G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 53
Con Đường Của Người Còn Đang Học · Ví Dụ Trứng Gà

Kinh Hữu Học

Sekha Sutta — MN 53 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hữu Học

Thế Tôn thuyết pháp tới quá nửa đêm, rồi bảo Tôn giả Ānanda: "Hãy giảng hữu học đạo… Ta bị đau lưng. Ta sẽ nằm nghỉ." Rồi Ngài nằm dáng sư tử, chánh niệm tỉnh giác, còn Tôn giả Ānanda giảng tiếp.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 53
  • Nơi chốnKapilavatthu, ngôi giảng đường mới của dòng Sakya
  • Người giảng — Tôn giả Ānanda, theo lời Thế Tôn dạy
  • Người nghe — Sakya Mahānāma và các vị Sakya

Kinh Hữu Học (Sekhasutta) là bài kinh thứ 53 của Trung Bộ, được Tôn giả Ānanda thuyết theo lời Thế Tôn dạy, tại ngôi giảng đường mới của dòng họ Sakya ở Kapilavatthu. Sau khi Thế Tôn thuyết pháp cho các Sakya đến quá nửa đêm, Ngài bảo Tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, hãy giảng hữu học đạo cho các Sakya ở Kapilavatthu. Ta bị đau lưng. Ta sẽ nằm nghỉ." Rồi Thế Tôn nằm nghiêng bên hữu theo dáng nằm con sư tử, chánh niệm tỉnh giác. Tôn giả Ānanda giảng cho Sakya Mahānāma con đường của người còn đang học (hữu học), gồm sáu phần: (1) thành tựu giới hạnh — sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt; (2) hộ trì các căn — khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng… không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng; (3) tiết độ trong ăn uống — ăn không phải để vui đùa, đam mê, trang sức, mà chỉ để duy trì thân này hầu tu Phạm hạnh; (4) chú tâm cảnh giác — ban ngày và hai canh đầu, cuối của đêm gột sạch tâm khỏi các chướng ngại pháp; (5) thành tựu bảy diệu pháp — tín, tàm, quý, đa văn, tinh tấn, niệm, tuệ; (6) chứng đắc bốn Thiền không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức. Vị đệ tử như vậy được gọi là "đang đi trên con đường hữu học, có trứng không bị hư hoại", ví như tám, mười hay mười hai trứng gà được gà mái khéo ấp: dù gà mái không khởi ý mong cầu, gà con vẫn có thể phá vỏ trứng mà ra an toàn. Ba lần "phá vỡ vỏ trứng" là ba minh: túc mạng minh, thiên nhãn minh, và lậu tận minh. Sáu phần đầu thuộc hạnh đức (caraṇa), ba minh thuộc trí đức (vijjā); trọn vẹn cả hai gọi là minh hạnh cụ túc. Kinh kết bằng bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra: người minh hạnh cụ túc là tối thắng giữa chư Thiên và loài Người. Thế Tôn ngồi dậy tán thán: "Lành thay, lành thay, Ānanda!"

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: ngôi giảng đường mới ở Kapilavatthu — Các Sakya thỉnh Thế Tôn dùng giảng đường mới trước tiên; họ trải nệm, sắp chỗ ngồi, đặt ghè nước, treo đèn dầu. Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo Tăng đến, thuyết pháp quá nửa đêm (MN 53.1–4).
  • Thế Tôn giao cho Tôn giả Ānanda giảng hữu học đạo — Vì đau lưng, Thế Tôn nằm nghiêng bên hữu theo dáng nằm con sư tử, chánh niệm tỉnh giác; Tôn giả Ānanda nói với Sakya Mahānāma (MN 53.5–6).
  • Nêu tổng quát sáu phần của hữu học đạo — Vị Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh, hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, thành tựu bảy diệu pháp, hiện tại lạc trú bốn Thiền (MN 53.6).
  • Thành tựu giới hạnh (sīlasampanna) — Sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt (MN 53.7).
  • Hộ trì các căn (indriyesu guttadvāra) — Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp — không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng (MN 53.8).
  • Tiết độ trong ăn uống (bhojane mattaññū) — Chơn chánh giác sát, thọ dụng món ăn không phải để vui đùa, đam mê, trang sức, tự làm đẹp, mà chỉ để duy trì thân, chấp trì Phạm hạnh (MN 53.9).
  • Chú tâm cảnh giác (jāgariya) — Ban ngày và canh một, canh cuối của đêm: đi kinh hành và ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; canh giữa nằm dáng sư tử, chánh niệm tỉnh giác (MN 53.10).
  • Bảy diệu pháp (satta saddhammā) — Tín (lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai), tàm, quý, đa văn, tinh tấn, niệm, tuệ (MN 53.11–17).
  • Bốn Thiền, hiện tại lạc trú — Chứng và trú Sơ thiền cho đến Thiền thứ tư, thuộc tăng thượng tâm, chứng đắc không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức (MN 53.18).
  • Ví dụ trứng gà và người hữu học — Vị ấy được gọi là đang đi trên con đường hữu học, có trứng không bị hư hoại; ví như tám, mười hay mười hai trứng gà được gà mái khéo ấp, gà con có thể tự phá vỏ mà ra an toàn (MN 53.19).
  • Ba lần phá vỡ vỏ trứng — ba minh — Túc mạng minh (phá vỡ thứ nhất), thiên nhãn minh (thứ hai), lậu tận minh — vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (thứ ba) (MN 53.20–22).
  • Hạnh đức (caraṇa) và trí đức (vijjā) — minh hạnh cụ túc — Sáu phần trước thuộc hạnh đức, ba minh thuộc trí đức; đầy đủ cả hai gọi là minh hạnh cụ túc (MN 53.23–25).
  • Bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra và lời tán thán của Thế Tôn — Bài kệ về vị minh hạnh cụ túc tối thắng ở Nhơn Thiên, được Thế Tôn ấn khả; Thế Tôn ngồi dậy tán thán Tôn giả Ānanda (MN 53.25–26).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 53.5 (bản Việt: SC 7)
“paṭibhātu taṁ, ānanda, kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ sekho pāṭipado. Piṭṭhi me āgilāyati; tamahaṁ āyamissāmī”ti.
—Này Ānanda, hãy giảng hữu học đạo cho các Sakya ở Kapilavatthu. Ta bị đau lưng. Ta sẽ nằm nghỉ.
“Ānanda, speak about the practicing trainee to the Sakyans of Kapilavatthu as you feel inspired. My back is sore, I'll stretch it.”
MN 53.6 (bản Việt: SC 11)
“idha, mahānāma, ariyasāvako sīlasampanno hoti, indriyesu guttadvāro hoti, bhojane mattaññū hoti, jāgariyaṁ anuyutto hoti, sattahi saddhammehi samannāgato hoti, catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
—Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử, thành tựu giới hạnh, hộ trì các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, thành tựu bảy diệu pháp, hiện tại lạc trú bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, chứng đắc không khó khăn, chứng đắc không mệt nhọc, chứng đắc không phí sức.
“Mahānāma, a noble disciple is accomplished in ethics, guards the sense doors, eats in moderation, and is dedicated to wakefulness. They have seven good qualities, and they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
MN 53.8 (bản Việt: SC 13)
Idha, mahānāma, ariyasāvako cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn.
When a noble disciple sees a sight with their eyes, they don't get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.
MN 53.9 (bản Việt: SC 14)
‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya; yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử chơn chánh giác sát, thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn”.
‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
MN 53.10 (bản Việt: SC 15)
Idha, mahānāma, ariyasāvako divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti, rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti, rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeti, pāde pādaṁ accādhāya, sato sampajāno, uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
Ở đây, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh một, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp, ban đêm trong canh giữa, vị này nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại.
It's when a noble disciple practices walking and sitting meditation by day, purifying their mind from obstacles. In the first watch of the night, they continue to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, they lie down in the lion's posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.
MN 53.19 (bản Việt: SC 18–19)
Seyyathāpi, mahānāma, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā tānāssu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni sammā pariseditāni sammā paribhāvitāni, kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṁ icchā uppajjeyya: ‘aho vatime kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti, atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā … sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Này Mahānāma, ví như có tám, có mười hay có mười hai trứng gà, được gà mái khéo ấp ngồi, khéo ấp nóng, khéo ấp dưỡng; dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ý muốn: “Mong rằng, các con gà con của ta, sau khi phá vỡ vỏ trứng với móng chân, hay với mỏ của chúng, thoát ra ngoài một cách an toàn”. Những con gà con ấy, sau khi phá vỡ vỏ trứng với móng chân hay mỏ của chúng, có thể thoát ra ngoài một cách an toàn.
Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. And she properly sat on them to keep them warm and incubated. Even if that chicken doesn't wish, ‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’ Still they can break out and hatch safely.
MN 53.19 (bản Việt: SC 18)
ayaṁ vuccati, mahānāma, ariyasāvako sekho pāṭipado apuccaṇḍatāya samāpanno, bhabbo abhinibbhidāya, bhabbo sambodhāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
vị Thánh đệ tử ấy được gọi là đang đi trên con đường hữu học, có trứng không bị hư hoại, có khả năng phá vỡ, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các ách phược.
they are called a noble disciple who is a practicing trainee. Their eggs are unspoiled, and they are capable of breaking out of their shell, becoming awakened, and achieving the supreme sanctuary from the yoke.
MN 53.25 (bản Việt: SC 25–26)
Ayaṁ vuccati, mahānāma, ariyasāvako vijjāsampanno itipi caraṇasampanno itipi vijjācaraṇasampanno itipi. … ‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ, ye gottapaṭisārino; Vijjācaraṇasampanno, so seṭṭho devamānuse’ti.
Như vậy, này Mahānāma, vị Thánh đệ tử được gọi là minh cụ túc, hạnh cụ túc, minh hạnh cụ túc. […] Chúng sanh tin giai cấp / Vương tộc là tối thượng. / Vị minh hạnh cụ túc, / Tối thắng ở Nhơn Thiên.
This noble disciple is said to be ‘accomplished in knowledge’, and also ‘accomplished in conduct’, and also ‘accomplished in knowledge and conduct’. … ‘The aristocrat is best among people who take clan as the standard. But one accomplished in knowledge and conduct is best among gods and humans.’
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sekhahữu học — vị còn đang tu học, chưa phải bậc vô học (A-la-hán)Tên kinh Sekhasutta lấy từ chữ này; bản Việt dịch là “hữu học đạo” (sekho pāṭipado).
ariyasāvakavị Thánh đệ tử
sīlasampannathành tựu giới hạnh
Pātimokkhagiới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa
indriyesu guttadvārahộ trì các căn, gìn giữ cửa các giác quan
bhojane mattaññūbiết tiết độ trong ăn uống
jāgariyachú tâm cảnh giác, sự tỉnh thức (không ham ngủ)
satta saddhammābảy diệu pháp: tín, tàm, quý, đa văn, tinh tấn, niệm, tuệ
saddhālòng tin (tin ở sự giác ngộ của Như Lai)
hiritàm — tự xấu hổ với điều ác
ottappaquý — sợ hãi (ghê sợ) đối với điều ác
bahussutađa văn — nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe
vīriyatinh tấn
satiniệm, chánh niệm
paññātrí tuệ (trí tuệ về sanh diệt, đưa đến đoạn tận khổ đau)
jhānathiền (bốn Thiền, hiện tại lạc trú, thuộc tăng thượng tâm)
upekkhāsatipārisuddhixả niệm thanh tịnh (của Thiền thứ tư)
abhinibbhidāsự phá vỡ (vỏ trứng) — ví cho ba minh
pubbenivāsānussatitúc mạng minh — nhớ các đời sống quá khứBản Việt: “nhớ đến các đời sống quá khứ sai biệt”.
dibbacakkhuthiên nhãn — thấy sự sống chết của chúng sanh theo hạnh nghiệp
āsavānaṁ khayađoạn tận các lậu hoặc (lậu tận minh)
cetovimutti, paññāvimuttitâm giải thoát, tuệ giải thoát
caraṇahạnh đức — phần hành trì
vijjātrí đức — phần minh (ba minh)
vijjācaraṇasampannaminh hạnh cụ túc
yogakkhemaan ổn khỏi các ách phược
sīhaseyyadáng nằm con sư tử (nằm nghiêng bên hữu, chánh niệm tỉnh giác)

Chi tiết mở đầu rất người và rất cảm động. Các Sakya vừa dựng xong một giảng đường mới, chưa ai đến ở, nên thỉnh Thế Tôn dùng trước tiên. Ngài ngồi dựa cột giữa, mặt hướng phía Đông, thuyết pháp đến quá nửa đêm.

Rồi Ngài nói một câu rất thật. "Ta bị đau lưng. Ta sẽ nằm nghỉ." Kinh không giấu chuyện Ngài mệt. Ngài nằm dáng sư tử, chánh niệm tỉnh giácnghỉ mà vẫn tỉnh.

Và Ngài giao việc cho Tôn giả Ānanda ngay trước mặt hội chúng. Đó là cách một bậc thầy đào tạo người kế tục.

Hữu học đạo gồm sáu phần, và thứ tự rất đáng chú ý. (1) thành tựu giới hạnh — sống chế ngự với giới bổn, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt.

(2) hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng… không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Không phải nhắm mắt bịt tai — mà là không bám vào.

(3) tiết độ trong ăn uống. Ăn không phải để vui đùa, đam mê, trang sức, mà chỉ để duy trì thân này hầu tu Phạm hạnh.

(4) chú tâm cảnh giác. Ban ngày và hai canh đầu, cuối của đêmgột sạch tâm khỏi các chướng ngại pháp. Chỉ ngủ canh giữa.

(5) bảy diệu pháp. Tín, tàm, quý, đa văn, tinh tấn, niệm, tuệ. Xin để ý tàm và quýbiết hổ thẹn và biết sợ điều ác — được xếp ngay sau lòng tin.

(6) chứng bốn Thiền — và kinh thêm ba chữ đắt: "không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức".

Rồi tới ví dụ trứng gà — ví dụ đẹp nhất bài kinh. Vị đệ tử như vậy được gọi là "đang đi trên con đường hữu học, có trứng không bị hư hoại". Gà mẹ đã ấp đủ; trứng còn nguyên, chỉ chờ ngày nở.

Và ba lần phá vỡ vỏ trứng là ba minh. Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh. Gà con mổ vỏ ba lần thì ra.

Bài kinh khép lại bằng hai chữ nên nhớ. Hạnh đức (caraṇa) — tức sáu phần trên; và trí đức (vijjā) — tức ba minh. Hai cái hợp lại thành "minh hạnh cụ túc", một trong mười danh hiệu Phật.

  • "Hữu học là học giáo lý." Sáu phần gồm cả ăn, ngủ, giữ căn.
  • "Hộ trì các căn là tránh nhìn tránh nghe." Kinh nói không nắm giữ tướng.
  • "Phật không bao giờ mệt." Kinh chép rõ Ngài đau lưng và nằm nghỉ.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ gà ấp trứngba lần mổ vỏ.
  • Ngành Thiếu. Học bảy diệu pháp — nhất là tàm và quý.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài rất hợp làm khung sinh hoạt một ngày của người tu.
  • Vì sao Tôn giả Ānanda giảng thay?
  • Sáu phần của hữu học đạo là gì?
  • Bảy diệu pháp gồm những gì?
  • Ba lần phá vỏ trứng là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.