G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 74
Một Chủ Trương Phủ Nhận Tất Cả Thì Tự Phủ Nhận Chính Nó

Kinh Trường Trảo

Dīghanakha Sutta — MN 74 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Trường Trảo

Du sĩ Trường Trảo đến tuyên bố chủ trương của mình: "Tất cả đều không làm cho tôi thích thú." Thế Tôn không tranh cãi — Ngài chỉ hỏi một câu ngược lại.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 74
  • Nơi chốnRājagaha, núi Gijjhakūṭa, hang Sūkarakhata
  • Người nghe được lợi lớn nhất — Tôn giả Sāriputta đang đứng quạt hầu Thế Tôn
  • Chữ Aggivessana — là tên dòng họ theo Chú giải; chính bản kinh chỉ cho thấy Thế Tôn gọi ông bằng tên ấy

Kinh Trường Trảo (MN 74) được Thế Tôn nói tại hang Sūkarakhata trên núi Linh Thứu, gần thành Vương Xá, cho du sĩ ngoại đạo Dīghanakha thuộc dòng họ Aggivessana. Vị du sĩ này đến và tuyên bố chủ trương của mình: "Tất cả đều không làm cho tôi thích thú". Thế Tôn không tranh cãi, chỉ hỏi ngược lại một câu: vậy chính cái tri kiến ấy có làm ông thích thú không? Câu hỏi đó cho thấy một chủ trương phủ nhận tất cả thì cũng tự phủ nhận chính nó. Kế đó Thế Tôn nêu ba chủ trương thường gặp nơi các Sa-môn, Bà-la-môn: "tất cả đều làm tôi thích thú", "tất cả đều làm tôi không thích thú", và "một phần thích thú, một phần không". Chủ trương thứ nhất gần với tham dục, triền phược, hoan lạc, đắm trước, chấp thủ; chủ trương thứ hai thì ngược lại. Nhưng điều quan trọng Thế Tôn dạy là: dù theo chủ trương nào, nếu cố chấp, kiên chấp mà nói "Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng", thì liền đối nghịch với hai hạng người kia; có đối nghịch thời có tranh luận, có chống đối, có bực mình. Người có trí thấy vậy nên từ bỏ tri kiến ấy mà không chấp thủ tri kiến khác — đó mới thật là đoạn trừ tri kiến. Rồi Thế Tôn dạy pháp quán thực tiễn: quán thân này do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, là không, là vô ngã; quán như vậy thì thân dục, thân ái được đoạn diệt. Tiếp đó là ba thọ — lạc, khổ, bất khổ bất lạc — đều vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị tiêu diệt. Thấy vậy, vị Thánh đệ tử yểm ly ba thọ, ly tham, được giải thoát, và vị Tỷ-kheo tâm giải thoát ấy "không nói thuận theo một ai, không tranh luận với một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không có chấp thủ". Nhân bài pháp này, Tôn giả Sāriputta đang đứng quạt hầu sau lưng Thế Tôn liền được tâm giải thoát các lậu hoặc; còn du sĩ Dīghanakha thì pháp nhãn ly trần vô cấu khởi lên và xin quy y Tam Bảo, làm cư sĩ trọn đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūta (Linh Thứu), trong hang Sūkarakhata. Du sĩ ngoại đạo Dīghanakha (Trường Trảo) đến chào hỏi và trình bày chủ trương của mình (đoạn 1-2).
  • Chủ trương "Tất cả đều không làm cho tôi thích thú" và câu hỏi vặn lại của Thế Tôn — Dīghanakha nói: "Tất cả đều không làm cho tôi thích thú". Thế Tôn hỏi: chính tri kiến ấy có làm ông thích thú không? Rồi Thế Tôn nói về số đông và thiểu số người trong đời nói "thời đây cũng giống như vậy": số đông không từ bỏ tri kiến ấy mà chấp thủ tri kiến khác, thiểu số thì từ bỏ và không chấp thủ tri kiến khác (đoạn 2-3).
  • Ba loại tri kiến của các Sa-môn, Bà-la-môn — Thế Tôn nêu ba chủ trương: "Tất cả đều làm cho tôi thích thú" (gần với tham dục, triền phược, hoan lạc, đắm trước, chấp thủ); "Tất cả đều làm cho tôi không thích thú" (gần với không tham dục...); "Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú". Dīghanakha vội cho rằng Thế Tôn tán dương quan điểm của mình (đoạn 4-5).
  • Người có trí quán sát ba tri kiến ấy đều dẫn đến tranh luận — Với mỗi tri kiến trong ba tri kiến, người có trí suy nghĩ: nếu cố chấp, kiên chấp và nói "Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng" thì sẽ đối nghịch với hai hạng người kia; có đối nghịch thời có tranh luận, có chống đối, có bực mình. Do thấy vậy, vị ấy từ bỏ tri kiến ấy, không chấp thủ tri kiến khác — đó là sự đoạn trừ, hủy bỏ các tri kiến (đoạn 6-8).
  • Quán thân — Thế Tôn chuyển sang pháp quán: thân này do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại; cần quán là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên..., là không, là vô ngã. Quán như vậy thời thân dục, thân ái, thân phục tòng được đoạn diệt (đoạn 9).
  • Ba thọ và tánh vô thường của thọ — Có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; khi cảm giác thọ này thì không cảm giác hai thọ kia. Cả ba thọ đều vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, hủy hoại, suy tàn, tiêu diệt (đoạn 10-11).
  • Yểm ly, ly tham, giải thoát — Thấy vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly ba thọ, do yểm ly nên không tham dục, do không tham dục nên được giải thoát, và biết "Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành...". Vị Tỷ-kheo tâm giải thoát như vậy không nói thuận theo một ai, không tranh luận với một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không chấp thủ (đoạn 12-13).
  • Tôn giả Sāriputta chứng A-la-hán và Dīghanakha được pháp nhãn — Tôn giả Sāriputta đang đứng quạt sau lưng Thế Tôn, nghe pháp và suy nghĩ về sự đoạn trừ, tự bỏ các pháp nhờ thắng trí, tâm được giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Còn Dīghanakha thì pháp nhãn ly trần, vô cấu khởi lên, rồi xin quy y Phật, Pháp, chúng Tỷ-kheo và làm cư sĩ trọn đời (đoạn 14-16).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 74.1.2
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate sūkarakhatāyaṁ.
Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūta (Linh Thứu), trong hang Sūkarakhata.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain in the Boar’s Cave.
MN 74.2.3–2.6
“ahañhi, bho gotama, evaṁvādī evaṁdiṭṭhi: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’”ti. “Yāpi kho te esā, aggivessana, diṭṭhi: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti, esāpi te diṭṭhi nakkhamatī”ti?
—Tôn giả Gotama, tôi có lý thuyết như sau, tôi có tri kiến như sau: "Tất cả đều không làm cho tôi thích thú". —Này Aggivessana, tri kiến: "Tất cả đều không làm cho tôi thích thú", tri kiến ấy không làm Ông thích thú?
“Worthy Gotama, this is my doctrine and view: ‘Nothing is acceptable to me.’” “This view of yours, Aggivessana—is that acceptable to you?”
MN 74.6.12–6.14
Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’. Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati. Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối thời có bực mình". Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình nên từ bỏ tri kiến này, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
And when there’s arguing, there’s dispute; when there’s dispute there’s distress; and when there’s distress there’s harm.’ So, considering in themselves the potential for argument, dispute, distress, and harm, they give up that view by not grasping another view. That’s how those views are given up and let go.
MN 74.9.1–9.2
Ayaṁ kho panaggivessana, kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo, aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassitabbo. Tassimaṁ kāyaṁ aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassato yo kāyasmiṁ kāyachando kāyasneho kāyanvayatā sā pahīyati.
Nhưng này Aggivessana, thân này có sắc, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phân toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, cần phải được quán sát là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Khi vị ấy quán sát thân này là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã, thời thân, thân dục, thân ái, thân phục tòng được đoạn diệt.
Aggivessana, this body is formed. It’s made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction. You should see it as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. Doing so, you’ll give up desire, affection, and subservience to the body.
MN 74.10.1–10.4
Tisso kho imā, aggivessana, vedanā—sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā. Yasmiṁ, aggivessana, samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti; sukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
Này Aggivessana, có ba thọ này; lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác khổ thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ chỉ cảm giác lạc thọ.
There are these three feelings: pleasant, painful, and neutral. At a time when you feel a pleasant feeling, you don’t feel a painful or neutral feeling; you only feel a pleasant feeling.
MN 74.12.1–12.3
Evaṁ passaṁ, aggivessana, sutavā ariyasāvako sukhāyapi vedanāya nibbindati, dukkhāyapi vedanāya nibbindati, adukkhamasukhāyapi vedanāya nibbindati; nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ, vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Thấy vậy, này Aggivessana, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly lạc thọ, yểm ly khổ thọ, yểm ly bất khổ bất lạc thọ. Do yểm ly, vị ấy không có tham dục. Do không tham dục, vị ấy được giải thoát. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm. Sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa".
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with pleasant, painful, and neutral feelings. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
MN 74.13.1
Evaṁ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu na kenaci saṁvadati, na kenaci vivadati, yañca loke vuttaṁ tena voharati, aparāmasan”ti.
Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỷ-kheo không nói thuận theo một ai, không tranh luận với một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không có chấp thủ (từ ngữ ấy).
A mendicant whose mind is freed like this doesn’t side with anyone or dispute with anyone. They use the language of the world to communicate without getting stuck on it.”
MN 74.14.1–14.4
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno. Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi: “tesaṁ tesaṁ kira no bhagavā dhammānaṁ abhiññā pahānamāha, tesaṁ tesaṁ kira no sugato dhammānaṁ abhiññā paṭinissaggamāhā”ti. Iti hidaṁ āyasmato sāriputtassa paṭisañcikkhato anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci.
Lúc bấy giờ Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đứng sau lưng Thế Tôn và đang quạt Thế Tôn. Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như sau: "Thế Tôn đã thuyết cho chúng ta sự đoạn trừ các pháp ấy nhờ thắng trí. Thiện Thệ đã thuyết cho chúng ta sự tự bỏ các pháp ấy nhờ thắng trí". Khi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như vậy, tâm (của Tôn giả) được giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Now at that time Venerable Sāriputta was standing behind the Buddha fanning him. Then he thought, “It seems the Buddha speaks of giving up and letting go of all these things through direct knowledge.” Reflecting like this, Venerable Sāriputta’s mind was freed from the defilements by not grasping.
MN 74.15.1–15.2
Dīghanakhassa pana paribbājakassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Còn đối với du sĩ ngoại đạo Dighanakha, pháp nhãn ly trần, vô cấu được khởi lên: "Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy được đoạn diệt".
And the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in the wanderer Dīghanakha: “Everything that is liable to arise is liable to cease.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
diṭṭhitri kiến, quan điểm, chủ trươngTrong kinh này là ba chủ trương "tất cả thích thú / tất cả không thích thú / một phần".
khamati / nakkhamatilàm cho thích thú / không làm cho thích thú (chấp nhận / không chấp nhận)
upādānachấp thủ
paṭinissaggasự tự bỏ, buông xảBản Việt dịch là "sự tự bỏ", "sự hủy bỏ" các tri kiến.
pahānasự đoạn trừ
viggaha – vivāda – vighāta – vihesāđối nghịch – tranh luận – chống đối – bực mình
vedanāthọ (cảm thọ)sukhā (lạc thọ), dukkhā (khổ thọ), adukkhamasukhā (bất khổ bất lạc thọ).
anicca – dukkha – anattavô thường – khổ – vô ngã
nibbidāyểm ly, nhàm chán
virāgaly tham, không tham dục
vimuttigiải thoát
āsavalậu hoặc
abhiññāthắng trí
dhammacakkhupháp nhãn"virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ": pháp nhãn ly trần, vô cấu.
paribbājakadu sĩ ngoại đạo
Aggivessanatên dòng họ của du sĩ Dīghanakha; Thế Tôn gọi ông bằng họ này suốt bài kinh

Chủ trương của Trường Trảo nghe rất dứt khoát. "Tất cả đều không làm cho tôi thích thú." Phủ nhận sạch.

Thế Tôn không tranh cãi, chỉ hỏi một câu. Vậy chính cái tri kiến ấy có làm ông thích thú không?

Câu hỏi ấy làm sụp cả chủ trương. Nếu thích thú thì không phải "tất cả đều không". Nếu không thích thú thì chính ông cũng bỏ nó. Một chủ trương phủ nhận tất cả thì tự phủ nhận chính nó.

Rồi Thế Tôn nêu ba chủ trương thường gặp. "Tất cả đều làm tôi thích thú"; "tất cả đều làm tôi không thích thú"; và "một phần thích thú, một phần không".

Ngài phân tích công bằng cả ba. Chủ trương thứ nhất gần với tham dục, triền phược, hoan lạc, đắm trước, chấp thủ; chủ trương thứ hai thì ngược lại.

Nhưng điểm chính KHÔNG nằm ở chỗ chủ trương nào đúng. Điều Ngài dạy là: dù theo chủ trương nào, nếu cố chấp, kiên chấp mà nói "Đây là sự thật, ngoài ra là hư vọng", thì liền đối nghịch với hai hạng kia.

Và chuỗi hậu quả đi rất nhanh. Có đối nghịch thì có tranh luận; có tranh luận thì có chống đối; có chống đối thì có bực mình. Người có trí thấy vậy nên buông.

Chỗ này rất đáng dùng trong đoàn. Kinh không hỏi ai đúng — kinh chỉ ra cái giá của việc bám chặt.

Phần sau Ngài chuyển sang thân và thọ. Thân này do bốn đại hợp thành, vô thường, cần được quán là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên. Rồi ba thọlạc, khổ, bất khổ bất lạckhông thọ nào tồn tại cùng lúc với thọ khác, và cả ba đều vô thường.

Và đây là chi tiết đẹp nhất bài kinh, thường bị bỏ qua. Trong lúc ấy, Tôn giả Sāriputta đang đứng quạt hầu Thế Tôn. Nghe bài pháp giảng cho người khác — và chính ngài chứng ngộ.

Xin ghi cho đúng chữ. Pāli chép "tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ"; chữ "A-la-hán" KHÔNG xuất hiện trong đoạn ấy. Hiểu là chứng A-la-hán thì chuẩn mực, nhưng không phải chữ của kinh.

Còn Trường Trảo thì chứng pháp nhãn và xin quy y. Người đến để tranh luận, ra về làm cư sĩ.

  • "Không chấp gì cả là đúng." Kinh cho thấy chính câu ấy cũng là một chấp.
  • "Phải tìm cho ra ai đúng." Kinh chỉ ra cái giá của việc bám chặt.
  • "Nghe pháp giảng cho người khác thì không ích gì." Tôn giả Sāriputta chứng ngộ đúng lúc ấy.
  • Ngành Oanh. Hỏi: nói "con không thích gì hết" — vậy có thích câu đó không?
  • Ngành Thiếu. Kể chuỗi: bám chặt → đối nghịch → tranh luận → bực mình.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Rất hợp khi trong đoàn có tranh luận ai đúng ai sai.
  • Chủ trương của Trường Trảo là gì?
  • Câu hỏi ngược của Thế Tôn là gì?
  • Chuỗi hậu quả của sự cố chấp là gì?
  • Ai chứng ngộ trong bài kinh này?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.