G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 50
Tôn Giả Mục-Kiền-Liên Nói · Ác Ma Chui Vào Bụng

Kinh Hàng Ma

Māratajjanīya Sutta — MN 50 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Hàng Ma

Bài kinh này do chính Tôn giả Mahā Moggallāna nói, không phải Đức Phật thuyết. Đang đi kinh hành thì Ác ma lén chui vào bụng ngài — và ngài kể cho nó nghe một chuyện đời trước rất bất ngờ.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 50
  • Người nói — Tôn giả Mahā Moggallāna, không phải Đức Phật
  • Nơi chốn — xứ Bhagga, rừng Bhesakaḷā, vườn Lộc Uyển
  • Vị Phật quá khứThế Tôn Kakusandha và hai đại đệ tử Vidhura, Sañjīva

Kinh Hàng ma (MN 50) là bài kinh do chính Tôn giả Mahā Moggallāna — vị đệ tử thần thông đệ nhất — nói ra, chứ không phải do Đức Phật thuyết. Khi ngài đang đi kinh hành ở rừng Bhesakaḷā xứ Bhagga, Ác ma lén chui vào bụng ngài. Ngài thấy bụng "nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy", liền vào tự viện ngồi xuống, chánh niệm quán xét và thấy rõ Ác ma đang ở trong bao tử mình. Ngài bảo: "Hãy đi ra, Ác ma!". Ác ma nghĩ thầm rằng vị Sa-môn này không biết mình, không thấy mình — liền bị Tôn giả đọc thấu tâm ý và nói rõ ra. Khi ấy Ác ma mới nhận ra mình đã bị thấy (lần thứ hai ông nghĩ NGƯỢC LẠI: “vị Sa-môn này biết ta, thấy ta”), nên bước ra đứng nơi cửa miệng — và ở đó lại bị Tôn giả thấy tiếp. Kế đó Tôn giả kể lại chuyện đời trước: chính ngài từng là Ác ma tên Dusi, có chị tên Kālī, và Ác ma hiện tại là con của bà chị ấy, tức là cháu của ngài. Thời đó, Thế Tôn Kakusandha ra đời với hai vị đại đệ tử là Vidhura (thuyết pháp đệ nhất) và Sanjiva (bậc thường nhập Diệt thọ tưởng định — có lần bị người ta tưởng đã chết đem thiêu mà vẫn an nhiên xuất định đi khất thực). Ác ma Dusi tìm cách phá Tăng đoàn bằng hai đường: trước là xui các Bà-la-môn gia chủ phỉ báng, mạ lị chư Tỷ-kheo; Thế Tôn Kakusandha liền dạy chúng Tăng an trú Tứ Vô Lượng Tâm — từ, bi, hỷ, xả — biến mãn khắp mười phương. Thất bại, Dusi quay sang xui người đời tán thán, cúng dường thật nhiều để làm chư Tăng đổi tâm; Thế Tôn Kakusandha lại dạy quán bất tịnh trên thân, quán nhàm chán đối với các món ăn, quán bất khả lạc đối với thế gian, quán vô thường đối với tất cả hành. Cùng đường, Dusi nhập vào một đứa trẻ, lấy đá đánh bể đầu Tôn giả Vidhura; ngay khi Thế Tôn Kakusandha quay nhìn lại "với cái nhìn con voi chúa", Dusi mạng chung, đọa đại địa ngục nhiều ngàn năm. Phần cuối là các bài kệ Tôn giả Moggallāna kể lại thần lực và sở chứng của mình, kết bằng ví dụ lửa: lửa không hề nghĩ "ta đốt cháy kẻ ngu", chính kẻ ngu chạm vào lửa mà tự thiêu mình; Ác ma nhiễu hại Như Lai cũng vậy. Nghe xong, Ác ma thất vọng biến mất. Bài học cho huynh trưởng và đoàn sinh: ma chướng không chỉ đến bằng chê bai mà còn đến bằng khen ngợi, cúng dường; thuốc đối trị là chánh niệm, Tứ Vô Lượng Tâm và quán vô thường — bất tịnh.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Ác ma chui vào bụng Tôn giả Mahā Moggallāna (SC 1-8) — Tôn giả đang kinh hành tại rừng Bhesakaḷā, thấy bụng nặng bất thường; ngồi xuống chánh niệm quán xét, thấy Ác ma trong bao tử, bảo Ác ma đi ra. Hai lần Ác ma nghĩ thầm và hai lần bị đọc thấu tâm, nên bước ra đứng nơi cửa miệng.
  • 2. Tiền thân: ta từng là Ác ma Dusi, ngươi là cháu ta (SC 9) — Tôn giả cho biết thuở xưa ngài là Ác ma tên Dusi, chị là Kālī, Ác ma hiện tại là con bà Kālī, tức cháu của ngài.
  • 3. Thời Thế Tôn Kakusandha và hai đại đệ tử Vidhura, Sanjiva (SC 10-12) — Vidhura tối thượng về thuyết pháp; Sanjiva nhập Diệt thọ tưởng định, bị người chăn bò tưởng chết đem hỏa táng, sáng hôm sau xuất định đi khất thực nên được gọi tên Sanjiva (sống lại).
  • 4. Mưu thứ nhất của Ác ma Dusi: xui người đời phỉ báng chư Tăng — Thế Tôn Kakusandha dạy Tứ Vô Lượng Tâm (SC 13-18) — Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ, xui họ phỉ báng, mạ lị, thống trách các Tỷ-kheo giới hạnh. Thế Tôn Kakusandha dạy chư Tăng biến mãn mười phương với tâm câu hữu với từ, bi, hỷ, xả.
  • 5. Mưu thứ hai: xui người đời tán thán cúng dường — Thế Tôn Kakusandha dạy quán bất tịnh, vô thường (SC 19-23) — Dusi đổi cách, xui người đời tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường. Thế Tôn Kakusandha dạy quán bất tịnh trên thân, tưởng nhàm chán đối với món ăn, tưởng bất khả lạc đối với thế gian, quán vô thường đối với tất cả hành.
  • 6. Dusi đánh Tôn giả Vidhura và đọa đại địa ngục (SC 24-27) — Dusi nhập vào một đứa trẻ, dùng hòn đá đánh bể đầu Tôn giả Vidhura. Thế Tôn Kakusandha nhìn lại với cái nhìn con voi chúa; Dusi liền mạng chung, sanh vào địa ngục có ba tên gọi, chịu khổ nhiều ngàn năm, thân người đầu cá.
  • 7. Các bài kệ hàng ma và lời cảnh cáo cuối (SC 28-43) — Chuỗi kệ mô tả địa ngục Dusi, các thần lực và sở chứng của Tôn giả (rung chuyển lâu đài Vejayanta, hỏi Sakka về ái tận giải thoát, hỏi Phạm thiên về tà kiến thường hằng), mỗi đoạn kết bằng điệp khúc "Vì Ngươi đánh Tỷ-kheo, Kaṇha chịu khổ thọ"; kết bằng ví dụ lửa và cảnh cáo "Ác ma, hãy tránh Phật". Ác ma thất vọng biến mất.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 50, đoạn SC 2 (bản Minh Châu) = mn50:2.1-2.6
Tena kho pana samayena āyasmā mahāmoggallāno abbhokāse caṅkamati. Tena kho pana samayena māro pāpimā āyasmato mahāmoggallānassa kucchigato hoti koṭṭhamanupaviṭṭho.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Moggallāna đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Mahā Moggallāna, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna nghĩ như sau: "Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?" Rồi Tôn giả Mahā Moggallāna từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
At that time Moggallāna was walking mindfully in the open air. Now at that time Māra the Wicked had got inside Moggallāna's belly. Moggallāna thought, "Why now is my belly so very heavy, like I've just eaten a load of beans?" Then he stepped down from the walking path, entered his dwelling, sat down on the seat spread out,
MN 50, đoạn SC 4 (bản Minh Châu) = mn50:3.4-3.7
“Nikkhama, pāpima; nikkhama, pāpima. Mā tathāgataṁ vihesesi, mā tathāgatasāvakaṁ. Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
—Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!
"Come out, Wicked One, come out! Do not harass the Realized One or his disciple. Don't create lasting harm and suffering for yourself!"
MN 50, đoạn SC 9 (bản Minh Châu) = mn50:8.1-8.3
Bhūtapubbāhaṁ, pāpima, dūsī nāma māro ahosiṁ, tassa me kāḷī nāma bhaginī. Tassā tvaṁ putto. So me tvaṁ bhāgineyyo ahosi.
Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kālī. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.
Once upon a time, Wicked One, I was a Māra named Dūsī, and I had a sister named Kāḷī. You were her son, which made you my nephew.
MN 50, đoạn SC 17 (bản Minh Châu) = mn50:14.4-14.7
Etha, tumhe, bhikkhave, mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharatha … averena abyābajjhena pharitvā viharatha.
Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ…, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú…
Come, all of you mendicants, meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Meditate spreading a heart full of compassion … rejoicing … equanimity …
MN 50, đoạn SC 22 (bản Minh Châu) = mn50:18.5
Etha, tumhe, bhikkhave, asubhānupassino kāye viharatha, āhāre paṭikūlasaññino, sabbaloke anabhiratisaññino, sabbasaṅkhāresu aniccānupassino’ti.
Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.
Come, all you mendicants, meditate observing the ugliness of the body, perceiving the repulsiveness of food, perceiving dissatisfaction with the whole world, and observing the impermanence of all conditions.
MN 50, đoạn SC 25 (bản Minh Châu) = mn50:21.1-21.5
Atha kho, pāpima, dūsī māro aññataraṁ kumārakaṁ anvāvisitvā sakkharaṁ gahetvā āyasmato vidhurassa sīse pahāramadāsi; sīsaṁ vobhindi. … ‘na vāyaṁ dūsī māro mattamaññāsī’ti.
Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: "Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải". Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục.
Then Māra Dūsī took possession of a certain boy, picked up a rock, and hit Vidhura on the head, cracking it open. Then Vidhura, with blood pouring from his cracked skull, still followed behind the Buddha Kakusandha. Then the Buddha Kakusandha turned to gaze back, the way that elephants do, saying, 'This Māra Dūsī knows no limit.' And as he was gazing, Māra Dūsī fell from that place and was reborn in the Great Hell.
MN 50, đoạn SC 42 (bản Minh Châu) = mn50:31.1-31.16
Na ve aggi cetayati, ‘ahaṁ bālaṁ ḍahāmī’ti; Bālo ca jalitaṁ aggiṁ, āsajja naṁ sa ḍayhati. … Māra nibbinda buddhamhā, āsaṁ mākāsi bhikkhusu.
Thật sự lửa không nghĩ: "Ta đốt cháy kẻ ngu", Kẻ ngu đột kích lửa, Tự mình bị thiêu cháy. Cũng vậy, này Ác ma, Ngươi đột kích Như Lai. Tự mình đốt cháy mình Như kẻ ngu chạm lửa, Ác ma tạo ác nghiệp, Do nhiễu hại Như Lai, Ngươi nghĩ chăng, Ác ma, "Ác quả không đến ta". Ðiều ác Ác ma làm, Chất chứa đã lâu rồi, Ác ma, hãy tránh Phật, Chớ vọng tưởng Tỷ-kheo!
Though a fire doesn't think, 'I'll burn the fool!' Still the fool who attacks the fire gets burnt. In the same way, Māra, in attacking the Realized One, you'll only burn yourself, like a fool touching the flames. Māra's done a bad thing in attacking the Realized One. Wicked One, do you imagine that your wickedness won't bear fruit? Your deeds heap up wickedness that will last a long time, terminator! Give up on the Buddha, Māra! And hold no hope for the mendicants!
MN 50, đoạn SC 43 (bản Minh Châu) = mn50:31.17-31.20
Iti māraṁ atajjesi, bhikkhu bhesakaḷāvane; Tato so dummano yakkho, tatthevantaradhāyathā”ti.
Tỷ-kheo chống Ác ma, Tại rừng Bhesakāla, Vị Dạ xoa, thất vọng, Biến mất tại chỗ ấy.
That is how, in the Bhesekaḷā grove, the mendicant warned Māra. That spirit, downcast, disappeared right there.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
MāratajjanīyaSự quở trách / hàng phục Ác matajjanīya: quở trách, cảnh cáo; tên kinh
Māra pāpimāÁc mapāpimā = kẻ ác độc
DūsīÁc ma Dusitiền thân của Tôn giả Mahā Moggallāna
KāḷīKālī — chị của Ác ma Dusi, mẹ của Ác ma hiện tại
KaṇhaKẻ Đen tối — cách gọi Ác ma trong kệ
saññāvedayitanirodhaDiệt thọ tưởng địnhđịnh diệt hết thọ và tưởng, sở trường của Tôn giả Sanjiva
mettā / karuṇā / muditā / upekkhāTừ / Bi / Hỷ / Xả — Tứ Vô Lượng Tâm
asubhānupassī kāyeQuán bất tịnh trên thân
āhāre paṭikūlasaññīQuán tưởng nhàm chán đối với các món ăn
sabbasaṅkhāresu aniccānupassīQuán tánh vô thường đối với tất cả hành
otāraChỗ sơ hở, cơ hội xâm nhập"mới có dịp để chi phối họ" — Ác ma tìm chỗ hở của tâm
nāgāpalokitaCái nhìn con voi chúacách quay nhìn lại toàn thân của Đức Phật
VidhuraVô songđại đệ tử thuyết pháp bậc nhất của Thế Tôn Kakusandha
SañjīvaSống lạitên do dân làng đặt sau khi ngài xuất định
nirayapālaNgười giữ địa ngục

Xin thưa ngay điều quan trọng nhất về bài kinh này. Người nói là Tôn giả Mahā Moggallāna, không phải Đức Phật Thích Ca. Khi dạy đoàn sinh nên nói rõ chỗ này.

Mở đầu rất lạ. Ngài đang đi kinh hành ngoài trời thì thấy bụng "nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy". Ngài vào ngồi xuống, chánh niệm quán xét — và thấy Ác ma đang ở trong bao tử mình.

Ngài chỉ nói một câu: "Hãy đi ra, Ác ma!" Không đánh, không trấn áp.

Rồi tới đoạn tâm lý rất tinh tế. Ác ma nghĩ thầm: "vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta"liền bị Tôn giả đọc thấu và nói rõ ra. Khi ấy Ác ma mới nghĩ NGƯỢC LẠI: "vị Sa-môn này biết ta, thấy ta" — nên bước ra đứng nơi cửa miệng. Và ở đó lại bị thấy tiếp.

Và đây là chỗ bất ngờ nhất bài kinh. Tôn giả kể: chính ngài từng là Ác ma tên Dusi, có chị tên Kālī — và Ác ma hiện tại là con của bà chị ấy. Tức là cháu của ngài.

Chi tiết ấy đổi hẳn giọng của cả bài. Không phải bậc thánh quở kẻ ác — mà là người cậu nói chuyện với đứa cháu, bằng kinh nghiệm của chính mình.

Rồi ngài kể chuyện thời Thế Tôn Kakusandha. Hai đại đệ tử: Vidhura (thuyết pháp đệ nhất) và Sañjīva — vị thường nhập Diệt thọ tưởng định, có lần bị người ta tưởng đã chết đem thiêu, mà vẫn an nhiên xuất định đi khất thực.

Ác ma Dusi phá Tăng đoàn bằng hai mưu, và hai mưu ấy ngược nhau. Mưu thứ nhất: xui các gia chủ phỉ báng chư Tăng. Thế Tôn Kakusandha dạy chúng Tăng tu Bốn Vô Lượng Tâmvà mưu ấy hỏng.

Mưu thứ hai mới nguy hiểm hơn. Xui người đời tán thán, cúng dường thật hậu. Lần này Thế Tôn Kakusandha dạy quán bất tịnh, quán vô thường. Được khen khó chống hơn bị chê.

Cùng đường, Dusi làm một việc dại dột.nhập vào một đứa trẻ và đánh vỡ đầu Tôn giả Vidhura. Và nó đọa đại địa ngục ngay lập tức.

Đoạn tả địa ngục ấy là lời cảnh cáo Tôn giả gửi cho đứa cháu. "Ta đã từng ở đó. Ngươi liệu mà lo."

Bài học rút ra rất thực tế cho người tu. Bị chê thì đối lại bằng từ tâm; được khen thì đối lại bằng quán vô thường. Hai thứ thuốc cho hai thứ bệnh.

  • "Kinh nào cũng do Phật thuyết." Bài này do Tôn giả Mahā Moggallāna nói.
  • "Được cúng dường nhiều là dấu hiệu tốt." Đó là mưu thứ hai của Ác ma.
  • "Bậc thánh thì chưa từng làm ác." Tôn giả từng là một Ác ma.
  • Ngành Oanh. Kể đoạn Ác ma chui vào bụng — vui và dễ nhớ.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: bị chê khó chịu hơn hay được khen khó giữ hơn?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Hai mưu — hai thứ thuốc: từ tâm và quán vô thường.
  • Ai là người nói bài kinh này?
  • Ác ma hiện tại có quan hệ gì với Tôn giả?
  • Hai mưu của Ác ma Dusi là gì?
  • Vì sao Dusi đọa địa ngục?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.