G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 52
Mười Một Cửa Bất Tử · Nhà Cháy Chỉ Cần Một Cửa

Kinh Bát Thành

Aṭṭhakanāgara Sutta — MN 52 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Bát Thành

Gia chủ Dasama hỏi có "pháp độc nhất" nào đưa đến giải thoát. Tôn giả Ānanda trả lời mười một lầnmỗi lần đều gọi là "pháp độc nhất". Và gia chủ mừng như người tìm một kho tàng mà được mười một.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 52
  • Người thuyết — Tôn giả Ānanda, không phải Đức Phật trực tiếp
  • Người hỏi — gia chủ Dasama, người thành Aṭṭhaka
  • Về tên kinh — Hoà thượng Minh Châu hiểu aṭṭhakanāgaro"người ở thành Bát thành"; Tỳ-kheo Sujato dịch là "a wealthy citizen"

Gia chủ Dasama ở thành Bát thành (Aṭṭhaka) đến Vesālī hỏi Tôn giả Ānanda một câu rất thực tế: "có pháp độc nhất gì do Thế Tôn tuyên bố, nếu có Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần sống hành trì pháp ấy, thời tâm chưa giải thoát của vị ấy được giải thoát, các lậu hoặc chưa đoạn trừ đi đến đoạn trừ, pháp an ổn khỏi các ách phược chưa chứng đạt được chứng đạt?" Tôn giả Ānanda đáp là có, rồi lần lượt trình bày mười một pháp môn, mỗi pháp môn đều được gọi là "pháp độc nhất": bốn Thiền (Sơ Thiền, Thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư), bốn Tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xả), và ba Vô sắc định đầu (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ). Điểm then chốt lặp lại ở mỗi pháp môn không phải là chứng đắc thiền định, mà là bước quán chiếu ngay sau đó: hành giả suy tư và biết rằng chính trạng thái mình vừa chứng "là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt". Nhờ vững trú nơi tuệ quán ấy mà đoạn trừ các lậu hoặc; nếu chưa đoạn trừ hết thì cũng đoạn được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, không trở lui đời này (quả Bất lai). Nghe xong, gia chủ Dasama hoan hỷ thốt lên ví dụ nổi tiếng: như người đi tìm một kho tàng mà tìm được mười một kho tàng; như ngôi nhà có mười một cửa, khi nhà cháy thì chỉ cần một cửa cũng thoát thân an toàn. Ông cúng dường Tăng chúng hai thành Pātaliputta và Vesālī, dâng y cho từng vị, ba y cho Tôn giả Ānanda và xây một Tăng xá. Bài học cho huynh trưởng: có nhiều cửa vào đạo, hợp căn cơ từng người; nhưng cửa nào cũng phải đi kèm tuệ quán vô thường mới đưa đến giải thoát.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Gia chủ Dasama đi tìm Tôn giả Ānanda — SC 1–5: Tôn giả Ānanda trú ở Vesālī, ấp Beluvagāmaka. Gia chủ Dasama người thành Aṭṭhaka đến Pātaliputta có công việc, hỏi thăm một Tỷ-kheo ở Kukkutarama (Kê Viên), rồi sau khi xong việc liền đi đến Vesālī đảnh lễ Tôn giả Ānanda.
  • 2. Câu hỏi về "pháp độc nhất" (ekadhamma) — SC 6–8: Gia chủ hỏi có pháp độc nhất nào mà hành trì thì tâm chưa giải thoát được giải thoát, lậu hoặc được đoạn trừ, chứng đạt pháp vô thượng an ổn khỏi các ách phược. Tôn giả Ānanda xác nhận là có, gia chủ hỏi pháp ấy là gì.
  • 3. Bốn Thiền (Sơ Thiền đến Thiền thứ tư) cùng tuệ quán vô thường — SC 9–12: Mỗi Thiền được mô tả, rồi hành giả suy tư biết Thiền ấy là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, là vô thường, chịu sự đoạn diệt; do vững trú ở đây mà đoạn trừ lậu hoặc, hoặc đoạn năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy.
  • 4. Bốn Tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả — SC 13–14: An trú biến mãn khắp bốn phương, trên dưới bề ngang với tâm câu hữu với từ (rồi bi, hỷ, xả), quảng đại, vô biên, không hận, không sân; kế đó cũng quán tâm giải thoát ấy là pháp hữu vi, vô thường, chịu sự đoạn diệt.
  • 5. Ba Vô sắc định: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ — SC 15–17: Vượt mọi sắc tưởng, chứng Không vô biên xứ; vượt lên Không vô biên xứ chứng Thức vô biên xứ; vượt lên Thức vô biên xứ chứng Vô sở hữu xứ. Mỗi định đều được quán là pháp hữu vi, vô thường, chịu sự đoạn diệt. (Kinh dừng ở Vô sở hữu xứ — thành mười một pháp môn.)
  • 6. Lời tán thán của gia chủ: mười một cửa bất tử — SC 18–19: Ví như tìm một kho tàng mà được mười một kho tàng; như ngôi nhà có mười một cửa, khi cháy nhà chỉ một cửa cũng thoát an toàn. Gia chủ xin cúng dường thầy dạy đạo cho mình.
  • 7. Cúng dường Tăng chúng — SC 20: Gia chủ Dasama mời họp Tỷ-kheo Tăng ở Pātaliputta và Vesālī, tự tay dâng cúng món ăn thượng vị, tặng mỗi vị một cặp y, tặng Tôn giả Ānanda ba y và xây một Tăng xá.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 6 (MN 52.3)
"atthi nu kho, bhante ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo akkhāto yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttañceva cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā ca āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattañca anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī"ti?
—Bạch Tôn giả Ānanda, có pháp độc nhất gì do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, nếu có Tỷ-kheo nào không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần sống hành trì pháp ấy, thời tâm chưa giải thoát của vị ấy được giải thoát, hay các lậu hoặc chưa được đoạn trừ đi đến đoạn trừ, hay pháp an ổn khỏi các ách phược chưa được chứng đạt được chứng đạt?
"Honorable Ānanda, is there one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant's mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke?"
SC 9 (MN 52.4)
"Idha, gahapati, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
—Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
"Householder, it's when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
SC 9 (MN 52.4.3–4.4) — câu then chốt lặp lại suốt bài kinh
So iti paṭisañcikkhati: 'idampi kho paṭhamaṁ jhānaṁ abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ. Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman'ti pajānāti.
Vị ấy suy tư và được biết: “Sơ Thiền này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”.
Then they reflect: 'Even this first absorption is produced by choices and intentions.' They understand: 'But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.'
SC 9 (MN 52.4.5–4.6)
So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti. No ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Vị ấy vững trú ở đây, đoạn trừ được các lậu hoặc. Và nếu các lậu hoặc chưa được đoạn trừ, do tham luyến pháp này, do hoan hỷ pháp này, vị ấy đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy, khỏi phải trở lui đời này.
Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don't attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they're reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world.
SC 13 (MN 52.8) — pháp môn Từ
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
SC 13 (MN 52.8.3)
So iti paṭisañcikkhati: 'ayampi kho mettācetovimutti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā. Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman'ti pajānāti.
Vị ấy suy tư và được biết: “Từ tâm giải thoát này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt”.
Then they reflect: 'Even this heart's release by love is produced by choices and intentions.' They understand: 'But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.'
SC 19 (MN 52.15) — ví dụ nổi tiếng nhất của bài kinh
"seyyathāpi, bhante ānanda, puriso ekaṁva nidhimukhaṁ gavesanto sakideva ekādasa nidhimukhāni adhigaccheyya; evameva kho ahaṁ, bhante, ekaṁ amatadvāraṁ gavesanto sakideva ekādasa amatadvārāni alatthaṁ bhāvanāya. Seyyathāpi, bhante, purisassa agāraṁ ekādasadvāraṁ, so tasmiṁ agāre āditte ekamekenapi dvārena sakkuṇeyya attānaṁ sotthiṁ kātuṁ; evameva kho ahaṁ, bhante, imesaṁ ekādasannaṁ amatadvārānaṁ ekamekenapi amatadvārena sakkuṇissāmi attānaṁ sotthiṁ kātuṁ.
—Bạch Tôn giả Ānanda, như người tìm một kho tàng cất dấu, trong một lúc tìm được mười một kho tàng cất dấu. Cũng vậy, bạch Tôn giả, con đi tìm một pháp môn bất tử mà được nghe một lần mười một pháp môn bất tử. Bạch Tôn giả, như ngôi nhà người ta có đến mười một cửa, khi ngôi nhà bị cháy, thì chỉ do một cửa người ta cũng có thể thoát ra một cách an toàn. Cũng vậy, bạch Tôn giả, chỉ với một cửa bất tử trong mười một cửa bất tử này, con có thể đạt được sự an toàn cho con.
"Honorable Ānanda, suppose a person was looking for the entrance to a treasure trove. And all at once they'd come across eleven entrances! In the same way, I was searching for the door to freedom from death. And all at once I found eleven doors to freedom from death for cultivation. Suppose a person had a house with eleven doors. If the house caught fire they'd be able to flee to safety through any one of those doors. In the same way, I'm able to flee to safety through any one of these eleven doors to freedom from death.
SC 20 (MN 52.16)
Atha kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro pāṭaliputtakañca vesālikañca bhikkhusaṅghaṁ sannipātetvā paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi, ekamekañca bhikkhuṁ paccekaṁ dussayugena acchādesi, āyasmantañca ānandaṁ ticīvarena acchādesi, āyasmato ca ānandassa pañcasatavihāraṁ kārāpesīti.
Rồi gia chủ Dasama, người ở thành Aṭṭhaka cho mời họp Tỷ-kheo Tăng ở Pātaliputta và Vesālī, tự tay mời ăn và làm cho thỏa mãn với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, tặng cho mỗi Tỷ-kheo, mỗi vị một cặp y, tặng cho Tôn giả Ānanda ba y và xây dựng một Tăng xá trị giá năm trăm đồng tiền vàng (hay có năm trăm Tăng phòng) cho Tôn giả Ānanda.
Then the householder Dasama, having assembled the Saṅgha from Vesālī and Pāṭaliputta, served and satisfied them with his own hands with delicious fresh and cooked foods. He clothed each and every mendicant in a pair of garments, with a set of three robes for Ānanda. And he had a dwelling worth five hundred built for Ānanda.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ekadhammapháp độc nhất — một pháp mà hành trì đến nơi thì đưa đến giải thoátTrong kinh này có tới mười một pháp, mỗi pháp đều được gọi là 'pháp độc nhất' vì mỗi pháp tự nó đủ đưa đến cứu cánh.
āsavalậu hoặc — các dòng chảy phiền não làm rỉ chảy tâm'Đoạn trừ các lậu hoặc' (āsavānaṁ khaya) là quả A-la-hán.
yogakkhemapháp an ổn khỏi các ách phượcBản Anh dịch: 'the supreme sanctuary from the yoke'.
jhānaThiền (Sơ Thiền, Thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư)
vitakka / vicāratầm / tứ — hướng tâm đến đối tượng và bám sát đối tượng
pīti / sukhahỷ / lạc
abhisaṅkhata abhisañcetayitapháp hữu vi, do suy tư tác thànhCụm từ then chốt của bài kinh, lặp lại ở cả mười một pháp môn.
anicca / nirodhadhammavô thường / chịu sự đoạn diệt
mettā / karuṇā / muditā / upekkhātừ / bi / hỷ / xả — Bốn Tâm vô lượngTrong kinh gọi là 'tâm câu hữu với từ…'; khi thành tựu gọi là 'từ tâm giải thoát' (mettācetovimutti).
cetovimuttitâm giải thoát
ākāsānañcāyatanaKhông vô biên xứ — 'Hư không là vô biên'
viññāṇañcāyatanaThức vô biên xứ — 'Thức là vô biên'
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ — 'Không có vật gì'
pañca orambhāgiyāni saṁyojanāninăm hạ phần kiết sửĐoạn trừ năm hạ phần kiết sử thì được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại cảnh giới ấy (quả Bất lai, anāgāmī).
opapātikahóa sanh
amatadvāracửa bất tử — pháp môn đi vào Bất tử (Niết-bàn)
appamatta ātāpī pahitattakhông phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần
gahapatigia chủ — cư sĩ tại gia

Câu hỏi của gia chủ Dasama rất thực tế và rất tha thiết."pháp độc nhất" nào mà hành trì không phóng dật thì tâm chưa giải thoát được giải thoát, lậu hoặc chưa đoạn được đoạn?

Và câu trả lời rất lạ: Tôn giả Ānanda kể ra mười một pháp. Bốn Thiền, bốn Tâm vô lượng (từ, bi, hỷ, xả), và ba Vô sắc định đầu. Mỗi cái đều được gọi là "pháp độc nhất".

Nghe qua tưởng mâu thuẫn, nhưng không. Mỗi cửa đều đủ để ra. "Độc nhất" không có nghĩa là "chỉ có một cái tồn tại" — mà là "một cái này đủ rồi".

Nhưng điểm then chốt của cả bài kinh KHÔNG nằm ở việc chứng thiền. Nó nằm ở bước quán chiếu ngay sau đó — và bước ấy lặp lại y nguyên mười một lần.

Câu ấy đáng thuộc lòng. "Sơ Thiền này là pháp hữu vi, do suy tư tác thành. Phàm sự vật gì là pháp hữu vi, do suy tư tác thành, thời sự vật ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt."

Xin để ý chỗ này cho kỹ. Chính trạng thái vừa chứng đượccái đang an lạc nhấtlại là cái phải đem ra soi. Không phải soi cái xấu; soi cái tốt.

Và đó là chỗ nhiều người tu dừng lại. Chứng được một trạng thái an lạc thì bám vào đó. Kinh nói: vẫn phải thấy nó là vô thường.

Kết quả được nói rất rõ ràng, có hai bậc. Vững trú nơi tuệ quán ấy thì đoạn trừ các lậu hoặc; nếu chưa đoạn hết thì cũng đoạn được năm hạ phần kiết sử, được hoá sanh, nhập Niết-bàn tại đấy, không trở lui đời này.

Kinh dừng ở Vô sở hữu xứ, thành mười một. Chính văn KHÔNG nói vì sao dừng ở đó. Cách giải thích rằng hai định sau không dùng làm đối tượng quán chiếu theo cách nàytheo Chú giải, không phải lời kinh — chúng tôi ghi rõ để bác phân biệt.

Và lời tán thán của gia chủ là chỗ đẹp nhất bài kinh. Như người đi tìm một kho tàng mà tìm được mười một kho tàng. Như ngôi nhà có mười một cửakhi nhà cháy thì chỉ cần một cửa cũng thoát thân an toàn.

Ví dụ nhà cháy ấy nói đúng tình cảnh người tu. Không cần biết hết mười một cửa. Cần biết chắc MỘT cửa — và cửa ấy hợp với mình.

Ông cúng dường rất hậu: đãi Tăng chúng hai thành, dâng y cho từng vị, ba y cho Tôn giả Ānanda và xây một Tăng xá. Người hỏi một câu, ra về làm một việc lớn.

  • "Phải tu đủ mười một pháp." Kinh nói một cửa cũng đủ thoát.
  • "Chứng thiền là xong." Điểm then chốt là quán chính thiền ấy là vô thường.
  • "Kinh dừng ở Vô sở hữu xứ vì hai định sau không quán được." Đó là Chú giải, chính văn không nói.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ nhà mười một cửa.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao mỗi cửa đều gọi là "cửa độc nhất"?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Học thuộc câu quán chiếu lặp mười một lần.
  • Mười một pháp môn gồm những gì?
  • Câu quán chiếu lặp lại là gì?
  • Hai bậc kết quả là gì?
  • Ví dụ nhà cháy dạy điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.