G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 45
Bốn Lối Đi · Hạt Giống Dây Leo Māluvā

Tiểu Kinh Pháp Hành

Cūḷadhammasamādāna Sutta — MN 45 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộTiểu Kinh Pháp Hành

bốn "pháp hành"bốn cách sống — phân biệt theo cảm thọ hiện tạiquả báo tương lai. Và ví dụ hạt giống dây leo māluvāmột trong những hình ảnh hay nhất kinh tạng về thói quen xấu.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 45
  • Nơi chốn — Sāvatthi, Jetavana
  • Bốn ô — hiện tại lạc/khổ × tương lai lạc/khổ
  • Bài đi cặpMN 46, Đại kinh cùng đề mục

Kinh này Ðức Phật dạy tại tịnh xá Cấp Cô Ðộc, thành Sāvatthi, cho chúng Tỷ-kheo. Nội dung rất gọn nhưng cực kỳ thiết thực: có bốn loại "pháp hành" — tức bốn cách sống, bốn cách chọn lối đi — phân biệt theo cảm thọ hiện tại và quả báo tương lai. Thứ nhất là pháp hành hiện tại lạc mà tương lai quả báo khổ: đó là hạng người theo chủ trương "không có lỗi trong các dục", buông mình chạy theo dục lạc, chê cười những vị tu hành nói đến sự đoạn trừ dục; khi thân hoại mạng chung thì đọa vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, lúc ấy mới hiểu ra điều mà các bậc tu hành đã thấy trước. Ðể minh họa, Ðức Phật kể ví dụ hạt giống dây leo (māluvā) rơi dưới gốc cây sāla. Vị thần cây sợ hãi, nhưng bạn bè an ủi rằng hạt giống chắc sẽ bị chim khổng tước nuốt, nai ăn, lửa rừng đốt… Rốt cuộc hạt giống nẩy mầm, dây leo non "mềm mại, có lông" bám lên, cảm giác ban đầu rất khoái lạc, nhưng dần bao trùm cả cây, làm thành tàn che, và bóp nghẹt các cành lớn. Ðây là hình ảnh tuyệt hay để dạy đoàn sinh về thói quen xấu và sự lôi cuốn của dục lạc: bắt đầu thì êm ái, kết thúc thì tan nát. Thứ hai là hiện tại khổ, tương lai cũng khổ: hạng khổ hạnh ép xác đủ kiểu (lõa thể, nhịn ăn, nằm gai, nhổ râu tóc…) mà vẫn đọa xứ. Thứ ba là hiện tại khổ, tương lai lạc: người tự tánh nặng về tham, sân, si, phải vất vả, "với mặt đầy nước mắt và khóc than" vẫn giữ trọn phạm hạnh, nên được sanh thiện thú, Thiên giới. Thứ tư là hiện tại lạc, tương lai cũng lạc: người tự tánh không quá nặng tham sân si, chứng và trú bốn Thiền, sau khi mạng chung sanh vào thiện thú, Thiên giới. Bài học: đừng đánh giá một lối sống bằng cảm giác trước mắt, phải nhìn cả quả báo về sau.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika, gọi các Tỷ-kheo (đoạn 1).
  • Nêu bốn loại pháp hành — Hiện tại lạc–tương lai khổ; hiện tại khổ–tương lai khổ; hiện tại khổ–tương lai lạc; hiện tại lạc–tương lai lạc (đoạn 2).
  • Loại thứ nhất: hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ — Các Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương 'Không có lỗi trong các dục', đắm mình trong các dục, sau khi mạng chung sanh vào cõi dữ, địa ngục (đoạn 3).
  • Ví dụ hạt giống dây leo māluvā và cây sāla — Hạt giống nhỏ tưởng vô hại, nẩy mầm, dây leo bám lên cây sāla, bao trùm, làm tàn che, bóp nghẹt các cành lớn; rồi kết luận trở lại loại pháp hành thứ nhất (đoạn 4).
  • Loại thứ hai: hiện tại khổ, tương lai quả báo cũng khổ — Liệt kê dài các lối khổ hạnh ép xác (lõa thể, tiết chế ăn uống, y phục thô, nhổ râu tóc, nằm gai, tắm ba lần một đêm…), sau khi mạng chung vẫn sanh vào cõi dữ, địa ngục (đoạn 5).
  • Loại thứ ba: hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc — Người tự tánh nặng về tham ái, sân hận, si mê, dù khổ ưu và nước mắt vẫn sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch, được sanh thiện thú, Thiên giới (đoạn 6).
  • Loại thứ tư: hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc — Người tự tánh không quá nặng về tham sân si, chứng và trú bốn Thiền, được sanh thiện thú, Thiên giới; kết lại 'như vậy là bốn loại pháp hành' (đoạn 7).
  • Kết kinh — Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 45.1
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery. There the Buddha addressed the mendicants,
MN 45.2
Cattārimāni, bhikkhave, dhammasamādānāni. Katamāni cattāri? Atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhaṁ āyatiṁ dukkhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhañceva āyatiñca dukkhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannadukkhaṁ āyatiṁ sukhavipākaṁ; atthi, bhikkhave, dhammasamādānaṁ paccuppannasukhañceva āyatiñca sukhavipākaṁ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loại pháp hành này. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại khổ và tương lai quả báo cũng khổ. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Này các Tỷ-kheo, có loại pháp hành hiện tại lạc, và tương lai quả báo cũng lạc.
Mendicants, there are these four ways of taking up practices. What four? There is a way of taking up practices that is pleasant now but results in future pain. There is a way of taking up practices that is painful now and results in future pain. There is a way of taking up practices that is painful now but results in future pleasure. There is a way of taking up practices that is pleasant now and results in future pleasure.
MN 45.3
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘natthi kāmesu doso’ti.
Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như sau, có sở kiến như sau: “Không có lỗi trong các dục”. Những vị này đắm mình trong các dục, hoan lạc với các cô gái lang thang có tóc quấn trên đầu.
There are some ascetics and brahmins who have this doctrine and view: 'There's nothing wrong with sensual pleasures.' They throw themselves into sensual pleasures, cavorting with female wanderers with jeweled bands in their hair.
MN 45.3 (Pāli: câu này ở dạng khai triển nằm tại mn45:4.33; ở đoạn 3 chỉ có dạng gộp mn45:3.12)
ime hi mayaṁ kāmahetu kāmanidānaṁ dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayāmā’ti.
Nhưng chúng ta, do các dục này làm nhân, do các dục này làm duyên, phải cảm thọ những cảm giác đau khổ, thống khổ, khốc liệt”.
For it is because of sensual pleasures that I'm feeling painful, sharp, severe, acute feelings.'
MN 45.4
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse māluvāsipāṭikā phaleyya. Atha kho taṁ, bhikkhave, māluvābījaṁ aññatarasmiṁ sālamūle nipateyya.
Này các Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa nóng, một bẹ hột giống cây leo nứt ra và này các Tỷ-kheo, một hột giống cây leo rơi dưới gốc một cây sāla.
Suppose that in the last month of summer a camel's foot creeper pod were to burst open and a seed were to fall at the root of a sal tree.
MN 45.4 (Pāli mn45:4.14–4.17 — ô này chỉ trích câu mở đầu của chuỗi)
Sā taṁ sālaṁ anuparihareyya.
Cây leo ấy có thể bao trùm cây sāla ấy, sau khi bao trùm, liền làm thành một tàn che trên cây ấy, và ở dưới khởi lên cả một lùm cây rậm rạp. Khi ở dưới khởi lên cả một lùm cây rậm rạp, các cành lớn của cây sāla ấy có thể bị bóp nghẹt.
Then the creeper enfolded the sal tree, made a canopy over it, draped a curtain around it, and split apart all the main branches.
MN 45.6
So sahāpi dukkhena, sahāpi domanassena, assumukhopi rudamāno paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati.
Với khổ và với ưu, với mặt đầy nước mắt và khóc than, vị ấy sống theo phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
They lead the full and pure spiritual life in pain and sadness, weeping, with tearful faces. When their body breaks up, after death, they're reborn in a good place, a heavenly realm.
MN 45.7
So vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Vị ấy ly dục, ly các pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ; diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm; ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba; xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption.
MN 45.7
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dhammasamādānapháp hành — sự thọ trì, chấp nhận và thực hành một lối sốngHT. Minh Châu dịch là “pháp hành”; Sujato: “way of taking up practices”.
paccuppannahiện tại
āyatiṁtương lai, về sau
vipākaquả báo, kết quả chín muồi của nghiệp
sukha / dukkhalạc (an vui) / khổ
kāmadục, dục lạc ngũ trần“natthi kāmesu doso” = “Không có lỗi trong các dục” — tà kiến bị bác trong kinh.
māluvāmột loại dây leo bám siết cây khác; ví dụ then chốt của kinhSujato: camel's foot creeper.
sālacây sa-la (sāla), loại cây lớn trong rừng Ấn Ðộ
brahmacariyaphạm hạnh, đời sống thanh tịnh
jhānathiền (bốn cấp thiền sắc giới)
sugati / saggaṁ lokaṁthiện thú / Thiên giới
apāya, duggati, vinipāta, nirayacõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục

Bài kinh này chỉ có một cái bảng bốn ô — nhưng cái bảng ấy đo được cả đời người. Hàng ngang: bây giờ vui hay khổ. Hàng dọc: sau này vui hay khổ.

Ô thứ nhất: hiện tại lạc, tương lai khổ. Đó là hạng theo chủ trương "không có lỗi trong các dục", buông mình chạy theo dục lạc, và còn chê cười những vị tu hành nói đến sự đoạn trừ dục.

Và ví dụ hạt giống dây leo là chỗ đáng chép ra dạy. Một hạt giống māluvā rơi dưới gốc cây sāla. Vị thần cây sợ hãi — nhưng bạn bè an ủi: hạt ấy chắc sẽ bị chim khổng tước nuốt, nai ăn, lửa rừng đốt

Không con nào ăn, không lửa nào đốt. Hạt nẩy mầm. Và dây leo non thì "mềm mại, có lông"cảm giác ban đầu rất khoái.

Rồi nó lớn. Bao trùm cả cây, làm thành tàn che, và bóp nghẹt các cành lớn. Cái mở đầu êm ái kết thúc bằng tan nát.

Đây là ví dụ hay nhất để dạy về thói quen. Không có thói xấu nào bắt đầu bằng đau đớn. Và lời an ủi của bạn bè vị thần cây — "chắc không sao đâu" — cũng rất quen tai.

Ô thứ hai: hiện tại khổ, tương lai cũng khổ. Hạng khổ hạnh ép xác đủ kiểulõa thể, nhịn ăn, nằm gai, nhổ râu tócmà vẫn đọa. Khổ hai lần, không được gì.

Ô thứ ba: hiện tại khổ, tương lai lạc. Người bản tánh nặng về tham, sân, si nên tu rất chật vật"với khổ và với ưu, với mặt đầy nước mắt và khóc than"nhưng vẫn sống phạm hạnh đầy đủ trong sạch, và sanh cõi lành.

Xin dừng ở ô này một chút, vì nó an ủi rất nhiều người. Kinh không đòi ai cũng phải tu một cách nhẹ nhàng hoan hỷ. Tu mà khóc vẫn được tính.

Ô thứ tư: hiện tại lạc, tương lai cũng lạc. Người bản tánh không nặng tham sân si, chứng bốn Thiềnvui ngay bây giờ và vui về sau.

Cách dùng bảng này rất giản dị. Việc gì đang làm — hỏi nó nằm ô nào. Phần lớn cái ta ham nằm ở ô thứ nhất.

  • "Khổ hạnh nào cũng đưa tới quả lành." Ô thứ hai: khổ hai lần, không được gì.
  • "Tu mà khóc là tu sai." Ô thứ ba nói rõ vẫn đầy đủ trong sạch.
  • "Dây leo bị chặt ngay từ đầu." Kinh kể không ai chặt cả — đó mới là điểm.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện dây leo và cây sāla — rất dễ nhớ.
  • Ngành Thiếu. Vẽ bảng bốn ô rồi xếp thử vài việc hằng ngày vào.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bàn ô thứ ba — người tu chật vật vẫn tới nơi.
  • Bốn loại pháp hành là gì?
  • Vì sao dây leo non lại “mềm mại, có lông”?
  • Ô nào là tệ nhất? Vì sao?
  • Người tu mà khóc than thuộc ô nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.