G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 64
Năm Hạ Phần Kiết Sử · Ví Dụ Đứa Con Nít

Đại Kinh Māluṅkya

Mahāmāluṅkya Sutta — MN 64 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Māluṅkya

Năm hạ phần kiết sử — thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Tôn giả Māluṅkyaputta kể đủ năm, mà vẫn bị Thế Tôn quở. Vì sao? Vì ví dụ đứa con nít.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 64
  • Nơi chốn — Sāvatthi, Jetavana
  • Chữ khoáanusaya: tùy miên, khuynh hướng ngủ ngầm
  • Người thỉnh pháp — Tôn giả Ānanda

Ðại kinh Màlunkyà (MN 64) bàn về NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ — năm sợi dây trói buộc chúng sinh vào cõi dục: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân. Mở đầu, Thế Tôn hỏi các Tỷ-kheo có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Ngài giảng dạy không. Tôn giả Malunkyaputta thưa rằng có, rồi kể ra đủ năm điều. Nhưng Thế Tôn quở: hiểu như vậy thì các tu sĩ ngoại đạo sẽ cật vấn bằng "ví dụ về đứa con nít". Một đứa bé còn nằm ngửa chưa có khái niệm về tự thân, về các pháp, về giới, về dục, về loài hữu tình — vậy nơi nó đâu có thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân đang hiện khởi? Thế nhưng TÙY MIÊN (anusaya, khuynh hướng ngủ ngầm) của các kiết sử ấy vẫn "sống tiềm tàng" trong nó. Ý nghĩa rất quan trọng cho người tu: kiết sử không chỉ là điều đang khởi lên trong tâm lúc này, mà còn là gốc rễ ngủ ngầm; chỉ khi nhổ luôn cả tùy miên mới thật sự đoạn trừ. Kế đó, theo lời thỉnh cầu của Tôn giả Ānanda, Thế Tôn phân biệt kẻ vô văn phàm phu — sống với tâm bị kiết sử triền phược, không như thật tuệ tri sự xuất ly, nên kiết sử trở nên kiên cố — với vị Ða văn Thánh đệ tử: tâm không bị triền phược, như thật tuệ tri sự xuất ly, nên kiết sử "với tùy miên được đoạn trừ". Thế Tôn dạy tiếp bằng hai ví dụ. Ví dụ cây có lõi: không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây thì không thể đẽo được lõi — cũng vậy, không thực hành con đường thì không thể biết rõ, thấy rõ, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Ví dụ sông Hằng nước đầy tràn: người ốm yếu không lội qua được, còn người lực sĩ thì qua được bờ bên kia an toàn — người nghe pháp mà tâm không thích thú, không hoan hỷ thì như người ốm yếu; tâm thích thú, hoan hỷ, định tĩnh, giải thoát thì như người lực sĩ. Sau cùng là con đường thực hành: Tỷ-kheo chứng và trú Thiền thứ nhất cho đến Thiền thứ tư, rồi Hư không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ; trong mỗi trú xứ ấy vị này chánh quán các uẩn là vô thường — xin lưu ý: ở bốn Thiền sắc giới thì Pāli nêu đủ NĂM uẩn (có rūpagataṁ), còn ở ba Vô sắc xứ (Hư không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ) thì Pāli chỉ nêu BỐN uẩn, BỎ sắc (mn64:13.2, 14.2, 15.2); bản Việt do rút gọn nên vẫn lặp chữ “sắc pháp”. Các uẩn ấy là vô thường, khổ, như bệnh, như mũi tên… là không, là vô ngã; giải thoát tâm khỏi các pháp ấy rồi tập trung tâm vào bất tử giới (amatadhātu). Nếu an trú vững chắc thì đoạn tận lậu hoặc; nếu chưa, thì CHÍNH DO SỰ THAM PHÁP, HỶ PHÁP CỦA MÌNH (Pāli mn64:9.8 teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā) mà vị ấy chưa đoạn tận lậu hoặc — nhưng do đoạn tận năm hạ phần kiết sử nên được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không trở lui đời này nữa. Ānanda hỏi vì sao có vị chứng tâm giải thoát, có vị chứng tuệ giải thoát; Thế Tôn đáp: do sự sai khác về căn tánh.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Jetavana — Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika, gọi các Tỷ-kheo và hỏi: các Ông có thọ trì năm hạ phần kiết sử do Ta giảng dạy không? (SC 1-3 / mn64:1.1-2.1)
  • 2. Câu trả lời của Tôn giả Malunkyaputta — Tôn giả Malunkyaputta kể ra năm hạ phần kiết sử: thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. (SC 4-7 / mn64:2.2-2.10)
  • 3. Thế Tôn quở — ví dụ về đứa con nít và tùy miên — Đứa con nít nằm ngửa chưa có tự thân, các pháp, giới, dục, loài hữu tình — nhưng tùy miên của năm kiết sử vẫn sống tiềm tàng trong nó. (SC 8 / mn64:3.1-3.13)
  • 4. Tôn giả Ānanda thỉnh pháp — Ānanda thưa: nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết giảng năm hạ phần kiết sử; Thế Tôn nhận lời. (SC 9-13 / mn64:4.1-4.6)
  • 5. Kẻ vô văn phàm phu và vị Ða văn Thánh đệ tử — Phàm phu sống với tâm bị kiết sử triền phược, kiết sử trở nên kiên cố; Thánh đệ tử như thật tuệ tri sự xuất ly nên kiết sử với tùy miên được đoạn trừ. (SC 14-15 / mn64:5.1-6.15)
  • 6. Ví dụ cây có lõi — Không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây thì không đẽo được lõi cây; cũng vậy không thực hành con đường thì không thể đoạn trừ năm hạ phần kiết sử — và ngược lại. (SC 16-18 / mn64:6.16-8.2)
  • 7. Ví dụ sông Hằng: người ốm yếu và người lực sĩ — Người ốm yếu không lội qua được sông Hằng, người lực sĩ qua được — dụ cho tâm không thích thú và tâm thích thú khi nghe pháp đoạn trừ thân kiến. (SC 19-20 / mn64:8.3-8.14)
  • 8. Con đường đoạn trừ: bốn Thiền và ba vô sắc xứ — Từ Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư, rồi Hư không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ; trong mỗi trú xứ chánh quán năm uẩn là vô thường, khổ… là không, là vô ngã, rồi tập trung tâm vào bất tử giới. (SC 21-26 / mn64:9.1-15.5)
  • 9. Tâm giải thoát và tuệ giải thoát — kết kinh — Ānanda hỏi vì sao có vị chứng tâm giải thoát, có vị chứng tuệ giải thoát; Thế Tôn đáp: do sự sai khác về căn tánh. Ānanda hoan hỷ tín thọ. (SC 27-29 / mn64:16.1-16.4)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 7 / mn64:2.5-2.10
"Sakkāyadiṭṭhiṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi; vicikicchaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi; sīlabbataparāmāsaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi; kāmacchandaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi; byāpādaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavatā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ desitaṁ dhāremi. Evaṁ kho ahaṁ, bhante, dhāremi bhagavatā desitāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanānī"ti.
Bạch Thế Tôn, con thọ trì thân kiến là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn con thọ trì nghi là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì giới cấm thủ là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì dục tham là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Bạch Thế Tôn, con thọ trì sân là hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con thọ trì năm hạ phần kiết sử do Thế Tôn giảng dạy.
"I remember the lower fetters taught by the Buddha as follows: substantialist view, doubt, misapprehension of precepts and observances, sensual desire, and ill will. That's how I remember the five lower fetters taught by the Buddha."
SC 8 / mn64:3.3-3.4
Daharassa hi, mālukyaputta, kumārassa mandassa uttānaseyyakassa sakkāyotipi na hoti, kuto panassa uppajjissati sakkāyadiṭṭhi? Anusetvevassa sakkāyadiṭṭhānusayo.
Này Malunkyaputta, nếu một đứa con nít ngây thơ đang nằm ngủ không có tự thân, thời đâu nó có thể khởi lên thân kiến? Thân kiến tùy miên thật sự sống tiềm tàng trong nó.
For a little baby doesn't even have a concept of 'substantial reality', so how could substantialist view possibly arise in them? Yet the underlying tendency to substantialist view still lies within them.
SC 14 / mn64:5.2-5.4
sakkāyadiṭṭhipariyuṭṭhitena cetasā viharati sakkāyadiṭṭhiparetena; uppannāya ca sakkāyadiṭṭhiyā nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ nappajānāti. Tassa sā sakkāyadiṭṭhi thāmagatā appaṭivinītā orambhāgiyaṁ saṁyojanaṁ.
sống với tâm bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến, và không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử.
Their heart is overcome and mired in substantialist view, and they don't truly understand the escape from substantialist view that has arisen. That substantialist view is entrenched in them, not eliminated: it is a lower fetter.
SC 16 / mn64:6.16–6.18
Yo, ānanda, maggo yā paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya taṁ maggaṁ taṁ paṭipadaṁ anāgamma pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni ñassati vā dakkhati vā pajahissati vāti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Seyyathāpi, ānanda, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato tacaṁ acchetvā phegguṁ acchetvā sāracchedo bhavissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati;
Này Ānanda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử được biết rõ, hay được thấy rõ, hay được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này Ānanda, đối với một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, nếu người ấy không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây, nhưng vẫn có thể đẽo được lõi cây, sự tình này không xảy ra.
There is a path and a practice for giving up the five lower fetters. It's not possible to know or see or give up the five lower fetters without relying on that path and that practice. Suppose there was a large tree standing with heartwood. It's not possible to cut out the heartwood without having cut through the bark and the softwood.
SC 19 / mn64:8.3-8.8
Seyyathāpi, ānanda, gaṅgā nadī pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Atha dubbalako puriso āgaccheyya: 'ahaṁ imissā gaṅgāya nadiyā tiriyaṁ bāhāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gacchissāmī'ti; so na sakkuṇeyya gaṅgāya nadiyā tiriyaṁ bāhāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gantuṁ. Evameva kho, ānanda, yesaṁ kesañci sakkāyanirodhāya dhamme desiyamāne cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati; seyyathāpi so dubbalako puriso evamete daṭṭhabbā.
Này Ānanda, ví như sông Hằng, nước đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người ốm yếu đi đến và nghĩ như sau: "Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn". Nhưng người ấy không thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ānanda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy không thích thú, không hoan hỷ, không có định tĩnh, không có giải thoát, thời vị ấy cần phải được xem là giống người ốm yếu kia.
Suppose the Ganges River was full to the brim so a crow could drink from it. Then along comes a feeble person, who thinks: 'By swimming with my arms I'll safely cross over to the far shore of the Ganges.' But they're not able to do so. In the same way, when the Dhamma is being taught to them for the cessation of substantial reality, those whose mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided should be regarded as being like that feeble person.
SC 20 / mn64:8.9-8.14
Seyyathāpi, ānanda, gaṅgā nadī pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā. Atha balavā puriso āgaccheyya: 'ahaṁ imissā gaṅgāya nadiyā tiriyaṁ bāhāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gacchissāmī'ti; so sakkuṇeyya gaṅgāya nadiyā tiriyaṁ bāhāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gantuṁ. Evameva kho, ānanda, yesaṁ kesañci sakkāyanirodhāya dhamme desiyamāne cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati; seyyathāpi so balavā puriso evamete daṭṭhabbā.
Này Ānanda, ví như sông Hằng, nước lớn, đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người lực sĩ đi đến và nghĩ như sau: "Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn". Người ấy có thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ānanda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để được đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy thích thú, hoan hỷ, có định tĩnh, có giải thoát, thời vị ấy được xem là giống như người lực sĩ kia
Suppose the Ganges River was full to the brim so a crow could drink from it. Then along comes a strong person, who thinks: 'By swimming with my arms I'll safely cross over to the far shore of the Ganges.' And they are able to do so. In the same way, when the Dhamma is being taught to them for the cessation of substantial reality, those whose mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided should be regarded as being like that strong person.
SC 22 / mn64:9.3-9.6
So yadeva tattha hoti rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ te dhamme aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassati. So tehi dhammehi cittaṁ paṭivāpeti. So tehi dhammehi cittaṁ paṭivāpetvā amatāya dhātuyā cittaṁ upasaṁharati: 'etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan'ti.
Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: "Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn".
They contemplate the phenomena there—included in form, feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. They turn their mind away from those things, and apply it to the element free of death: 'This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.'
SC 27-28 / mn64:16.1-16.2
"Eso ce, bhante, maggo esā paṭipadā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya, atha kiñcarahi idhekacce bhikkhū cetovimuttino ekacce bhikkhū paññāvimuttino"ti? "Ettha kho panesāhaṁ, ānanda, indriyavemattataṁ vadāmī"ti.
—Bạch Thế Tôn, nếu đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử thời do hành trì như thế nào mà một số vị Tỷ-kheo chứng tâm giải thoát, một số chứng tuệ giải thoát? —Ở đây, này Ānanda, Ta nói rằng do sự sai khác về căn tánh.
"Sir, if this is the path and the practice for giving up the five lower fetters, how then are some mendicants here released in heart while others are released by wisdom?" "In that case, I say it is the disparity of their faculties."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pañca orambhāgiyāni saṁyojanāninăm hạ phần kiết sửNăm trói buộc thuộc phần dưới, cột chúng sinh vào cõi dục.
sakkāyadiṭṭhithân kiếnBản Sujato dịch "substantialist view".
vicikicchānghi (nghi hoặc)
sīlabbataparāmāsagiới cấm thủ
kāmacchanda / kāmarāgadục thamĐoạn SC 7 dùng kāmacchanda; các đoạn sau dùng kāmarāga.
byāpādasân
anusayatùy miênKhuynh hướng ngủ ngầm; kinh nói "thật sự sống tiềm tàng trong nó".
amatā dhātu (Amatadhatu)bất tử giới
upadhivivekaviễn ly các sanh y
āsavānaṁ khayađoạn tận các lậu hoặc
opapātikahóa sanhVị Bất lai hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không trở lui đời này.
cetovimutti / paññāvimuttitâm giải thoát / tuệ giải thoát
indriyavemattatāsự sai khác về căn tánh
nibbānaNiết-bàn

Tôn giả Māluṅkyaputta trả lời đúng cả năm — mà vẫn bị quở. Đó là chỗ làm bài kinh này đáng nhớ. Thuộc bài không phải là hiểu bài.

Lý do Thế Tôn nêu ra rất sắc. Hiểu như vậy thì các tu sĩ ngoại đạo sẽ cật vấn bằng "ví dụ về đứa con nít" — và ta sẽ không trả lời được.

Ví dụ ấy như sau. Một đứa bé còn nằm ngửa thì chưa có khái niệm về tự thân, về các pháp, về giới, về dục, về loài hữu tình. Vậy nơi nó đâu có thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân đang hiện khởi?

Nếu kiết sử chỉ là cái đang khởi lên trong tâm, thì đứa bé đã là bậc thánh. Rõ ràng không phải vậy.

Và đây là câu trả lời — chữ quan trọng nhất bài kinh. TÙY MIÊN (anusaya) của các kiết sử ấy vẫn "sống tiềm tàng" trong đứa bé. Ngủ, chứ không phải không có.

Ý nghĩa rất lớn cho người tu. Kiết sử không chỉ là điều đang khởi lên lúc này — nó còn là gốc rễ ngủ ngầm. Chỉ khi nhổ luôn cả tùy miên mới thật sự đoạn trừ.

Và điều này giải thích một chuyện ai cũng gặp. Có những lúc ta thấy tâm rất sạchkhông tham, không giận. Rồi gặp duyên thì nó về. Nó không đi đâu cả; nó ngủ.

Rồi Thế Tôn phân biệt hai hạng. Kẻ vô văn phàm phu sống với tâm bị kiết sử triền phược, không như thật tuệ tri sự xuất ly, nên kiết sử trở nên kiên cố. Vị Đa văn Thánh đệ tử thì ngược lại.

Ví dụ sông Hằng rất dễ nhớ. Người ốm yếu nhìn dòng nước thì không dám lội; người lực sĩ thì lội qua được. Cùng một dòng sông.

Con đường đoạn trừ được kể rất cụ thể. Chứng và trú bốn Thiền, rồi ba Vô sắc xứ; trong mỗi trú xứ chánh quán các uẩn là vô thường, khổ, như bệnh, như mũi tên… là không, là vô ngã; rồi tập trung tâm vào bất tử giới (amatadhātu).

Xin để ý một chi tiết dễ bỏ qua.bốn Thiền sắc giới, Pāli nêu đủ NĂM uẩn; nhưng ở ba Vô sắc xứ thì chỉ nêu BỐN uẩn, bỏ sắcvì ở đó không còn sắc để quán. Bản Việt do rút gọn nên vẫn lặp chữ "sắc pháp".

Và câu về người chưa đoạn tận hết cũng đáng chép lại. Vị ấy chính do sự THAM PHÁP, HỶ PHÁP của mình mà chưa đoạn tận lậu hoặc — nhưng do đoạn năm hạ phần kiết sử nên được hoá sanh, nhập Niết-bàn tại đấy. Ngay cả sự ưa thích Pháp cũng còn là một chỗ vướng.

  • "Thuộc năm kiết sử là hiểu." Tôn giả kể đúng cả năm mà vẫn bị quở.
  • "Đứa bé trong sạch nên không có kiết sử." Kinh nói tùy miên vẫn tiềm tàng.
  • "Lúc tâm không tham là đã hết tham." Nó ngủ, không mất.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ em bé nằm ngửa — dễ hiểu và gần gũi.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: hạt giống trong đất chưa mọc — có phải là không có không?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chữ tùy miên là chữ nên dạy kỹ, vì nó giải thích chuyện tái phạm.
  • Năm hạ phần kiết sử là gì?
  • Vì sao câu trả lời đúng vẫn bị quở?
  • Tùy miên nghĩa là gì?
  • Vì sao ở Vô sắc xứ chỉ quán bốn uẩn?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.