phạm hạnh: từ Như Lai xuất thế đến bốn thiền và ba minh — Sandaka hỏi vậy vị Ðạo sư nào đáng theo (SC 42). Ānanda trình bày: Như Lai xuất hiện và thuyết pháp (SC 43), người nghe phát tín tâm xuất gia (SC 44), giới hạnh (SC 45–47), biết đủ (SC 48), hộ trì các căn (SC 49), chánh niệm tỉnh giác (SC 50), độc cư (SC 51), trừ năm triền cái (SC 52), Sơ thiền đến Tứ thiền (SC 53–54), túc mạng trí, thiên nhãn trí, lậu tận trí (SC 55–58). Mỗi chặng đều kết bằng câu 'ưu thắng đặc thù'.
  • Vấn đáp về bậc A-la-hán — Bậc lậu tận có thọ dụng các dục không? — Năm điều vị ấy không thể vi phạm (SC 59–60). Tri kiến 'các lậu hoặc của ta đã đoạn tận' có liên tục không gián đoạn chăng? — Ví dụ người bị chặt tay chân (SC 61–62).
  • Bao nhiêu vị lãnh đạo tối thắng, và Sandaka đưa đồ chúng quy hướng — Không phải chỉ một trăm đến năm trăm, mà còn nhiều hơn nữa (SC 63–64). Sandaka tán thán vì Pháp này không tự tán hủy tha, đối chiếu với ngoại đạo chỉ có ba vị (SC 65). Sandaka bảo đồ chúng đi sống phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama, còn mình chưa dễ từ bỏ quyền lợi, tôn kính, danh tiếng (SC 66–68).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 13 (mn76:6.1)
cattārome, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena abrahmacariyavāsā akkhātā cattāri ca anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni, yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalanti.
Này Sandaka, bốn pháp phi phạm hạnh trú này, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và bốn pháp bất an phạm hạnh cũng được tuyên bố. Ở đây, người có trí không thể tự mình sống Phạm hạnh và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
Sandaka, these things have been explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha: four ways that negate the spiritual life, and four kinds of unreliable spiritual life. A sensible person would, to the best of their ability, not practice such spiritual paths, and if they did practice them, they wouldn't succeed in the system of the skillful teaching.
SC 15 (mn76:7.2)
natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paroloko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedenti.
Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, sau khi đã tự mình giác ngộ với thắng trí tuyên bố về đời này và đời sau.
There's no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There's no fruit or result of good and bad deeds. There's no afterlife. There's no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there's no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.
SC 18 (mn76:10.6)
Dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamoti.
Bố thí, tự điều phục, tự chế ngự, nói thật không có công đức, không tạo nên công đức.
In giving, self-control, restraint, and truthfulness there is no merit or outcome of merit.
SC 21 (mn76:13.6)
natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo;
Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có cố gắng của người.
There is no power, no energy, no human strength or vigor.
SC 32 (mn76:24.1–24.3)
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā anussaviko hoti anussavasacco. So anussavena itihitihaparamparāya piṭakasampadāya dhammaṁ deseti. Anussavikassa kho pana, sandaka, satthuno anussavasaccassa sussutampi hoti dussutampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti.
Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị này thuyết pháp theo truyền thuyết, theo tương truyền và truyền thống, theo uy tín Thánh tạng. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị ấy có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ, khi thì như thế này, khi thì như thế khác.
Furthermore, take another teacher who is an oral transmitter, who takes oral transmission to be the truth. They teach by oral transmission, by the lineage of testament, by canonical authority. But when a teacher takes oral transmission to be the truth, some of that is well learned, some poorly learned, some true, and some otherwise.
SC 35 (mn76:27.1–27.3)
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā takkī hoti vīmaṁsī. So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ dhammaṁ deseti. Takkissa kho pana, sandaka, satthuno vīmaṁsissa sutakkitampi hoti duttakkitampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti.
Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận. Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này thuyết pháp theo nguyên tắc tự mình sáng tác. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận, vị ấy có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận, khi thì như thế này, khi thì như thế khác.
Furthermore, take another teacher who relies on logic and inquiry. They teach what they have worked out by logic, following a line of inquiry, expressing their own perspective. But when a teacher relies on logic and inquiry, some of that is well reasoned, some poorly reasoned, some true, and some otherwise.
SC 60 (mn76:51.3)
Abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe agāriyabhūto.
Vị Tỷ-kheo, các lậu đã tận không có thể cố ý sát hại mạng sống chúng sanh; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể lấy của không cho, được gọi là ăn trộm; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hành dâm dục; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể cố ý nói láo; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hưởng thọ các dục đối với các vật được tàng trữ như trước khi còn tại gia.
A mendicant with defilements ended can't deliberately take the life of a living creature, take something with the intention to steal, have sex, tell a deliberate lie, or store up goods for their own enjoyment like they used to as a layperson.
SC 62 (mn76:52.3–52.7)
Tena hi, sandaka, upamaṁ te karissāmi; upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti. Seyyathāpi, sandaka, purisassa hatthapādā chinnā; tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ jānāti: chinnā me hatthapādāti, udāhu paccavekkhamāno jānāti: chinnā me hatthapādāti?
Này Sandaka, tôi sẽ cho Ông một ví dụ, nhờ ví dụ ở đây, một số người có trí sẽ biết ý nghĩa câu nói. Ví như, này Sandaka, một người tay chân bị chặt; khi người ấy đi, đứng, ngủ và thức, tay chân bị chặt một cách liên tục, không gián đoạn, và khi người ấy suy tư về vấn đề này, người ấy biết: "Tay chân của ta bị chặt".
Well then, Sandaka, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said. Suppose there was a person whose hands and feet had been amputated. Would they be aware that their hands and feet had been amputated constantly and continually, while walking, standing, sleeping, and waking? Or would they be aware of it only when they checked it?
Chữ PāliNghĩaGhi chú
abrahmacariyavāsaphi phạm hạnh trúHT. Thích Minh Châu dịch 'phi phạm hạnh trú'; Sujato: 'way that negates the spiritual life'. Bốn chủ thuyết khiến đời sống phạm hạnh thành vô nghĩa.
anassāsika brahmacariyabất an phạm hạnhPhạm hạnh không đem lại sự bảo đảm, không đáng nương tựa (unreliable spiritual life).
viññū purisongười có tríNhân vật lặp đi lặp lại trong kinh: người biết suy xét rồi 'yểm ly hạnh ấy và bỏ đi' (nibbijja pakkamati).
anussavika / anussavasaccay cứ truyền thuyết; xem truyền thuyết là chân thậtDạy theo itihitiha-paramparā (tương truyền, truyền thống) và piṭakasampadā (uy tín Thánh tạng).
takkī vīmaṁsīnhà lý luận, nhà suy luận
amarāvikkhepangụy biện trườn uốn như con lươnLối trả lời lẩn tránh, không xác định.
khīṇāsavabậc lậu tận, các lậu đã tận
āsavalậu hoặcBa lậu nêu trong kinh: kāmāsava (dục lậu), bhavāsava (hữu lậu), avijjāsava (vô minh lậu).
ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁchánh đạo, pháp và chí thiệnCụm từ lặp lại ở cuối mỗi đoạn; có chỗ HT. Thích Minh Châu dịch 'chánh lý, pháp và chí thiện'.
niyyātāronhững vị lãnh đạo tối thắngSujato dịch 'those who are emancipated'. SC 64: không phải chỉ một trăm đến năm trăm, mà còn nhiều hơn nữa.
nīvaraṇatriền cáiNăm triền cái được trừ bỏ trước khi chứng Sơ thiền (SC 52–53).
paribbājakadu sĩSandaka là paribbājaka, không phải Tỷ-kheo.

Nhân duyên bài kinh rất đời thường. Chiều hôm ấy Tôn giả Ānanda rủ chư Tỷ-kheo đi xem hang, gặp du sĩ Sandaka đang ngồi bàn chuyện phù phiếm với năm trăm du sĩ. Sandaka thỉnh Ngài nói về giáo pháp của Thầy mình.

Phần một: bốn "phi phạm hạnh trú" — bốn chủ thuyết làm đời tu thành vô nghĩa. (1) thuyết đoạn diệt, phủ nhận bố thí, nghiệp báo, đời sau. (2) thuyết vô tác: giết hại hay bố thí đều không tội không phước.

(3) thuyết vô nhân vô duyên: nhiễm ô hay thanh tịnh không do nhân duyên, không có tinh tấn, không có nỗ lực của con người. (4) thuyết bảy thân thường trú với luân hồi định sẵn — kẻ ngu và người trí cứ trôi lăn đủ số kiếp rồi tự hết khổ.

Và cách "người có trí" xét cả bốn đều giống nhau, rất sắc. Nếu thuyết ấy đúng, thì người tu và người không tu đều như nhauvậy sống phạm hạnh để làm gì?

Xin để ý cách lập luận ấy. Tôn giả không nói bốn thuyết kia sai. Ngài chỉ ra: theo chúng thì chính người theo cũng không còn lý do để tu. Đó là tự thuyết ấy vô hiệu hoá mình.

Phần hai: bốn "bất an phạm hạnh" — bốn thứ đời tu không đem lại an ổn. (1) vị tự xưng nhất thiết trí mà vẫn khất thực nhầm nhà trống, vẫn bị chó cắn, vẫn phải hỏi đường.

(2) vị y cứ truyền thuyết"có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ". (3) vị là nhà lý luận suy luận"có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận".

(4) vị đần độn ngu si, trả lời "trườn uốn như con lươn". Xin thưa: cách dịch ấy là theo Chú giải, không phải nghĩa đen; Tỳ-kheo Sujato hiểu chữ Pāli là "nói lật qua lật lại không dứt".

Bốn thứ ấy không phải là tà thuyết — chúng chỉ là chỗ dựa không chắc. Theo thì có thể đúng, có thể sai; không có gì bảo đảm.

Phần ba mới là phần khẳng định: giáo pháp đáng sống phạm hạnh. Như Lai xuất hiện → nghe pháp phát tín tâm → xuất gia → giữ giới → hộ trì các căn → chánh niệm tỉnh giác → trừ năm triền cái → chứng bốn Thiền và ba minh.

Và mỗi chặng đều được gọi là "ưu thắng đặc thù". Tức mỗi bước đều CÓ THẬT một cái được, kiểm chứng được ngaykhác hẳn bốn chỗ dựa không chắc ở trên.

Một chỗ xin nói cho rõ về người nói. Ở phần bốn phi phạm hạnh trú, Tôn giả Ānanda nêu ở SC 13, còn SC 14 là câu Sandaka HỎI LẠI: "bốn pháp phi phạm hạnh trú ấy là gì?" Bản nháp của chúng tôi gộp hai đoạn, làm mờ chỗ đổi người nói.

  • "Bài này do Phật thuyết." Do Tôn giả Ānanda thuyết.
  • "Bốn bất an phạm hạnh là tà đạo." Kinh gọi chúng là chỗ dựa không chắc, không gọi là tà.
  • "Trườn uốn như con lươn là nghĩa đen." Đó là lối dịch theo Chú giải.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện người tự xưng biết hết mà vẫn phải hỏi đường.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: nếu tu hay không tu đều như nhau thì sao?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bốn "chỗ dựa không chắc" rất hợp để bàn về cách chọn nguồn học.
  • Ai thuyết bài kinh này?
  • Bốn phi phạm hạnh trú là gì?
  • Vì sao gọi là “bất an phạm hạnh”?
  • “Ưu thắng đặc thù” nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.