G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 49
Một Vị Trời Tưởng Mình Đã Tới Chỗ Tuyệt Đối

Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh

Brahmanimantanika Sutta — MN 49 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh

Phạm thiên Baka — một vị trời thần lực rất lớn — khởi ác tà kiến: cảnh giới của mình là "thường, thường hằng, thường tại, không biến hoại", và "ngoài cái này không có giải thoát nào khác". Chấp thường kiến ở mức cao nhất.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 49
  • Thế Tôn kể lại — chuyện xảy ra thuở Ngài ở Ukkaṭṭhā, rừng Subhagavana
  • Hai đối thủPhạm thiên BakaÁc ma
  • Xin phân biệt hai cây — Pāli sāla (cây sa-la) ở đầu kinh, tāla (cây thốt nốt) trong thành ngữ cuối kinh; bản Việt đều ghi dạng "Tala"

Kinh này Thế Tôn kể lại cho các Tỷ-kheo tại Jetavana (Sāvatthi) một câu chuyện xảy ra thuở Ngài còn ở Ukkaṭṭhā, rừng Subhagavana, dưới gốc cây Tala vương. Lúc ấy Phạm thiên Baka — một vị trời có thần lực rất lớn — khởi lên ác tà kiến: cho rằng cảnh giới của mình là "thường, thường hằng, thường tại, toàn diện, không biến hoại", không sanh không già không chết, và "ngoài cái này không có một giải thoát nào khác hơn". Đây chính là chấp thường kiến ở mức cao nhất: một vị trời tưởng mình đã tới chỗ tuyệt đối. Biết được tâm Baka, Thế Tôn liền hiện lên cõi Phạm thiên và thẳng thắn nói: "Thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh", vì lấy cái vô thường mà gọi là thường. Ác ma (Māra) liền nhập vào một Phạm thiên quyến thuộc, ca ngợi Baka là "Đại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng… Tổ phụ các chúng sanh", rồi khuyên Thế Tôn chớ đi quá xa lời Phạm thiên. Thế Tôn nhận diện ngay: "Này Ác ma, Ta biết Ngươi… Ta không nằm trong tay của Ngươi." Kế đó là phần đối đáp cốt lõi. Thế Tôn nói kệ cho thấy Ngài biết rõ tầm hoạt động và uy lực của Baka, rồi chỉ ra ba cõi trời mà Baka không biết, không thấy: Ābhassara (Quang âm thiên) — nơi chính Baka đã từ đó mạng chung mà quên mất, Subhakiṇṇa (Biến tịnh thiên) và Vehapphala (Quảng quả thiên). Sâu hơn nữa, Thế Tôn trình bày cách thấy của bậc Giác Ngộ đối với địa, thủy, hỏa, phong, chúng sanh, chư Thiên, Phạm thiên, cho đến "tất cả": biết mà không lãnh thọ, không nghĩ "Ta là… Ta ở trong… là của Ta", không tôn trọng chấp thủ nó. Baka thách Thế Tôn tỷ thí thần thông biến mất. Baka không biến được; Thế Tôn biến mất, chỉ để tiếng nói vang lại bài kệ "Thấy nguy hiểm trong hữu…". Cả chúng Phạm thiên kinh ngạc tán thán. Ác ma trở lại lần cuối, khuyên Thế Tôn đừng thuyết pháp, đừng dạy ai, hãy sống lạc trú hiện tại. Thế Tôn bác bỏ: Như Lai có thuyết pháp hay không thuyết pháp, Như Lai vẫn là Như Lai, vì các lậu hoặc đã "được cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây Tala, khiến không thể tái sanh". Vì Ác ma thất bại và vì có lời mời của Phạm thiên, kinh mang tên Phạm Thiên Cầu Thỉnh.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi tại Jetavana — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, gọi các Tỷ-kheo và bắt đầu kể lại câu chuyện ở Ukkaṭṭhā (SC 1–2).
  • Tà kiến của Phạm thiên Baka — Baka khởi ác tà kiến: cái này là thường, thường hằng, thường tại, toàn diện, không biến hoại, ngoài cái này không có giải thoát nào khác hơn (SC 3).
  • Thế Tôn hiện lên cõi Phạm thiên và bác bỏ — Thế Tôn biến mất khỏi Ukkaṭṭhā, hiện ra cõi Phạm thiên; Baka chào đón và lặp lại tà kiến; Thế Tôn tuyên bố Baka chìm đắm trong vô minh (SC 4–7).
  • Ác ma nhập Phạm thiên quyến thuộc lần thứ nhất — Ác ma ca ngợi Đại Phạm thiên là Toàn năng, Sáng tạo chủ, Tổ phụ các chúng sanh, khuyên chớ đi quá xa lời Phạm thiên; Thế Tôn nhận diện Ác ma và tuyên bố không nằm trong quyền lực của Ác ma (SC 8–11).
  • Baka bảo vệ tà kiến và đe dọa — Baka khẳng định cái thường ông nói là thường; nếu Tỷ-kheo y trước địa, thủy, hỏa, phong, chúng sanh, chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên thì sẽ ở trong lãnh địa của ông, làm theo ý ông muốn (SC 12–13).
  • Thế Tôn biết sanh thú và quang vinh của Baka — Thế Tôn nói mình biết rõ sanh thú (gati) và sự quang vinh (juti) của Baka, và nói bài kệ về mười phương, mười Thiên giới dưới uy lực của Baka (SC 14–17).
  • Ba cõi trời Baka không biết — Ābhassara (Quang âm thiên) — nơi Baka từ đó mạng chung mà đã quên, Subhakiṇṇa (Biến tịnh thiên), Vehapphala và Abhibhū (Quảng quả thiên); do vậy Thế Tôn thù thắng hơn về thượng trí (SC 18–19).
  • Thắng tri địa đại cho đến tất cả, không lãnh thọ — Thế Tôn biết địa đại từ địa đại cho đến giới vức địa đại mà không lãnh thọ địa tánh; tuần tự cho đến thủy, hỏa, phong, chúng sanh, chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Quang âm, Biến tịnh, Quảng quả, Abhibhū, và tất cả (Sabba) (SC 20–21).
  • Lời đáp của Baka và câu 'Thức là phi sở kiến' — Baka nói nếu không lãnh thọ nhất thiết tánh thì thành trống không, trống rỗng; rồi nêu câu 'Thức là phi sở kiến, không biên tế, chói sáng tất cả' (SC 22).
  • Cuộc tỷ thí thần thông biến mất — Baka thách rồi không biến mất được; Thế Tôn biến mất, chỉ để tiếng nói, và nói bài kệ về nguy hiểm trong hữu; chúng Phạm thiên tán thán hy hữu (SC 23–31).
  • Ác ma khuyên đừng thuyết pháp và bị bác bỏ — Ác ma nhập lần thứ hai, khuyên chớ hướng dẫn đệ tử, chớ thuyết pháp, hãy sống lạc trú hiện tại; Thế Tôn nhận diện Ác ma, khẳng định Như Lai vẫn là Như Lai, các lậu hoặc đã cắt đứt tận gốc như thân cây Tala (SC 32–35).
  • Kết: vì sao kinh có tên này — Vì Ác ma đã thất bại không thuyết phục được, và vì có lời mời của Phạm thiên, nên bài trả lời này gọi là Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh (SC 36).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 3 (MN 49:2.2–2.3)
Tena kho pana, bhikkhave, samayena bakassa brahmuno evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti: ‘idaṁ niccaṁ, idaṁ dhuvaṁ, idaṁ sassataṁ, idaṁ kevalaṁ, idaṁ acavanadhammaṁ, idañhi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, ito ca panaññaṁ uttari nissaraṇaṁ natthī’ti.
Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến như sau: “Cái này là thường, cái này là thường hằng, cái này là thường tại, cái này là toàn diện, cái này không bị biến hoại, cái này không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ngoài cái này, không có một giải thoát nào khác hơn”.
Now at that time Baka the Divinity had the following harmful misconception: ‘This is permanent, this is everlasting, this is eternal, this is whole, this is not liable to pass away. For this is where there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn. And there’s no other escape beyond this.’
SC 7 (MN 49:4.2–4.6)
‘avijjāgato vata bho bako brahmā, avijjāgato vata bho bako brahmā; yatra hi nāma aniccaṁyeva samānaṁ niccanti vakkhati … santañca panaññaṁ uttari nissaraṇaṁ “natthaññaṁ uttari nissaraṇan”ti vakkhatī’ti.
“—Thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh, thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh, khi cái vô thường lại nói là thường, cái không thường hằng lại nói là thường hằng, cái không thường tại lại nói là thường tại, cái không toàn diện lại nói là toàn diện, cái bị biến hoại lại nói là không biến hoại, và tại chỗ có sanh, có già, có chết, có diệt, có khởi, lại nói không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi; có một giải thoát khác hơn lại nói là không có một giải thoát nào khác hơn.”
‘Oh lord, Baka the Divinity is lost in ignorance! Oh lord, Baka the Divinity is lost in ignorance! Because what is actually impermanent, not lasting, transient, incomplete, and liable to pass away, he says is permanent, everlasting, eternal, whole, and not liable to pass away. And where there is being born, growing old, dying, passing away, and being reborn, he says that there’s no being born, growing old, dying, passing away, or being reborn. And although there is another escape beyond this, he says that there’s no other escape beyond this.’
SC 9 (MN 49:5.2) — trích đoạn đầu
‘bhikkhu bhikkhu, metamāsado metamāsado, eso hi, bhikkhu, brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ.
“—Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chớ có can thiệp vào đây! Chớ có can thiệp vào đây! Này Tỷ-kheo, Phạm thiên này là Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh.
‘Mendicant, mendicant! Don’t attack this one! Don’t attack this one! For this is the Divinity, the Great Divinity, the Vanquisher, the Unvanquished, the Universal Seer, the Wielder of Power, God Almighty, the Maker, the Creator, the First, the Begetter, the Controller, the Father of those who have been born and those yet to be born.
SC 11 (MN 49:6.2–6.8)
‘jānāmi kho tāhaṁ, pāpima; mā tvaṁ maññittho: “na maṁ jānātī”ti. Māro tvamasi, pāpima … Ahaṁ kho pana, pāpima, neva tava hatthagato neva tava vasaṅgato’ti.
“—Này Ác ma, Ta biết Ngươi. Chớ có nghĩ rằng: “Vị ấy không biết ta”. Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, phàm là Phạm thiên, phàm là Phạm thiên chúng, phàm là Phạm thiên quyến thuộc, tất cả đều nằm trong tay của Ngươi, tất cả đều nằm trong quyền lực của Ngươi. Này Ác ma, nếu Ngươi nghĩ rằng: “Mong vị này nằm trong tay ta; mong vị này nằm trong quyền lực của ta!”. Này Ác ma, Ta không nằm trong tay của Ngươi. Ta không nằm trong quyền lực của Ngươi.
‘I know you, Wicked One. Do not think, “He does not know me.” You are Māra the Wicked. And the Divinity, the Divinity’s assembly, and the retinue of Divinity have all fallen into your hands; they’re under your sway. And you think, “Maybe this one, too, has fallen into my hands; maybe he’s under my sway!” But I haven’t fallen into your hands; I’m not under your sway.’
SC 16 (MN 49:9.1–9.8) — bài kệ
‘Yāvatā candimasūriyā, pariharanti disā bhanti virocanā; Tāva sahassadhā loko, ettha te vattate vaso. Paroparañca jānāsi, atho rāgavirāginaṁ; Itthabhāvaññathābhāvaṁ, sattānaṁ āgatiṁ gatinti.
“- Như nhật nguyệt lưu chuyển,
Sáng chói khắp mười phương,
Như vậy mười Thiên giới,
Dưới uy lực của Ông.
Ông biết chỗ cao thấp,
Có dục và không dục,
Hữu này và hữu kia,
Chỗ đến, đi hữu tình.
‘A galaxy extends a thousand times as far as the moon and sun revolve and the dazzling ones light up the quarters. And there you wield your power. You know the high and low, the passionate and dispassionate, and the coming and going of sentient beings from this realm to another.
SC 18 (MN 49:10.3–10.7)
Atthi kho, brahme, ābhassarā nāma kāyo yato tvaṁ cuto idhūpapanno. Tassa te aticiranivāsena sā sati pamuṭṭhā, tena taṁ tvaṁ na jānāsi na passasi; tamahaṁ jānāmi passāmi. Evampi kho ahaṁ, brahme, neva te samasamo abhiññāya, kuto nīceyyaṁ? Atha kho ahameva tayā bhiyyo.
Này Phạm thiên, có loại chư Thiên tên là Ābhassara (Quang âm thiên), từ chư Thiên này, Ông mạng chung, và sanh ở nơi đây. Nhưng vì Ông an trú ở đấy quá lâu, nên Ông không nhớ được. Do đó, Ông không biết, không thấy, còn Ta biết, Ta thấy. Như vậy, này Phạm Thiên, Ta còn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.
There is the realm named after the gods of sublime luminosity. You passed away from there and were reborn here. You’ve dwelt here so long that you’ve forgotten about that, so you don’t know it or see it. But I know it and see it. So Divinity, I am not your equal in knowledge, let alone your inferior. Rather, I know more than you.
SC 22 (MN 49:24.1–25.2) — câu nổi tiếng
‘Sace kho, mārisa, sabbassa sabbattena ananubhūtaṁ, tadabhiññāya mā heva te rittakameva ahosi, tucchakameva ahosīti. Viññāṇaṁ anidassanaṁ anantaṁ sabbato pabhaṁ.
“—Này Tôn giả, đối với tất cả, nếu Tôn giả không lãnh thọ nhất thiết tánh, thì đối với Tôn giả, trở thành trống không, trống rỗng, Thức là phi sở kiến, không biên tế, chói sáng tất cả …
‘Well, good fellow, if you have directly known that which does not fall within the scope of experience characterized by all, may that not be vacuous and hollow for you! Consciousness where no form appears, infinite, radiant all-round.
SC 29–30 (MN 49:26.8–27.4) — bài kệ khi biến mất
Antarahito imaṁ gāthaṁ abhāsiṁ: ‘Bhavevāhaṁ bhayaṁ disvā, bhavañca vibhavesinaṁ; Bhavaṁ nābhivadiṁ kiñci, nandiñca na upādiyin’ti.
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta thực hiện thần thông như sau: “Hãy để cho Phạm thiên, Phạm thiên chúng và Phạm thiên quyến thuộc nghe tiếng Ta chớ không thấy Ta”, Ta biến mất và nói lên bài kệ như sau:
“Thấy nguy hiểm trong hữu,
Từ hữu, tìm phi hữu,
Ta không tôn trọng hữu,
Không hỷ, không chấp trước”.
Then I used my psychic power to will that my voice would extend so that divinity, his assembly, and his retinue would hear me, but they would not see me. And while vanished I spoke this verse: ‘Seeing the danger in existence—that life in any existence will cease to be—I didn’t affirm any kind of existence, and didn’t grasp at relishing.’
SC 36 (MN 49:31.1) — câu kết
Iti hidaṁ mārassa ca anālapanatāya brahmuno ca abhinimantanatāya, tasmā imassa veyyākaraṇassa brahmanimantanikantveva adhivacanan”ti.
Như vậy, vì Ác ma đã thất bại, không thể thuyết phục (Ta), vì có lời mời Phạm thiên, nên bài trả lời này cũng được gọi là Kinh Phạm Thiên Cầu Thỉnh.
And so, because of the silencing of Māra, and because of the invitation of the Divinity, the name of this discussion is “On the Invitation of Divinity”.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
BrahmanimantanikaPhạm thiên cầu thỉnh / lời mời của Phạm thiênTên kinh, giải thích ở đoạn cuối (SC 36).
Baka brahmāPhạm thiên BakaVị Phạm thiên chấp thường kiến trong kinh này.
Māra pāpimāÁc maNhập vào một Phạm thiên quyến thuộc hai lần để cản Thế Tôn.
diṭṭhigata / pāpakaṁ diṭṭhigataṁtà kiến / ác tà kiến
nicca, dhuva, sassata, kevala, acavanadhammathường, thường hằng, thường tại, toàn diện, không bị biến hoạiChuỗi năm từ mô tả thường kiến của Baka.
nissaraṇasự giải thoát, sự xuất ly
avijjāvô minh
gatisanh thú, chỗ đi tới sau khi chếtKinh văn Việt có ghi chú '(gati)' ở SC 14.
jutisự quang vinh, ánh sáng, uy quang
abhiññāthượng trí, thắng trí, sự biết trực tiếp
ĀbhassaraQuang âm thiên
Subhakiṇṇa (Subhakiṇha)Biến tịnh thiên
VehapphalaQuảng quả thiên
AbhibhūThắng giả / Thắng giảiBản Việt ghi cả hai cách dịch ở SC 21 và SC 22.
pathavī, āpo, tejo, vāyođịa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại
PajāpatiSanh chủ
sabbatất cả, nhứt thiết
viññāṇaṁ anidassanaṁ anantaṁ sabbato pabhaṁThức là phi sở kiến, không biên tế, chói sáng tất cảCâu rất hay được trích; trong kinh này do Baka nói (SC 22).
bhava / vibhavahữu (sự hiện hữu) / phi hữu
iddhābhisaṅkhārathần thông, sự thực hiện thần lực
āsavalậu hoặc
tālāvatthukatalàm như thân cây Tala (bị chặt ngọn, không thể mọc lại)
TathāgataNhư Lai
arahaṁ sammāsambuddhaA-la-hán, Chánh Đẳng Giác
sāla / tālahai loại cây KHÁC NHAUXin đọc kỹ kẻo lẫn. Đầu kinh, Pāli là sālarājamūle — gốc cây SĀLA (bản Anh: sal tree); bản Việt của Hoà thượng Minh Châu ghi “cây Tala vương”. Còn ở cuối kinh, thành ngữ tālāvatthukata dùng cây TĀLA (cây thốt nốt, cây cọ) làm ví dụ. Trong cùng một bài mà hai chữ khác hẳn nhau lại cùng hiện ra dạng “Tala”, nên người đọc rất dễ tưởng Đức Phật ngồi dưới gốc cây nào thì cuối kinh lấy chính cây ấy làm ví dụ. Chúng tôi GIỮ NGUYÊN chữ của Hoà thượng trong phần trích.

Bài kinh này bàn về một thứ chấp rất cao cấp. Không phải chấp tiền của, không phải chấp danh — mà là một vị trời tưởng mình đã tới chỗ tuyệt đối.

Lời của Baka đáng chép lại đủ. Cảnh giới của ông là "thường, thường hằng, thường tại, toàn diện, không biến hoại", không sanh không già không chết, và "ngoài cái này không có một giải thoát nào khác hơn".

Thế Tôn hiện lên và nói thẳng, không vòng vo. "Thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh" — vì lấy cái vô thường mà gọi là thường.

Rồi Ác ma xuất hiện — và cách nó xuất hiện mới đáng học.nhập vào một Phạm thiên quyến thuộc, rồi ca ngợi Baka"Đại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Tổ phụ các chúng sanh", và khuyên Thế Tôn chớ đi quá xa lời Phạm thiên.

Xin để ý: Ác ma không doạ nạt — nó khen. Nó mượn miệng người khác. Và lời khuyên của nó nghe rất hợp lý, rất ôn hoà.

Thế Tôn nhận diện ngay. "Này Ác ma, Ta biết Ngươi… Ta không nằm trong tay của Ngươi." Lại là mô-típ ấy: bị gọi đúng tên thì hết tác dụng.

Rồi tới phần cốt lõi: ba cõi Baka không biết. Ābhassara (Quang âm thiên) — chính nơi Baka đã từ đó mạng chung mà quên mất; Subhakiṇṇa; Vehapphala; và Abhibhū.

Chi tiết "quên mất nơi mình từ đó sanh ra" là chi tiết sâu nhất bài kinh. Baka không nói dối. Ông thật lòng tin cảnh giới mình là tuyệt đốichỉ vì ông không nhớ được xa hơn.

Và đó là lời cảnh tỉnh cho tất cả. Cái ta cho là "tận cùng" thường chỉ là chỗ xa nhất mà ta thấy được.

Cuộc tỷ thí thần thông cuối bài rất lạ và rất hay. Hai bên thi nhau biến mất. Baka biến mất mà Thế Tôn vẫn thấy; Thế Tôn biến mất thì Baka tìm không ra.

Một chỗ xin thưa trước khi bác giảng. Bài kệ ở khoảng giữa cuộc đối đáp, theo cách phân đoạn của nguồn chúng tôi dùng thì nằm trong lời Baka; nhưng một số bản dịch khác đọc là lời Thế Tôn đáp lại. Xin đừng nói dứt khoát một chiều.

Và xin phân biệt hai cây kẻo lẫn. Đầu kinh, Ngài ở dưới gốc cây sāla; cuối kinh, thành ngữ tālāvatthukata lấy cây tāla (thốt nốt) làm ví dụ. Hai cây khác hẳn nhau, mà bản Việt đều ghi dạng "Tala".

  • "Cõi trời là chỗ cuối cùng." Bài kinh này bác đúng ý ấy.
  • "Ác ma thì phải hung dữ." Ở đây nó khen ngợikhuyên nhủ ôn hoà.
  • "Baka nói dối." Ông tin thật — vì không nhớ xa hơn.
  • Ngành Oanh. Chưa nên dạy bài này.
  • Ngành Thiếu. Kể cuộc thi biến mất — các em rất thích.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chú ý cách Ác ma mượn miệng người khác để khen — rất đáng bàn.
  • Tà kiến của Baka là gì?
  • Ác ma xuất hiện bằng cách nào?
  • Vì sao Baka không biết cõi Ābhassara?
  • Cuộc tỷ thí thần thông kết thúc ra sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.