G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 65
Ba Tháng Không Dám Gặp Thầy · Rồi Đến Sám Hối

Kinh Bhaddāli

Bhaddāli Sutta — MN 65 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Bhaddāli

Tôn giả Bhaddāli công khai thưa rằng mình không kham nổi một học giới. Rồi suốt ba tháng không dám gặp Thế Tôn. Khi nghe tin Ngài sắp du hành, Tôn giả mới đến phát lộ lỗi lầm.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 65
  • Nơi chốn — Sāvatthi, Jetavana
  • Học giớiekāsanabhojana, ăn chỉ ngồi một lần trong ngày
  • Kết bài — ví dụ con lương mãmười pháp vô học

Kinh Bhaddàli là bài kinh về sự sám hối và về ý nghĩa của giới luật. Mở đầu, Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo hạnh ăn chỉ ngồi một lần trong ngày, vì nhờ đó mà "ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú". Tôn giả Bhaddāli công khai thưa rằng mình không thể thực hành, dù Thế Tôn đã hạ thấp yêu cầu (ăn một phần tại chỗ, đem một phần về ăn sau). Vì đã tuyên bố sự bất lực ngay lúc chúng Tăng đang thọ trì học giới, Tôn giả suốt ba tháng không dám gặp Thế Tôn. Khi các Tỷ-kheo báo tin Thế Tôn sắp du hành và khuyên "chớ để về sau lại càng khó khăn hơn", Tôn giả liền đến phát lộ lỗi lầm. Thế Tôn không vội tha, mà lần lượt chỉ cho Tôn giả thấy trong suốt ba tháng ấy Tôn giả đã không hề ý thức được rằng Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ, cả các Sa-môn Bà-la-môn ngoại đạo đều biết có một Tỷ-kheo "không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư". Ngài hỏi lúc ấy Tôn giả có phải là bậc câu phần giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng, kiến chí, tín thắng giải, tùy pháp hành hay tùy tín hành không — không phải gì cả, chỉ là "trống không, rỗng không, phạm lỗi". Rồi Ngài chấp nhận sự sám hối, và nêu nguyên tắc lớn: thấy lỗi là lỗi, như pháp phát lộ và phòng hộ trong tương lai, đó chính là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc Thánh. Tiếp đó Thế Tôn dạy: người không thực hành trọn vẹn học giới, dù có vào rừng sống viễn ly cũng bị Ðạo Sư, bạn đồng Phạm hạnh, chư Thiên và chính mình quở trách, nên không chứng được pháp thượng nhân; ngược lại, người thực hành trọn vẹn thì chứng bốn Thiền và ba minh. Bhaddāli hỏi vì sao chúng Tăng khi thì kết tội mãi, khi thì không — Thế Tôn phân tích theo thái độ của người phạm lỗi, và nêu ví dụ người chột mắt được bà con che chở con mắt còn lại, chỉ cho lòng từ đối với vị còn ít lòng tin, ít lòng thương. Cuối cùng, Ngài giải thích vì sao xưa ít học giới mà nhiều vị ngộ nhập chánh trí, nay nhiều học giới mà ít vị chứng đắc, rồi giảng ví dụ con lương mã hiền thiện được điều mã sư huấn luyện từng bước, ví với Tỷ-kheo thành tựu mười pháp vô học, trở thành phước điền vô thượng ở đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: hạnh ăn chỉ ngồi một lần — Tại Sāvatthi, Thế Tôn dạy chúng Tỷ-kheo hạnh ăn chỉ ngồi một lần (ekāsanabhojana), đem lại ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú (SC 1–3).
  • 2. Bhaddāli tuyên bố sự bất lực — Tôn giả Bhaddāli thưa không thể ăn chỉ ngồi một lần, cũng không thể ăn theo cách Thế Tôn cho phép nhẹ hơn; rồi ba tháng tròn không diện kiến Thế Tôn (SC 4–8).
  • 3. Các Tỷ-kheo nhắc nhở và Bhaddāli đến phát lộ lỗi lầm — Nhân việc làm y cho Thế Tôn và tin Thế Tôn sắp du hành, các Tỷ-kheo khuyên Tôn giả khéo tư niệm; Tôn giả đến sám hối lỗi lầm (SC 9–12).
  • 4. Thế Tôn chỉ rõ sự không ý thức của Bhaddāli — Thế Tôn nêu từng trường hợp Tôn giả đã không ý thức: Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ, các Sa-môn Bà-la-môn ngoại đạo đều sẽ biết vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới (SC 13–19).
  • 5. Ví dụ làm cầu qua đám bùn và sự chấp nhận sám hối — Thế Tôn hỏi về bảy hạng: câu phần giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng, kiến chí, tín thắng giải, tùy pháp hành, tùy tín hành; Bhaddāli nhận mình lúc ấy trống không, rỗng không, phạm lỗi. Thế Tôn chấp nhận lỗi và dạy: thấy lỗi là lỗi, như pháp phát lộ, phòng hộ tương lai là sự lớn mạnh trong giới luật bậc Thánh (SC 20–28).
  • 6. Thực hành trọn vẹn hay không trọn vẹn học giới: kết quả tu chứng — Vị không thực hành trọn vẹn thì dù sống viễn ly vẫn bị quở trách và không chứng thượng nhân pháp; vị thực hành trọn vẹn thì chứng bốn Thiền, túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh (SC 29–34).
  • 7. Vì sao chúng Tăng khi thì luôn kết tội, khi thì không — Phân tích bốn trường hợp theo mức độ phạm giới và thái độ khi bị nói; kèm ví dụ người chột mắt được che chở con mắt còn lại, chỉ vị còn ít lòng tin, ít lòng thương (SC 35–42).
  • 8. Xưa ít học giới nhiều vị chứng đắc, nay nhiều học giới ít vị chứng đắc — Thế Tôn dạy khi hữu tình thối thất, diệu pháp diệt mất thì học giới nhiều hơn; bậc Ðạo Sư chỉ chế định học giới khi các pháp hữu lậu hiện khởi trong Tăng chúng đã lớn mạnh, đạt lợi dưỡng, danh xưng, đa văn, địa vị kỳ cựu (SC 43–44).
  • 9. Ví dụ con lương mã hiền thiện và mười pháp vô học — Thế Tôn nhắc pháp môn ví dụ lương chủng mã mà Bhaddāli không nhớ, rồi giảng lại: điều mã sư huấn luyện ngựa từng bước cho quen dây cương, yên ngựa, diễn hành...; cũng vậy Tỷ-kheo thành tựu mười pháp vô học (chánh tri kiến cho đến chánh giải thoát) là phước điền vô thượng ở đời. Kết kinh: Tôn giả Bhaddāli hoan hỷ tín thọ (SC 45–56).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 3 (mn65:2.1–2.3)
“Ahaṁ kho, bhikkhave, ekāsanabhojanaṁ bhuñjāmi; ekāsanabhojanaṁ kho, ahaṁ, bhikkhave, bhuñjamāno appābādhatañca sañjānāmi appātaṅkatañca lahuṭṭhānañca balañca phāsuvihārañca. Etha, tumhepi, bhikkhave, ekāsanabhojanaṁ bhuñjatha;
—Này các Tỷ-kheo, Ta ăn chỉ ngồi một lần (Ekasanabhojana). Này các Tỷ-kheo, do Ta ăn chỉ ngồi một lần, Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú. Này các Tỷ-kheo, hãy ăn chỉ ngồi một lần.
“Mendicants, I eat my food in one sitting per day. Doing so, I find that I’m healthy and well, nimble, strong, and living comfortably. You too should eat your food in one sitting per day.
SC 5 (mn65:3.2–3.3)
“ahaṁ kho, bhante, na ussahāmi ekāsanabhojanaṁ bhuñjituṁ; ekāsanabhojanañhi me, bhante, bhuñjato siyā kukkuccaṁ, siyā vippaṭisāro”ti.
—Bạch Thế Tôn, con không có thể ăn chỉ ngồi một lần. Bạch Thế Tôn, nếu con ăn chỉ ngồi một lần, thời con cảm thấy như là hối tiếc, như là hối hận.
“Sir, I’m not going to attempt to eat my food in one sitting per day. For when eating once a day I might feel remorse and regret.”
SC 12 (mn65:7.2)
“accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ bhagavatā sikkhāpade paññāpiyamāne bhikkhusaṅghe sikkhaṁ samādiyamāne anussāhaṁ pavedesiṁ.
—Bạch Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, thật là ngu ngốc, thật là si mê, thật là bất thiện. Trong khi chúng Tỷ-kheo chấp hành học giới đã được Thế Tôn chế định, con đã tuyên bố sự bất lực của con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm này là một lỗi lầm để có thể phòng hộ trong tương lai.
“I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me that, as this rule was being laid down by the Buddha and the Saṅgha was undertaking it, I announced I would not attempt to keep it.
SC 28 (mn65:13.5–13.6)
Yato ca kho tvaṁ, bhaddāli, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma. Vuddhihesā, bhaddāli, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjati.
Này Bhaddali, nếu Ông sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, và như pháp phát lộ, chúng ta sẽ chấp nhận cho Ông. Vì rằng, này Bhaddali, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc Thánh, nghĩa là bất cứ ai, sau khi thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, phải như pháp phát lộ và phòng hộ trong tương lai.
But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it. For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.
SC 31 (mn65:16.1, 16.3)
So vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Taṁ kissa hetu? Evañhi taṁ, bhaddāli, hoti yathā taṁ satthusāsane sikkhāya paripūrakārissa.
Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vì sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bhaddali, là vì vị ấy thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Why is that? Because that’s what happens when someone fulfills the training according to the Teacher’s instructions.
SC 41 (mn65:28.1–28.2)
Seyyathāpi, bhaddāli, purisassa ekaṁ cakkhuṁ, tassa mittāmaccā ñātisālohitā taṁ ekaṁ cakkhuṁ rakkheyyuṁ: ‘mā yampissa taṁ ekaṁ cakkhuṁ tamhāpi parihāyī’ti;
Ví như, này Bhaddali, một người chỉ có một mắt, các thân hữu bà con huyết thống bảo vệ con mắt còn lại ấy và suy nghĩ như sau: “Chớ để cho con mắt còn lại này bị đoạn diệt”.
Suppose there was a person with one eye. Their friends and colleagues, relatives and kin would protect that one eye: ‘Let them not lose the one eye that they have!’
SC 43–44 (mn65:29.1–29.2, 30.1)
“Ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo yena pubbe appatarāni ceva sikkhāpadāni ahesuṁ bahutarā ca bhikkhū aññāya saṇṭhahiṁsu? Ko pana, bhante, hetu, ko paccayo yena etarahi bahutarāni ceva sikkhāpadāni honti appatarā ca bhikkhū aññāya saṇṭhahantī”ti? “Evametaṁ, bhaddāli, hoti sattesu hāyamānesu, saddhamme antaradhāyamāne, bahutarāni ceva sikkhāpadāni honti appatarā ca bhikkhū aññāya saṇṭhahantīti.
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, lúc xưa các học giới tuy ít hơn, nhưng các Tỷ-kheo đã ngộ nhập chánh trí nhiều hơn. Bạch Thế Tôn, lại do nhân gì, do duyên gì, ngày nay các học giới nhiều hơn, nhưng các Tỷ-kheo ngộ nhập chánh trí ít hơn? —Này Bhaddali, khi các loài hữu tình bị thối thất, khi diệu pháp bị diệt mất, thời các học giới có nhiều hơn và các vị Tỷ-kheo ngộ nhập chánh trí ít hơn.
“What is the cause, sir, what is the reason why there used to be fewer training rules but more enlightened mendicants? And what is the cause, what is the reason why these days there are more training rules and fewer enlightened mendicants?” “That’s how it is, Bhaddāli. When sentient beings are in decline and the true teaching is disappearing there are more training rules and fewer enlightened mendicants.
SC 55 (mn65:34.1, 34.3)
Evameva kho, bhaddāli, dasahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi dasahi? Idha, bhaddāli, bhikkhu asekhāya sammādiṭṭhiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsaṅkappena samannāgato hoti, asekhāya sammāvācāya samannāgato hoti, asekhena sammākammantena samannāgato hoti, asekhena sammāājīvena samannāgato hoti, asekhena sammāvāyāmena samannāgato hoti, asekhāya sammāsatiyā samannāgato hoti, asekhena sammāsamādhinā samannāgato hoti, asekhena sammāñāṇena samannāgato hoti, asekhāya sammāvimuttiyā samannāgato hoti—
Cũng vậy, này Bhaddali, một Tỷ-kheo thành tựu được mười pháp trở thành đáng được kính trọng, đáng được tôn kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là mười? Ở đây, này Bhaddali, Tỷ-kheo thành tựu vô học chánh tri kiến, thành tựu vô học chánh tư duy, thành tựu vô học chánh ngữ, thành tựu vô học chánh nghiệp, thành tựu vô học chánh mạng, thành tựu vô học chánh tinh tấn, thành tựu vô học chánh niệm, thành tựu vô học chánh định, thành tựu vô học chánh trí, thành tựu vô học chánh giải thoát.
In the same way, a mendicant with ten qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What ten? It’s when a mendicant has an adept’s right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right immersion, right knowledge, and right freedom.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ekāsanabhojanaăn chỉ ngồi một lần (trong ngày)Bản Việt HT. Thích Minh Châu giữ nguyên chữ Pāli trong ngoặc ở SC 3.
sikkhāpadahọc giới, điều học được chế định
accayalỗi lầm
paṭikaroti (yathādhammaṁ paṭikaroti)như pháp phát lộ, sám hối đúng pháp
saṁvara (āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjati)phòng hộ trong tương lai
ariyassa vinaye vuddhisự lớn mạnh trong giới luật của bậc Thánh
ubhatobhāgavimuttacâu phần giải thoátMột trong bảy hạng người nêu ở SC 20–24 của bản Việt.
paññāvimuttatuệ giải thoát
kāyasakkhīthân chứng
diṭṭhippattakiến chí
saddhāvimuttatín thắng giải
dhammānusārītùy pháp hành
saddhānusārītùy tín hành
satthusāsane sikkhāya paripūrakārīthực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư
āsavaṭṭhānīyā dhammācác pháp hữu lậu (những pháp làm chỗ cho lậu hoặc sanh khởi)
saddhamma antaradhānadiệu pháp bị diệt mất
ājānīyasusūpamaví dụ con lương mã hiền thiện (ngựa thuần chủng non)
asekhavô học (bậc đã hoàn tất sự học, tức A-la-hán)
anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassaphước điền vô thượng ở đời

Bài kinh bắt đầu bằng một lời từ chối rất thật. Thế Tôn dạy hạnh ăn chỉ ngồi một lần, vì nhờ đó mà "ít bệnh, ít não, nhẹ nhàng, có sức và lạc trú". Tôn giả Bhaddāli thưa thẳng: con không thể.

Lý do ông nêu cũng rất thật. "Nếu con ăn chỉ ngồi một lần, thời con cảm thấy như là hối tiếc, như là hối hận." Ông không viện cớ bệnh — ông nói đúng cái tâm mình.

Thế Tôn còn hạ thấp yêu cầu — cho ăn một phần tại chỗ, đem một phần về ăn sau. Ông vẫn không kham.

Và đây mới là chỗ bài kinh thật sự bắt đầu. Vì đã tuyên bố sự bất lực ngay lúc chúng Tăng đang thọ trì học giới, Tôn giả suốt ba tháng không dám gặp Thế Tôn.

Ai từng tránh mặt một người vì xấu hổ thì hiểu ngay ba tháng ấy. Càng để lâu càng khó gặp. Các Tỷ-kheo khuyên đúng câu ấy: "chớ để về sau lại càng khó khăn hơn".

Nhưng Thế Tôn không vội tha. Ngài lần lượt chỉ cho Tôn giả thấy suốt ba tháng ấy ông đã không hề ý thức rằng Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ, cả các Sa-môn Bà-la-môn ngoại đạotất cả đều biết có một Tỷ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới.

Rồi Ngài hỏi một chuỗi câu rất nặng. Lúc ấy ông có phải là bậc câu phần giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng, kiến chí, tín thắng giải, tùy pháp hành hay tùy tín hành không? Không phải gì cả — chỉ là "trống không, rỗng không, phạm lỗi".

Sau đó Ngài mới chấp nhận sám hối, và nêu nguyên tắc lớn. Thấy lỗi là lỗi, như pháp phát lộ, và phòng hộ trong tương laiđó chính là sự lớn mạnh trong giới luật của bậc Thánh.

Xin để ý: "lớn mạnh" chứ không phải "được tha". Sám hối trong đạo Phật không phải xin xoá tội — mà là một bước tiến.

Phần giữa bài có một ví dụ rất từ bi. Người chột mắt được bà con hết lòng che chở con mắt còn lại. Cũng vậy, với vị còn ít lòng tin, ít lòng thương, chúng Tăng phải giữ gìn chút ít còn lại ấy, đừng nói mãi kẻo mất luôn.

Và phần cuối trả lời một câu hỏi nhiều người thắc mắc. Vì sao xưa ít học giới mà nhiều vị ngộ nhập chánh trí, nay nhiều học giới mà ít vị chứng đắc?

Câu trả lời rất thẳng. Bậc Đạo Sư chỉ chế định học giới KHI các pháp hữu lậu đã hiện khởi trong Tăng chúng — khi chúng đã lớn mạnh, đạt lợi dưỡng, danh xưng, đa văn, địa vị kỳ cựu. Giới luật nhiều lên là dấu hiệu của bệnh, không phải của sức khoẻ.

  • "Nhiều giới luật là đạo hưng thịnh." Kinh nói ngược lại.
  • "Sám hối là xin xoá tội." Kinh gọi đó là sự lớn mạnh.
  • "Tránh mặt cho êm chuyện." Ba tháng ấy làm mọi việc khó hơn.
  • Ngành Oanh. Hỏi: lỡ làm sai thì nên nói ngay hay trốn?
  • Ngành Thiếu. Kể ví dụ người chột mắt — cách đối xử với người còn yếu.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc đoạn vì sao học giới ngày càng nhiều — rất đáng suy nghĩ.
  • Vì sao Tôn giả tránh mặt ba tháng?
  • Nguyên tắc sám hối gồm mấy bước?
  • Ví dụ người chột mắt dạy điều gì?
  • Vì sao học giới ngày càng nhiều?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.