G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 70
Không Đo Bằng Cảm Giác Dễ Chịu · Đo Bằng Thiện Pháp Tăng Hay Giảm

Kinh Kīṭāgiri

Kīṭāgiri Sutta — MN 70 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Kīṭāgiri

Một nhóm Tỷ-kheo không chịu bỏ ăn phi thời, còn hỏi lại: "Sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai?" Câu hỏi ấy nghe rất có lý — và bài kinh trả lời nó.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 70
  • Nơi chốn — thị trấn Kīṭāgiri, xứ Kāsi
  • Hai bản hiểu khác nhau — Pāli nói NHÓM Tỷ-kheo theo Assaji và Punabbasuka; Hoà thượng Minh Châu dịch thành hai vị
  • Câu nổi tiếngtrí tuệ hoàn thành nhờ "học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ"

Kinh Kìtàgiri (Trung Bộ 70) mở đầu bằng lời Thế Tôn dạy chúng Tỷ-kheo từ bỏ ăn ban đêm, vì nhờ vậy mà "ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú". Khi Thế Tôn du hành đến thị trấn Kīṭāgiri xứ Kāsi, nhóm Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka ở đó không chịu vâng lời, còn nói rằng ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày và ăn phi thời thì họ vẫn khỏe mạnh, "sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai?". Các Tỷ-kheo khuyên không được, bèn trình lên Thế Tôn. Thế Tôn cho gọi hai vị đến và hỏi vặn: Ta có bao giờ dạy rằng hễ cảm thọ bất cứ cảm giác nào — lạc, khổ hay bất khổ bất lạc — thì bất thiện pháp đều giảm và thiện pháp đều tăng chăng? Không phải vậy. Điều Thế Tôn dạy là phải xét theo kết quả: có thứ lạc thọ làm bất thiện pháp tăng, thiện pháp giảm, thì phải từ bỏ; có thứ lạc thọ làm bất thiện pháp giảm, thiện pháp tăng, thì nên chứng và trú. Khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ cũng xét như vậy. Đây là điểm then chốt để dạy đoàn sinh: không đo bằng cảm giác dễ chịu trước mắt, mà đo bằng thiện pháp có tăng trưởng hay không. Kế đến, Thế Tôn nói về sự không phóng dật: bậc A-la-hán đã làm xong việc thì không còn việc cần làm nhờ không phóng dật; còn các bậc hữu học tâm chưa thành tựu thì vẫn còn việc cần phải làm. Thế Tôn liệt kê bảy hạng người có mặt ở đời: câu phần giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng, kiến đáo, tín giải thoát, tùy pháp hành, tùy tín hành. Phần cuối là lời dạy nổi tiếng: trí tuệ không hoàn thành lập tức, mà "nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ", theo thứ lớp từ lòng tin, đến gần, kính lễ, lóng tai, nghe pháp, thọ trì, suy tư ý nghĩa, chấp thuận, ước muốn, nỗ lực, cân nhắc, tinh cần, rồi tự thân chứng sự thật tối thượng. Kinh kết thúc bằng lời phát nguyện tinh tấn "dầu chỉ còn da, gân và xương…" và hai quả có thể mong đợi: Chánh trí ngay trong hiện tại, hoặc nếu còn dư y thì chứng quả Bất hoàn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: lời dạy từ bỏ ăn ban đêm — Thế Tôn du hành ở Kasi, dạy các Tỷ-kheo ăn, từ bỏ ăn ban đêm; do vậy cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú (SC 1-3).
  • 2. Nhóm Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka không vâng lời — Tại thị trấn Kitagiri, các Tỷ-kheo khuyên nhóm Assaji - Punabbasuka bỏ ăn phi thời nhưng không được; nhóm này nói họ vẫn ít bệnh, ít não, và hỏi sao lại bỏ hiện tại chạy theo tương lai. Sự việc được trình lên Thế Tôn (SC 4-9).
  • 3. Thế Tôn cho gọi và hỏi vặn — Thế Tôn sai một Tỷ-kheo đi gọi; hai vị đến, xác nhận sự việc (SC 10-17).
  • 4. Phân biệt các cảm thọ theo kết quả thiện - bất thiện — Thế Tôn dạy không phải mọi cảm thọ đều như nhau: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ nào khiến bất thiện pháp tăng, thiện pháp giảm thì phải từ bỏ; loại nào khiến bất thiện pháp giảm, thiện pháp tăng thì nên chứng và trú. Vì Thế Tôn đã biết, thấy, giác, chứng, liễu giải với trí tuệ nên mới dạy như vậy (SC 18-31).
  • 5. Ai còn việc phải làm nhờ không phóng dật — Bậc A-la-hán, lậu hoặc đã đoạn tận, việc nên làm đã làm, thì không còn việc cần phải làm nhờ không phóng dật; các bậc hữu học tâm chưa thành tựu thì còn có việc cần phải làm (SC 32-33).
  • 6. Bảy hạng người có mặt ở đời — Câu phần giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng, kiến đáo, tín giải thoát, tùy pháp hành, tùy tín hành; mỗi hạng được định nghĩa và nói rõ còn hay không còn việc cần làm nhờ không phóng dật (SC 34-41).
  • 7. Trí tuệ hoàn thành nhờ học từ từ — Trí tuệ không hoàn thành lập tức mà nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ; kể thứ lớp từ lòng tin, đến gần, kính lễ, lóng tai, nghe pháp, thọ trì, suy tư ý nghĩa, chấp thuận, ước muốn, nỗ lực, cân nhắc, tinh cần. Thiếu các bước ấy là đi vào phi đạo, tà đạo (SC 42-44).
  • 8. Sự thuyết trình bốn phần và kết kinh — Thế Tôn nói về bậc Đạo sư không liên hệ tài vật, về tùy pháp của người đệ tử có lòng tin, lời nguyện tinh tấn 'dầu chỉ còn da, gân và xương', và hai quả: Chánh trí ngay trong hiện tại, hoặc nếu có dư y thì chứng quả Bất hoàn. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (SC 45-48).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 70.2 (SC 2)
“ahaṁ kho, bhikkhave, aññatreva rattibhojanā bhuñjāmi. Aññatra kho panāhaṁ, bhikkhave, rattibhojanā bhuñjamāno appābādhatañca sañjānāmi appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Etha, tumhepi, bhikkhave, aññatreva rattibhojanā bhuñjatha. Aññatra kho pana, bhikkhave, tumhepi rattibhojanā bhuñjamānā appābādhatañca sañjānissatha appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañcā”ti.
—Này các Tỷ-kheo, Ta ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Này các Tỷ-kheo, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Này các Tỷ-kheo, hãy đến và ăn, từ bỏ ăn ban đêm. Này các Tỷ-kheo, do ăn, từ bỏ ăn ban đêm, các Ông sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú.
“Mendicants, I abstain from eating at night. Doing so, I find that I’m healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. You too should never eat at night. Doing so, you’ll find that you’re healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.”
MN 70.4.10 (trong SC 7)
Te mayaṁ kiṁ sandiṭṭhikaṁ hitvā kālikaṁ anudhāvissāma?
Sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai?
Why should we give up what is apparent in the present to chase after what takes effect over time?
MN 70.7.1 (SC 20)
“Nanu me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha idhekaccassa yaṁ evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti kusalā dhammā parihāyanti, idha panekaccassa evarūpaṁ sukhaṁ vedanaṁ vedayato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti,
Này các Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta dạy như sau: “Ở đây đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp được tăng trưởng, các thiện pháp bị đoạn diệt; ở đây, đối với một người, khi cảm thọ lạc thọ như vậy, các bất thiện pháp bị đoạn diệt, các thiện pháp được tăng trưởng.
“Haven’t you known me to teach the Dhamma like this: ‘When someone feels this kind of pleasant feeling, unskillful qualities grow and skillful qualities decline. But when someone feels that kind of pleasant feeling, unskillful qualities decline and skillful qualities grow.
MN 70.12 (SC 32)
Nāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ ‘appamādena karaṇīyan’ti vadāmi; na panāhaṁ, bhikkhave, sabbesaṁyeva bhikkhūnaṁ ‘na appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Ye te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tathārūpānāhaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ ‘na appamādena karaṇīyan’ti vadāmi. Taṁ kissa hetu? Kataṁ tesaṁ appamādena. Abhabbā te pamajjituṁ.
Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng đối với tất cả Tỷ-kheo, có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng đối với tất cả Tỷ-kheo không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt được lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát; này các Tỷ-kheo, đối với những Tỷ-kheo như vậy, Ta nói rằng không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được các vị này làm, nhờ không phóng dật. Các vị này không thể trở thành phóng dật.
Mendicants, I don’t say that all these mendicants still have work to do with diligence. Nor do I say that all these mendicants have no work to do with diligence. I say that mendicants don’t have work to do with diligence if they are perfected, with defilements ended, having completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and become rightly freed through enlightenment. Why is that? They’ve done their work with diligence. They’re incapable of being negligent.
MN 70.14 (SC 34)
Sattime, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame satta? Ubhatobhāgavimutto, paññāvimutto, kāyasakkhi, diṭṭhippatto, saddhāvimutto, dhammānusārī, saddhānusārī.
Này các Tỷ-kheo có bảy hạng người sống trong đời này. Thế nào là bảy? Bậc câu phần giải thoát, bậc tuệ giải thoát, bậc thân chứng, bậc kiến đáo, bậc tín giải thoát, bậc tùy pháp hành, bậc tùy tín hành.
Mendicants, these seven individuals are found in the world. What seven? One freed both ways, one freed by wisdom, a direct witness, one attained to view, one freed by faith, a follower of teachings, and a follower by faith.
MN 70.22 (SC 42)
Nāhaṁ, bhikkhave, ādikeneva aññārādhanaṁ vadāmi; api ca, bhikkhave, anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā aññārādhanā hoti.
Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng trí tuệ được hoàn thành lập tức. Nhưng này các Tỷ-kheo, trí tuệ được hoàn thành nhờ học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ.
Mendicants, I don’t say that enlightenment is achieved right away. Rather, enlightenment is achieved by gradual training, progress, and practice.
MN 70.23.2 (SC 43)
Idha, bhikkhave, saddhājāto upasaṅkamati, upasaṅkamanto payirupāsati, payirupāsanto sotaṁ odahati, ohitasoto dhammaṁ suṇāti, sutvā dhammaṁ dhāreti, dhatānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati, atthaṁ upaparikkhato dhammā nijjhānaṁ khamanti, dhammanijjhānakkhantiyā sati chando jāyati, chandajāto ussahati, ussāhetvā tuleti, tulayitvā padahati, pahitatto samāno kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca naṁ ativijjha passati.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một vị có lòng tin đi đến gần; sau khi đến gần, vị ấy tỏ sự kính lễ; sau khi tỏ sự kính lễ, vị ấy lóng tai; sau khi lóng tai, vị ấy nghe pháp; sau khi nghe pháp, vị ấy thọ trì pháp; sau khi thọ trì, vị ấy suy tư ý nghĩa các pháp được thọ trì; sau khi suy tư ý nghĩa, các pháp được chấp thuận; sau khi các pháp được chấp thuận, ước muốn sanh khởi; sau khi ước muốn sanh khởi, vị ấy nỗ lực; sau khi nỗ lực, vị ấy cân nhắc; sau khi cân nhắc, vị ấy tinh cần. Do tinh cần, vị ấy tự thân chứng được sự thật tối thượng, và với trí tuệ thể nhập sự thật ấy, vị ấy thấy.
It’s when someone in whom faith has arisen approaches a teacher. They pay homage, actively listen, hear the teachings, remember the teachings, examine their meaning, and accept them after deliberation. Then enthusiasm springs up; they make an attempt, weigh up, and strive. Striving, they directly realize the ultimate truth, and see it with penetrating wisdom.
MN 70.27.6 (trong SC 47)
‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti.
Dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn lực để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu nhẫn nại, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.
‘Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not relax my energy until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.’
Chữ PāliNghĩaGhi chú
KīṭāgiriKìtàgiri - tên một thị trấn của xứ Kāsi, nơi kinh này được nói
rattibhojanaăn ban đêmaññatra rattibhojanā bhuñjati: ăn, từ bỏ ăn ban đêm
vikālaphi thời (không đúng giờ ăn)
sandiṭṭhikathuộc hiện tại, thấy ngay trong đời này
vedanācảm thọsukha: lạc thọ; dukkha: khổ thọ; adukkhamasukha: bất khổ bất lạc thọ
kusalā dhammā / akusalā dhammāthiện pháp / bất thiện pháp
appamādakhông phóng dật
arahant, khīṇāsavaA-la-hán, bậc đã đoạn tận các lậu hoặc
sekhahữu học - bậc còn đang tu học, tâm chưa thành tựu
ubhatobhāgavimuttacâu phần giải thoát
paññāvimuttatuệ giải thoát
kāyasakkhithân chứng
diṭṭhippattakiến đáo
saddhāvimuttatín giải thoát
dhammānusārītùy pháp hành
saddhānusārītùy tín hành
anupubbasikkhā, anupubbakiriyā, anupubbapaṭipadāhọc từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ
indriya (năm căn)tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn (saddhā, vīriya, sati, samādhi, paññā)
kalyāṇamittathiện hữu - bạn lành
anudhammatùy pháp
anāgāmitāquả Bất hoàn (A-na-hàm)
upādisesadư y - phần còn sót lại của chấp thủ

Câu vặn lại của nhóm Tỷ-kheo ấy rất đáng suy nghĩ, vì nghe rất có lý. Họ nói: ăn chiều, ăn sáng, ăn ban ngày, ăn phi thời thì họ vẫn khoẻ mạnh. Vậy "sao chúng tôi lại bỏ hiện tại, chạy theo tương lai?"

Và Thế Tôn không bác bằng uy quyền. Ngài hỏi vặn lại: Ta có bao giờ dạy rằng hễ cảm thọ bất cứ cảm giác nào — lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc — thì bất thiện pháp đều giảm và thiện pháp đều tăng chăng?

Câu trả lời là không. Và đây là thước đo của cả bài kinh: không đo bằng cảm giác dễ chịu trước mắt, mà đo bằng thiện pháp có tăng trưởng hay không.

Ngài chia rất kỹ, đủ ba loại thọ. Có thứ lạc thọ làm bất thiện pháp tăng, thiện pháp giảmphải từ bỏ. Có thứ lạc thọ làm bất thiện pháp giảm, thiện pháp tăngnên chứng và trú. Khổ thọ cũng xét y như vậy.

Chỗ này chữa được hai bệnh cùng lúc. Bệnh thứ nhất: hễ thấy dễ chịu là cho là tốt. Bệnh thứ hai: hễ thấy khó chịu là cho là tu. Cả hai đều đo sai thước.

Rồi Ngài nói về sự không phóng dật, và phân biệt rất rõ. Bậc A-la-hán đã làm xong việc thì không còn việc cần làm nhờ không phóng dật. Các bậc hữu học tâm chưa thành tựu thì vẫn còn việc cần phải làm.

Bảy hạng người được kể ra đủ. Câu phần giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng, kiến đáo, tín giải thoát, tùy pháp hành, tùy tín hành. Đây là bảng phân hạng đầy đủ nhất trong Trung Bộ.

Và phần cuối là lời dạy được trích nhiều nhất từ bài kinh này. Trí tuệ KHÔNG hoàn thành lập tức, mà nhờ "học từ từ, hành từ từ, thực tập từ từ".

Thứ lớp được kể ra từng bước một, không bỏ bước nào. Lòng tin → đến gần → kính lễ → lóng tai → nghe pháp → thọ trì → suy tư ý nghĩa → chấp thuận → ước muốn → nỗ lực → cân nhắc → tinh cần → rồi tự thân chứng sự thật tối thượng.

Xin để ý ba bước đầu. Lòng tin, đến gần, kính lễchưa nghe được câu pháp nào cả. Ba bước ấy vẫn được kể là bước.

Và kinh nói thẳng: thiếu các bước ấy là đi vào phi đạo, tà đạo. Không có đường tắt.

Kết bằng lời phát nguyện rất mạnh. "Dầu chỉ còn da, gân và xương…" — và hai quả có thể mong đợi: Chánh trí ngay trong hiện tại, hoặc nếu còn dư y thì chứng quả Bất hoàn.

  • "Thấy khoẻ là biết mình tu đúng." Kinh đo bằng thiện pháp tăng hay giảm.
  • "Lạc thọ nào cũng phải bỏ." Kinh nói có thứ lạc thọ nên chứng và trú.
  • "Có người ngộ ngay tức khắc." Kinh nói học từ từ, đủ mười ba bước.
  • Ngành Oanh. Hỏi: thuốc đắng và kẹo ngọt — cái nào tốt cho em?
  • Ngành Thiếu. Cho các em kể một việc dễ chịu mà làm mình dở đi.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chép mười ba bước học từ từ ra để đối chiếu chương trình tu học.
  • Câu vặn lại của nhóm Tỷ-kheo là gì?
  • Thước đo của bài kinh là gì?
  • Bảy hạng người gồm những ai?
  • Ba bước đầu của sự học từ từ là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.