G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 75
Không Bệnh Là Lợi Tối Thắng · Người Cùi Và Người Mù

Kinh Māgandiya

Māgaṇḍiya Sutta — MN 75 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Māgandiya

Du sĩ Māgandiya chê Thế Tôn là "người phá hoại sự sống". Từ lời chê ấy mở ra hai ví dụ vào loại mạnh nhất kinh tạng: người cùi bên hố than hừng, và người sinh ra đã mù với tấm vải trắng.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 75
  • Nơi chốn — xứ Kuru, thị trấn Kammāsadhamma, nhà lửa của một Bà-la-môn dòng Bhāradvāja
  • Xin đọc kỹ thứ tự — Thế Tôn không có mặt lúc Māgandiya tới chê; chiều tối Ngài mới về
  • Kết bài — Māgandiya xuất gia và chứng A-la-hán

Kinh Māgandiya (Trung Bộ 75) ghi lại cuộc đối thoại giữa Thế Tôn và du sĩ ngoại đạo Magandiya tại nhà lửa của một Bà-la-môn dòng họ Bhāradvāja, ở thị trấn Kammāsadhamma xứ Kuru. Magandiya chê Thế Tôn là "người phá hoại sự sống", và chỉ nói “Thánh điển của chúng tôi đã truyền lại như vậy” (Pāli evañhi no sutte ocarati; Tỳ-kheo Sujato lại dịch cụm này hoàn toàn khác: “For so it came to me while sleeping”). Lý do “chế ngự các căn là đi ngược lại sự sống” là suy diễn theo Chú giải, không có trong bản kinh. Thế Tôn hỏi lại: có phải vì Như Lai nhiếp phục, thủ hộ, hộ trì con mắt (tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và thuyết pháp để phòng hộ các căn, mà ông gọi Ngài như vậy? Rồi Ngài dẫn Magandiya thấy: người nào đã như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục, người ấy sống với khát ái được đoạn trừ, nội tâm an tịnh — Magandiya không có gì để chê trách người ấy. Thế Tôn kể lại đời sống vương giả của chính mình: ba tòa lâu đài cho ba mùa, bốn tháng mùa mưa có nữ nhạc công giúp vui. Nhưng sau khi thấy rõ các dục, Ngài không còn ao ước, vì đã có hỷ lạc do ly dục, ly bất thiện pháp. Ba ví dụ nổi tiếng được nêu: (1) vị Thiên tử ở rừng Nandana không thèm trở lui nhân dục; (2) người cùi được chữa lành không còn thèm hố than hừng; (3) chính vì các căn bị hư hoại mà người cùi lại “phản tưởng” ngọn lửa thiêu đốt là lạc thọ — câu này là LỜI CỦA MAGANDIYA ở SC 35, mãi tới SC 36 Thế Tôn mới đem áp dụng cho chúng sanh tưởng các dục là vui. Thế Tôn nói lên cảm hứng ngữ: "Không bệnh, lợi tối thắng, Niết-bàn, lạc tối thắng, Bát chánh là độc đạo, an ổn và bất tử." Magandiya hoan hỷ vì đã nghe câu ấy từ các tôn sư du sĩ, nhưng khi được hỏi "thế nào là không bệnh, thế nào là Niết-bàn" thì ông xoa bóp chân tay mình mà bảo thân này là không bệnh. Thế Tôn dùng ví dụ người sanh ra đã mù bị lừa nhận tấm y thô dính dầu đất mà tưởng là vải trắng thanh tịnh: các du sĩ mù lòa tụng câu kệ ấy mà không biết không bệnh, không thấy Niết-bàn. Cuối kinh, Thế Tôn dạy: hãy thân cận bậc chân nhân, nghe diệu pháp, sống đúng Chánh pháp và tùy pháp. Magandiya xin quy y, xin xuất gia, tự nguyện sống biệt trú bốn năm, và về sau chứng quả A-la-hán.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Magandiya chê bai Thế Tôn — SC 1–14. Thế Tôn khất thực ở Kammāsadhamma rồi nghỉ trưa trong rừng. Du sĩ Magandiya thấy thảm cỏ trong nhà lửa của Bà-la-môn Bhāradvāja, gọi Thế Tôn là "người phá hoại sự sống" (bhunahuno). Bà-la-môn can ngăn; Thế Tôn với thiên nhĩ nghe được, buổi chiều đến ngồi trên thảm cỏ ấy và hỏi lại Bà-la-môn.
  • Hỏi về sáu căn và sự phòng hộ — SC 15–23. Thế Tôn hỏi: có phải vì Như Lai nhiếp phục, thủ hộ, hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và thuyết pháp để phòng hộ các căn mà ông gọi Ngài là người phá hoại sự sống? Rồi hỏi về người đã như chơn biết tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly của các sắc/xúc — Magandiya đáp "Không có gì".
  • Thế Tôn tự thuật đời sống vương giả và sự xuất ly — SC 24–25. Ba tòa lâu đài cho ba mùa; bốn tháng mùa mưa có nữ nhạc công giúp vui. Sau khi như chơn biết các dục, Ngài trú với khát ái được đoạn trừ, nội tâm an tịnh, không ước vọng như các chúng sanh đang bị dục ái nhai nghiến, vì đã có hỷ lạc ly dục, ly bất thiện pháp.
  • Ví dụ Thiên tử ở rừng Nandana — SC 26–28. Gia chủ giàu sang, làm thiện thân-khẩu-ý hành, sanh cõi trời Ba mươi ba, ở rừng Nandana hưởng thiên dục, không hề ước vọng trở lui nhân dục — vì thiên dục kỳ diệu, vi diệu hơn nhân dục.
  • Ví dụ người bệnh cùi và hố than hừng — SC 29–37. (a) Người cùi được y sĩ chữa lành không còn ước vọng hố than hừng; (b) hai lực sĩ lôi người đã lành đến hố than hừng thì người ấy co rút vật vã, vì lửa vốn đau khổ, nồng cháy, nhiệt não cả xưa lẫn nay; (c) chỉ vì các căn bị hư hoại mà người cùi có "phản tưởng là được lạc thọ"; (d) càng gãi càng hơ thì vết thương càng bất tịnh, hôi thối — cũng vậy càng chạy theo dục thì dục ái càng tăng trưởng.
  • Không vua chúa nào hưởng dục mà nội tâm an tịnh — SC 38–40. Thế Tôn hỏi Magandiya có thấy hay nghe vị vua hay đại thần nào hưởng thụ năm dục trưởng dưỡng mà dục ái chưa đoạn tận lại sống với khát ái được đoạn trừ không; đáp: không. Chỉ những Sa-môn, Bà-la-môn đã như chơn biết các dục mới sống được như vậy.
  • Cảm hứng ngữ: Không bệnh, Niết-bàn và cuộc tra vấn — SC 41–53. Thế Tôn nói kệ "Không bệnh, lợi tối thắng, Niết-bàn, lạc tối thắng…". Magandiya khen ngợi và nói các tôn sư du sĩ cũng nói như vậy. Thế Tôn hỏi: thế nào là không bệnh, thế nào là Niết-bàn? Magandiya tự lấy tay xoa bóp chân tay mình mà đáp rằng chính thân này là không bệnh.
  • Ví dụ người sanh ra đã mù và tấm vải trắng — SC 54–67. (a) Người mù bẩm sinh bị lừa nhận tấm y thô dính dầu đất mà tưởng là vải trắng thanh tịnh — do lòng tin chứ không do biết, do thấy; các du sĩ mù lòa cũng vậy, tụng câu kệ mà không thấy Niết-bàn. Thân này là bệnh khổ, cục bướu, mũi tên, bất hạnh, bệnh chướng. (b) Y sĩ cho thuốc mà mắt không sáng thì y sĩ mệt mỏi phiền não. (c) Nếu mắt được khởi lên thì đoạn trừ tham dục đối với năm thủ uẩn và thấy rõ lý duyên khởi của toàn bộ Khổ uẩn.
  • Lời dạy về thân cận bậc chân nhân — SC 68–69. Thân cận các vị chân nhân → được nghe diệu pháp → sống đúng Chánh pháp và tùy pháp → tự mình biết, tự mình thấy sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn.
  • Magandiya quy y, xuất gia và chứng A-la-hán — SC 70–75. Magandiya xin quy y Phật, Pháp, Tăng và xin thọ đại giới. Thế Tôn nêu quy định bốn tháng biệt trú cho người trước kia là ngoại đạo; Magandiya tự nguyện sống biệt trú bốn năm. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Magandiya chứng quả A-la-hán.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 75, SC 6 (= mn75:5.1–5.3)
“Duddiṭṭhaṁ vata, bho bhāradvāja … Ye mayaṁ tassa bhoto gotamassa bhūnahuno seyyaṁ addasāmā”ti.
—Thật sự, này Tôn giả Bhāradvāja, chúng tôi thấy một sự bất hạnh khi chúng tôi thấy chỗ ngủ của Tôn giả Gotama, một vị phá hoại sự sống (bhunahuno).
"Well, it's a sad sight, worthy Bhāradvāja, a very sad sight indeed, to see a bed for the worthy Gotama, that baby-killer!"
MN 75, SC 16 (= mn75:8.1–8.4)
—Này Magandiya, con mắt ưa thích sắc, ái lạc sắc, hoan hỷ sắc, và Như Lai nhiếp phục, thủ hộ, hộ trì con mắt và thuyết pháp để phòng hộ con mắt. Này Magandiya, có phải vì vậy mà Ông nói: “Sa-môn Gotama là người phá hoại sự sống?”
"Māgaṇḍiya, the eye likes sights, it loves them and enjoys them. That's been tamed, guarded, protected and restrained by the Realized One, and he teaches Dhamma for its restraint. Is that what you were referring to when you called me a baby-killer?"
MN 75, SC 24 (= mn75:10.5–10.7)
Tassa mayhaṁ, māgaṇḍiya, tayo pāsādā ahesuṁ—eko vassiko …
Này Magandiya, Ta có ba tòa lâu đài, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa hạ. Này Magandiya, trong bốn tháng mùa mưa, Ta sống hưởng thụ trong lâu đài mùa mưa, được những nữ nhạc công giúp vui và không bước xuống khỏi lâu đài ấy.
"I had three stilt longhouses—one for the rainy season, one for the winter, and one for the summer. I stayed in a stilt longhouse without coming downstairs for the four months of the rainy season, where I was entertained by musicians—none of them men."
MN 75, SC 29 (= mn75:13.1)
Ví như, này Magandiya, một người bị bệnh cùi; với thân (đầy) những lở lói, với thân hư thối, nứt chảy, bị các loại trùng đục khoét, đang cào rách miệng các vết thương với móng tay, hơ đốt thân mình trên hố than hừng.
"Suppose there was a person affected by leprosy, with sores and blisters on their limbs. Being devoured by worms, scratching with their nails at the opening of their wounds, they'd cauterize their body over a pit of glowing coals."
MN 75, SC 36 (= mn75:16.1–16.2)
—Cũng vậy, này Magandiya, sự xúc chạm với các dục trong thời quá khứ cũng là đau khổ, rất là nồng cháy, rất là nhiệt não, và sự xúc chạm với các dục trong thời vị lai cũng là đau khổ, rất là nồng cháy, rất là nhiệt não, và sự xúc chạm với các dục trong thời hiện lại cũng là đau khổ, rất là nồng cháy, rất là nhiệt não. Và này Magandiya, những chúng sanh này chưa đoạn trừ tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, với các căn bị hư hoại, do sự xúc chạm đau khổ với các dục, lại có phản tưởng là được lạc thọ.
"In the same way, sensual pleasures of the past, future, and present are painful to touch, fiercely burning and scorching. These sentient beings who are not free from sensual pleasures—being consumed by craving for sensual pleasures, burning with passion for sensual pleasures—have impaired sense faculties. So even though sensual pleasures are actually painful to touch, they have a distorted perception that they are pleasant."
MN 75, SC 42 (= mn75:19.2–19.5) — bài kệ nổi tiếng nhất của kinh này
“Ārogyaparamā lābhā,
nibbānaṁ paramaṁ sukhaṁ;
Aṭṭhaṅgiko ca maggānaṁ,
khemaṁ amatagāminan”ti.
Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết-bàn, lạc tối thắng,
Bát chánh là độc đạo,
An ổn và bất tử.
"Health is the ultimate blessing; extinguishment, the ultimate happiness. Of paths, the ultimate is eightfold— it's safe, and leads to freedom from death."
MN 75, SC 52–53 (= mn75:19.15–19.17)
Khi được nói vậy, du sĩ Magandiya, tự lấy tay xoa bóp chân tay của mình và nói
—Thế nào là không bệnh, thưa Tôn giả Gotama? Thế nào là Niết-bàn, thưa Tôn giả Gotama? Tôi nay không bệnh, an lạc, không có bệnh tật gì ở tôi.
When he said this, Māgaṇḍiya stroked his own limbs with his hands, saying: "This is that health, worthy Gotama, this is that extinguishment! For I am now healthy and happy, and have no afflictions."
MN 75, SC 60 (= mn75:21.9–21.11)
Ayaṁ kho pana, māgaṇḍiya, kāyo rogabhūto gaṇḍabhūto sallabhūto aghabhūto ābādhabhūto …
Nhưng này Magandiya, thân này trở thành bệnh khổ, trở thành cục bướu, trở thành mũi tên, trở thành bất hạnh, trở thành bệnh chướng và với thân trở thành bệnh khổ, trở thành cục bướu, trở thành mũi tên, trở thành bất hạnh, trở thành bệnh chướng này, Ông nói: “Thưa Tôn giả Gotama, cái này là không bệnh ấy, cái này là Niết-bàn ấy”. Như vậy, này Magandiya, Ông không có Thánh nhãn ấy, với Thánh nhãn ấy Ông có thể biết không bệnh, có thể thấy Niết-bàn.
"But Māgaṇḍiya, this body is a disease, a boil, a dart, a gloom, an affliction. Yet you say of this body: 'This is that health, this is that extinguishment!' Māgaṇḍiya, you don't have the noble vision by which you might know health and see extinguishment."
MN 75, SC 69 (= mn75:25.3–25.6)
“Tena hi tvaṁ, māgaṇḍiya, sappurise bhajeyyāsi. …
—Vậy này Magandiya, hãy thân cận các vị chân nhân. Này Magandiya, do Ông thân cận các vị chân nhân, thời này Magandiya, Ông sẽ được nghe diệu pháp. Này Magandiya, do Ông được nghe diệu pháp, thời này Magandiya, Ông sẽ sống đúng với Chánh pháp và tùy pháp.
"Well then, Māgaṇḍiya, you should associate with true persons. When you associate with true persons, you will hear the true teaching. When you hear the true teaching, you'll practice in line with the teaching."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
bhūnahu (bhunahuno)HT. Thích Minh Châu dịch: "người phá hoại sự sống"Sujato dịch "baby-killer"; theo chú thích của Sujato, gốc Sanskrit bhrūṇahan nghĩa sớm nhất là "kẻ giết bào thai". Đây là lời mạ lỵ Magandiya dùng chỉ Thế Tôn.
ārogyaKhông bệnh, vô bệnhTrong kinh này là ẩn dụ chỉ Niết-bàn — cái "không bệnh" thật sự, khác với cái thân không đau ốm mà Magandiya hiểu lầm.
nibbānaNiết-bànSujato dịch "extinguishment" (sự dập tắt).
kāma / pañca kāmaguṇāDục; năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái)
kāmataṇhāDục ái — khát ái đối với các dục
kāmapariḷāhaDục nhiệt não — sự thiêu đốt do dục
assāda, ādīnava, nissaraṇaVị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất lyCùng với samudaya (tập khởi) và atthaṅgama (đoạn diệt) làm thành công thức quán sát năm phần lặp đi lặp lại trong kinh này.
vigatapipāso ajjhattaṁ vūpasantacittoTrú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh
saññāvipallāsa (ý nghĩa: "phản tưởng là được lạc thọ")Tưởng điên đảo — cho cái khổ là lạcKinh văn Việt dùng cụm "lại có phản tưởng là được lạc thọ"; thuật ngữ saññāvipallāsa là tên gọi quen thuộc trong Luận tạng, không xuất hiện nguyên chữ trong kinh này.
pañcupādānakkhandhāNăm thủ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)
sappurisaBậc chân nhânThân cận bậc chân nhân là bước đầu trong chuỗi tu học ở SC 69.
dhammānudhamma­paṭipattiSống đúng Chánh pháp và tùy pháp
ariyacakkhuThánh nhãn — con mắt của bậc Thánh, nhờ đó biết "không bệnh", thấy Niết-bàn
parivāsa (bốn tháng biệt trú)Thời gian biệt trú bốn tháng dành cho người trước kia theo ngoại đạo nay xin xuất gia
aṅgārakāsuHố than hừngHình ảnh ẩn dụ trung tâm cho các dục trong kinh này.
KammāsadhammaTên thị trấn của dân chúng Kuru, nơi thuyết kinhBản Pāli Mahāsaṅgīti ghi Kammāsadhammaṁ; Sujato ghi Kammāsadamma.

Trước hết xin sửa một chỗ bản nháp của chúng tôi ghi sai. Không phải Thế Tôn đang nằm ở thảm cỏ lúc Māgandiya tới. Sau khi khất thực Ngài vào rừng nghỉ trưa; thảm cỏ chỉ là chỗ soạn sẵn. Māgandiya thấy chỗ nằm rồi chê người vắng mặt. Chiều tối Thế Tôn mới về và hỏi lại.

Lời chê là bhūnahu — "người phá hoại sự sống". Và kinh chỉ ghi Māgandiya nói: "Thánh điển của chúng tôi đã truyền lại như vậy." Lý do "chế ngự các căn là đi ngược lại sự sống" là theo Chú giải, không có trong bản kinh — lượt soi lại nhắc chúng tôi chỗ này. Thêm nữa, cụm Pāli ấy Tỳ-kheo Sujato dịch hoàn toàn khác: "For so it came to me while sleeping."

Thế Tôn không cãi — Ngài hỏi lại. Có phải vì Như Lai nhiếp phục, thủ hộ, hộ trì con mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà ông gọi Ngài như vậy? Ngài buộc lời chê phải nói rõ nó chê cái gì.

Rồi Ngài kể chính đời mình — và đây là chỗ lời Ngài có sức nặng. Ba tòa lâu đài cho ba mùa, bốn tháng mùa mưa có nữ nhạc công giúp vui. Ngài không phải người chưa từng biết dục mà chê dục.

Vì sao Ngài không còn ao ước? Không phải vì cấm, mà vì đã có hỷ lạc do ly dục, ly bất thiện phápmột cái vui khác, hơn hẳn. Người đã có cái hơn thì không thèm cái kém.

Ví dụ người cùi là ví dụ khó quên nhất. Người cùi hơ tay chân bên hố than hừngthấy khoái. Được y sĩ chữa lành rồi thì không còn thèm hố than; hai lực sĩ lôi tới thì co rút vật vãvì lửa vốn đau khổ, nồng cháy, cả xưa lẫn nay.

Câu chốt của ví dụ ấy lại là lời của chính Māgandiya. Ông nói: chính vì các căn bị hư hoại mà người cùi mới "phản tưởng" ngọn lửa thiêu đốt là lạc thọ. Mãi tới đoạn sau Thế Tôn mới đem áp dụng: cũng vậy, chúng sanh tưởng các dục là vui. Người chê đã tự nói ra câu kết luận.

Rồi ví dụ càng gãi càng hơ. Vết thương càng bất tịnh, càng hôi thốicàng chạy theo dục thì dục ái càng tăng trưởng. Gãi không phải là chữa.

Cảm hứng ngữ ở giữa bài là câu được tụng nhiều nhất. "Không bệnh, lợi tối thắng; Niết-bàn, lạc tối thắng; Bát chánh là độc đạo, an ổn và bất tử." Māgandiya mừng rỡ vì tưởng ông đã biết câu ấy.

Nhưng ông hiểu "không bệnh" là thân không bệnh — và đây là chỗ ví dụ người mù ra đời. Người sinh ra đã mù được đưa cho một tấm vải cáu bẩn và bảo là vải trắng tinh. Ông tin, mặc vào, hoan hỷ. Ông không dối — ông chỉ không thấy.

Đó là lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta. Chúng ta dùng đúng chữ — "Niết-bàn", "không bệnh", "an lạc" — mà trong đầu là một thứ khác. Biết chữ không phải là thấy.

Và kết cục bài kinh rất đẹp. Người mở đầu bằng câu chửi xin quy y, xuất gia, và chứng A-la-hán.

  • "Không bệnh là thân khỏe." Đó chính là chỗ Māgandiya hiểu lầm trong bài.
  • "Đạo Phật cấm hưởng thụ." Kinh nói có cái vui hơn, không nói cấm.
  • "Người mù trong ví dụ là kẻ nói dối." Ông tin thậtông chỉ không thấy.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ tấm vải trắng.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: có thứ gì em từng mê, nay không mê nữa? Vì sao?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bàn về ví dụ càng gãi càng ngứa — rất hợp thời nay.
  • Māgandiya chê Thế Tôn điều gì, và dựa vào đâu?
  • Vì sao Đức Phật không còn ao ước các dục?
  • Ai nói câu “các căn bị hư hoại nên phản tưởng”?
  • Ví dụ người mù và tấm vải dạy điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.