G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 68
Các Ông Có Hoan Hỷ Trong Phạm Hạnh Không?

Kinh Naḷakapāna

Naḷakapāna Sutta — MN 68 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Naḷakapāna

Thế Tôn hỏi một câu rất giản dị: những người trẻ bỏ nhà đi tu vì lòng tin — họ CÓ HOAN HỶ trong Phạm hạnh không? Ngài hỏi ba lần, và ba lần đại chúng im lặng.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 68
  • Nơi chốnNaḷakapāna, rừng cây Palāsa, xứ Kosala
  • Người trả lời — Tôn giả Anuruddha
  • Ví dụcây tāla bị chặt đầu, không thể sanh trưởng lại

Kinh Nalakapāna (MN 68) mở đầu bằng một câu hỏi rất giản dị mà rất sâu: những người trẻ đã bỏ nhà đi tu vì lòng tin, họ CÓ HOAN HỶ trong Phạm hạnh không? Thế Tôn hỏi chúng Tỷ-kheo ba lần, ba lần đại chúng im lặng. Ngài bèn hỏi thẳng Tôn giả Anuruddha, và được trả lời: "thật sự chúng con hoan hỷ trong Phạm hạnh". Từ đó Thế Tôn dạy phần thứ nhất: hãy nhớ lại vì sao mình đi tu. Các vị đang tuổi thanh xuân, tóc còn đen nhánh, có thể hưởng thụ dục lạc; các vị không vì mệnh lệnh của vua, không vì kẻ trộm, không vì nợ nần, không vì sợ hãi, không vì mất nghề sinh sống mà xuất gia — mà vì thấy mình bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, não áp bức, và mong chấm dứt toàn bộ khổ uẩn. Đã xuất gia như vậy thì phải làm gì? Phải ly dục, ly bất thiện pháp mà chứng cho được HỶ LẠC (hoặc một trạng thái an tịnh hơn). Vì nếu không có niềm vui trong đạo, thì tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi, bất lạc, giải đãi sẽ xâm chiếm tâm và an trú ở đó. Đây là điểm rất thiết thực cho Huynh trưởng và đoàn sinh: đời sống tu học phải có niềm vui chân chánh, nếu không thì các phiền não sẽ lấp vào chỗ trống. Phần thứ hai: các vị nghĩ sao về Như Lai? Các lậu hoặc của Như Lai đã đoạn tận, cắt tận gốc rễ như cây tala bị chặt đầu không thể mọc lại. Phần thứ ba, cũng là phần dài nhất: vì sao Như Lai lại tuyên bố chỗ tái sanh của các đệ tử đã mệnh chung? Không phải để lường gạt hay nịnh hót quần chúng, không vì lợi lộc, danh xưng, cũng không vì muốn "quần chúng sẽ biết Ta". Mà vì có những người con lành có lòng tin, nghe vậy sẽ hoan hỷ, sẽ noi gương mà chú tâm tu tập — đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Thế Tôn kể theo bốn chúng, nhưng KHÔNG giống nhau: với Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni thì kinh tuyên bố quả A-la-hán (chánh trí); còn với nam cư sĩ và nữ cư sĩ thì chỉ nêu BA quả — Bất lai, Nhất lai, Dự lưu; người nghe nhớ đến lòng tin, giới hạnh, đa văn, bố thí và trí tuệ của vị đã khuất mà tinh tấn theo, nhờ vậy "được sống lạc trú".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Nalakapana — Thế Tôn trú tại Nalakapana, rừng cây Palasa; nhiều Thiện gia nam tử danh tiếng đã xuất gia vì lòng tin (MN 68.1–2).
  • 2. Ba lần hỏi, ba lần chúng Tỷ-kheo im lặng — Thế Tôn hỏi chúng Tỷ-kheo: các vị ấy có hoan hỷ trong Phạm hạnh không? Ba lần đại chúng giữ im lặng (MN 68.3).
  • 3. Thế Tôn hỏi thẳng Tôn giả Anuruddha — Tôn giả Anuruddha đáp: thật sự chúng con hoan hỷ trong Phạm hạnh (MN 68.4).
  • 4. Vì sao xuất gia: không vì vua, trộm, nợ nần, sợ hãi, sinh kế — Đang tuổi thanh xuân, tóc đen nhánh, có thể hưởng dục lạc, nhưng xuất gia vì thấy bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, não áp bức và mong chấm dứt khổ uẩn (MN 68.5).
  • 5. Xuất gia rồi phải làm gì: chứng hỷ lạc do ly dục — Không chứng được hỷ lạc do ly dục ly bất thiện pháp thì dục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi, bất lạc, giải đãi xâm chiếm tâm và an trú; chứng được thì các pháp ấy không xâm chiếm (MN 68.6).
  • 6. Các lậu hoặc của Như Lai đã đoạn tận — ví dụ cây tala — Các vị đáp rằng lậu hoặc của Như Lai đã được đoạn trừ; Thế Tôn xác nhận: đã cắt tận gốc rễ, như cây tala bị chặt đầu không thể mọc lại (MN 68.7). Xin đừng bỏ mệnh đề đi liền sau đó, vì chính nó là lý do đoạn này được nêu ra: “Do vậy, Như Lai sau khi suy tư phân tích, thọ dụng một pháp; … nhẫn thọ … từ bỏ … đoạn trừ một pháp” (Pāli mn68:7.14 tasmā tathāgato saṅkhāyekaṁ paṭisevati…).
  • 7. Câu hỏi: vì mục đích gì Như Lai tuyên bố chỗ tái sanh của các đệ tử? — Các vị thưa: các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, xin Thế Tôn thuyết giảng ý nghĩa (MN 68.8).
  • 8. Không vì lường gạt, nịnh hót, lợi lộc, danh xưng — Mà vì có những Thiện gia nam tử có lòng tin, tín thọ cao thượng, hoan hỷ cao thượng, nghe vậy sẽ chú tâm — đưa đến hạnh phúc an lạc lâu dài (MN 68.9).
  • 9. Bốn chúng — nhưng không cùng số quả vị (Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni có cả quả A-la-hán; cư sĩ chỉ ba quả) — được sống lạc trú — Tỷ-kheo (MN 68.10–13), Tỷ-kheo-ni (MN 68.14–17), nam cư sĩ (MN 68.18–20), nữ cư sĩ (MN 68.21–23): nghe vị đồng đạo mệnh chung được Thế Tôn tuyên bố an trú chánh trí, hoặc Bất lai, Nhất lai, Dự lưu; nhớ đến lòng tin, giới hạnh, đa văn, bố thí, trí tuệ của vị ấy mà chú tâm, nên được sống lạc trú.
  • 10. Kết luận và hoan hỷ tín thọ — Thế Tôn lặp lại mục đích chân thật của việc tuyên bố ấy; Tôn giả Anuruddha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy (MN 68.24).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 68.1 (SC 1)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu viharati naḷakapāne palāsavane.
Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kosala (Câu-tát-la) tại Nalakapana, rừng cây Palasa.
So I have heard. At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans near Naḷakapāna in the grove of flame-of-the-forest trees.
MN 68.4 (SC 10–11)
“kacci tumhe, anuruddhā, abhiratā brahmacariye”ti? “Taggha mayaṁ, bhante, abhiratā brahmacariye”ti.
—Này các Anuruddha, các Ông có hoan hỷ trong phạm hạnh không?
—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con hoan hỷ trong Phạm hạnh.
“Anuruddha and friends, I hope you’re satisfied with the spiritual life?” “Indeed, sir, we are satisfied with the spiritual life.”
MN 68.5 (SC 12)
Te ca kho pana tumhe, anuruddhā, neva rājābhinītā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, na corābhinītā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, na iṇaṭṭā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, na bhayaṭṭā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā, nājīvikāpakatā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā. Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto; appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti—nanu tumhe, anuruddhā, evaṁ saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajitā”ti?
Này các Anuruddha, các Ông không vì mệnh lệnh của vua mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Ông không vì mệnh lệnh của kẻ ăn trộm mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Các Ông không vì nợ nần, không vì sợ hãi, không vì mất nghề sinh sống mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Nhưng có phải với tư tưởng như sau: “Ta bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, não áp bức, bị khổ áp bức, bị khổ chi phối. Tuy vậy, ta mong có thể thấy được sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này” mà các Ông, này các Anuruddha, vì lòng tin, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?
But you didn’t go forth to escape a summons by a king or a summons for a bandit, or because you were in debt or in fear, or in order to make a living. Rather, didn’t you go forth thinking: ‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering. Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering’?”
MN 68.6 (SC 14)
Vivekaṁ, anuruddhā, kāmehi vivekaṁ akusalehi dhammehi pītisukhaṁ adhigacchati aññaṁ vā tato santataraṁ, tassa abhijjhāpi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, byāpādopi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, thinamiddhampi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, uddhaccakukkuccampi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, vicikicchāpi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, aratīpi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati, tandīpi cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Này các Anuruddha, ly dục, ly bất thiện pháp, vị ấy chứng được hỷ lạc hay một trạng thái khác an tịnh hơn, thời dục tham không xâm chiếm tâm và an trú, sân không xâm chiếm tâm và an trú, hôn trầm thụy miên … trạo cử hối quá … nghi hoặc … bất lạc … giải đãi không xâm chiếm tâm và an trú.
Take someone who does achieve the rapture and bliss that are secluded from sensual pleasures and unskillful qualities, or something even more peaceful than that. Their mind is not occupied by desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, doubt, discontent, and sloth.
MN 68.7 (SC 17)
Seyyathāpi, anuruddhā, tālo matthakacchinno abhabbo punavirūḷhiyā; evameva kho, anuruddhā, tathāgatassa ye āsavā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā, pahīnā te ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā;
Ví như, này các Anuruddha, cây tala đầu cây đã bị chặt đứt, không thể lớn lên nữa, cũng vậy này các Anuruddha, các lậu hoặc liên hệ đến phiền não … đã được Như Lai đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây tala không thể sanh lại, không thể sanh khởi trong tương lai.
Just as a palm tree with its crown cut off is incapable of further growth, in the same way, the Realized One has given up the defilements so they are unable to arise in the future.
MN 68.8 (SC 19)
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp dựa Thế Tôn làm căn bản, hướng Thế Tôn làm lãnh đạo, nương tựa Thế Tôn làm y cứ. Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn thuyết giảng cho ý nghĩa này. Sau khi được nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
MN 68.9 (SC 20)
“Na kho, anuruddhā, tathāgato janakuhanatthaṁ na janalapanatthaṁ na lābhasakkārasilokānisaṁsatthaṁ na ‘iti maṁ jano jānātū’ti sāvake abbhatīte kālaṅkate upapattīsu byākaroti: ‘asu amutra upapanno, asu amutra upapanno’ti. Santi ca kho, anuruddhā, kulaputtā saddhā uḷāravedā uḷārapāmojjā. Te taṁ sutvā tadatthāya cittaṁ upasaṁharanti. Tesaṁ taṁ, anuruddhā, hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Này các Anuruddha, Như Lai không vì mục đích lường gạt quần chúng, không vì mục đích nịnh hót quần chúng, không vì mục đích lợi lộc, trọng vọng, danh xưng, quyền lợi vật chất, không vì với ý nghĩ: Như vậy quần chúng sẽ biết Ta”; mà Như Lai giải thích sự tái sanh các vị đệ tử đã từ trần đã mệnh chung, nói rằng: “Vị này tái sanh ở chỗ này, vị này tái sanh ở chỗ này”. Và này các Anuruddha, có những Thiện gia nam tử có tin tưởng với tín thọ cao thượng, với hoan hỷ cao thượng, sau khi được nghe như vậy, sẽ chú tâm trên như thật (Tathata). Như vậy, này các Anuruddha, là hạnh phúc, là an lạc lâu đời cho các vị ấy.
“The Realized One does not declare such things for the sake of fawning or flattering people, nor for the benefit of possessions, honor, or popularity, nor thinking, ‘So let people know about me!’ Rather, there are gentlemen of faith who are full of sublime joy and gladness. When they hear that, they apply their minds to that end. That is for their lasting welfare and happiness.
MN 68.10 (SC 21)
So tassa saddhañca sīlañca sutañca cāgañca paññañca anussaranto tadatthāya cittaṁ upasaṁharati. Evampi kho, anuruddhā, bhikkhuno phāsuvihāro hoti.
Tỷ-kheo khi nhớ đến lòng tin, giới hạnh, đa văn, bố thí và trí tuệ của vị kia, bèn chú tâm trên như thật. Như vậy, này các Anuruddha, Tỷ-kheo được sống lạc trú.
Recollecting that monk’s faith, ethics, learning, generosity, and wisdom, he applies his mind to that end. That’s how a monk lives at ease.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
brahmacariyaPhạm hạnh — đời sống thanh tịnh của người tuBản Minh Châu dịch "Phạm hạnh"; Sujato: "the spiritual life".
kulaputtaThiện gia nam tử — người con nhà lành
saddhāLòng tinTrong kinh này là động cơ xuất gia: "vì lòng tin Thế Tôn".
pītisukhaHỷ lạcDo ly dục, ly bất thiện pháp (viveka) mà chứng được.
vivekaLy, viễn ly, sống tách khỏi dục và bất thiện pháp
abhijjhā, byāpāda, thinamiddha, uddhaccakukkucca, vicikicchāDục tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi hoặc — năm triền cáiKinh này thêm arati (bất lạc) và tandī (giải đãi).
āsavaLậu hoặcLậu hoặc của Như Lai đã đoạn tận, "cắt tận gốc rễ" (ucchinnamūla).
tālāvatthukataLàm cho như thân cây tala (bị chặt đầu) không thể sanh lạiHình ảnh ví dụ quen thuộc trong Nikāya.
saṁyojanaKiết sử — dây trói buộcNăm hạ phần kiết sử (orambhāgiya); ba kiết sử đầu.
sotāpannaDự lưu — không còn bị đọa lạc, chắc chắn chứng được chánh giác
sakadāgāmīNhất lai — chỉ trở lui đời này một lần nữa rồi diệt tận khổ đauDo diệt ba kiết sử và làm nhẹ bớt tham, sân, si.
opapātika / anāvattidhammaHóa sanh, nhập Niết-bàn tại chỗ ấy, không còn trở lui đời này (quả Bất lai)
aññāya saṇṭhahiAn trú chánh trí (tức đã chứng A-la-hán)Sujato: "he was enlightened".
phāsuvihāraLạc trú — sống an lạc, thoải máiCụm kết thúc lặp lại cho cả bốn chúng.
upāsaka / upāsikāNam cư sĩ / nữ cư sĩ

Chi tiết mở đầu rất đáng chú ý: ba lần im lặng. Thế Tôn hỏi ba lần, ba lần đại chúng không ai trả lời. Ngài phải hỏi thẳng tên một người.

Và Tôn giả Anuruddha đáp rất gọn. "Thật sự chúng con hoan hỷ trong Phạm hạnh."

Từ đó Thế Tôn dạy phần thứ nhất: hãy nhớ lại vì sao mình đi tu. Và Ngài kể ra những lý do KHÔNG phải.

Danh sách ấy rất thực tế. Các vị không vì mệnh lệnh của vua, không vì kẻ trộm, không vì nợ nần, không vì sợ hãi, không vì mất nghề sinh sống mà xuất gia.

Xin để ý: đó là năm lý do người ta thật sự đi tu thời ấy. Kinh không nói bóng gió. Còn các vị này thì đang tuổi thanh xuân, tóc còn đen nhánh, có thể hưởng thụ dục lạc.

Lý do thật là: thấy mình bị sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, não áp bức, và mong chấm dứt toàn bộ khổ uẩn.

Rồi tới câu hỏi thứ hai, và đây là chỗ thiết thực nhất bài kinh. Đã xuất gia như vậy thì phải làm gì? — Phải ly dục, ly bất thiện pháp mà chứng cho được HỶ LẠC, hoặc một trạng thái an tịnh hơn.

Và lý do thì rất đáng sợ. Vì nếu không có niềm vui trong đạo, thì tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi, bất lạc, giải đãi sẽ xâm chiếm tâm và an trú ở đó.

Đây là câu nên dán ở đoàn quán. Chỗ trống trong tâm không ở trống được lâu. Không có niềm vui chân chánh thì cái khác sẽ lấp vào.

Phần sau nói về Như Lai. Các lậu hoặc của Ngài đã đoạn tận, cắt tận gốc rễ — như cây tāla bị chặt đầu, không thể sanh trưởng lại. Và xin đừng bỏ mệnh đề đi liền sau đó: "Do vậy, Như Lai sau khi suy tư phân tích, thọ dụng một pháp… nhẫn thọ… từ bỏ… đoạn trừ một pháp."

Rồi tới câu hỏi hay nhất: vì mục đích gì Như Lai tuyên bố chỗ tái sanh của các đệ tử đã khuất? Không phải để lường gạt, nịnh hót, cầu lợi lộc, danh xưng; không phải vì muốn "quần chúng sẽ biết Ta".

Lý do thật rất ấm áp.có những người con lành có lòng tin, nghe vậy sẽ hoan hỷ, sẽ noi gương mà chú tâm tu tậpđưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài.

Một chi tiết xin ghi cho đúng. Kinh kể theo bốn chúng, nhưng không cùng số quả vị: với Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni thì có quả A-la-hán; còn với nam nữ cư sĩ thì chỉ nêu ba quả — Bất lai, Nhất lai, Dự lưu. Bản nháp của chúng tôi gộp chung; lượt soi lại đã sửa.

  • "Tu là phải khổ." Kinh đòi phải chứng cho được hỷ lạc.
  • "Nói chỗ tái sanh là để khoe." Kinh bác đủ bốn động cơ xấu.
  • "Cư sĩ cũng chứng A-la-hán trong bài này." Kinh chỉ nêu ba quả cho cư sĩ.
  • Ngành Oanh. Hỏi: đi sinh hoạt đoàn em có vui không? Vui vì điều gì?
  • Ngành Thiếu. Hỏi: nếu không thấy vui thì cái gì sẽ lấp vào chỗ ấy?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đoạn về vì sao xuất gia rất hợp giảng cho Huynh trưởng; đoạn nhắc noi gương người đã khuất rất hợp lễ tưởng niệm.
  • Vì sao đại chúng im lặng ba lần?
  • Năm lý do KHÔNG phải là gì?
  • Vì sao đời tu phải có hỷ lạc?
  • Vì sao Như Lai tuyên bố chỗ tái sanh của đệ tử?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.