G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 44
Ni Sư Dhammadinnā Thuyết Pháp · Được Thế Tôn Ấn Chứng

Tiểu Kinh Phương Quảng

Cūḷavedalla Sutta — MN 44 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộTiểu Kinh Phương Quảng

Một trong rất ít bài kinh do một vị Tỷ-kheo-ni thuyết. Nam cư sĩ Visākha hỏi một chuỗi câu hỏi giáo lý sâu; Ni sư Dhammadinnā trả lời gọn và chính xác. Cuối kinh, Thế Tôn ấn chứng: "nếu Ông hỏi Ta ý nghĩa ấy, Ta cũng trả lời như vậy."

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 44
  • Nơi chốnRājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm)
  • Người thuyết — Tỷ-kheo-ni Dhammadinnā
  • Đóng góp lớn nhất — bản văn kinh điển cho lược đồ Giới — Định — Tuệ

Tiểu kinh Phương quảng (MN 44) là một trong những bài kinh hiếm hoi mà người thuyết pháp là một vị Tỷ-kheo-ni: Ni sư Dhammadinnā. Nam cư sĩ Visākha đến Trúc Lâm ở Vương Xá, lần lượt đặt một chuỗi câu hỏi giáo lý sâu, và Ni sư trả lời gọn gàng, chính xác. Cuối kinh, Thế Tôn ấn chứng: "Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Hiền trí, là bậc Ðại tuệ… nếu Ông hỏi Ta ý nghĩa ấy, Ta cũng trả lời như vậy." Nội dung đi theo bốn phần quen thuộc của Tứ Đế nhưng đặt trên chữ "tự thân" (sakkāya): tự thân chính là năm thủ uẩn; tự thân tập khởi là khát ái đưa đến tái sanh; tự thân diệt là sự đoạn diệt không dư tàn của khát ái; con đường đưa đến tự thân diệt là Thánh đạo Tám ngành. Tiếp đó Ni sư giảng thân kiến (chấp mỗi uẩn là ngã theo bốn cách) và ngược lại là không có thân kiến. Phần giữa rất quý cho người tu tập: Bát chánh đạo là pháp hữu vi và được ba uẩn thâu nhiếp — chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc giới; chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc định; chánh tri kiến, chánh tư duy thuộc tuệ. Đây là bản văn kinh điển cho lược đồ Giới - Định - Tuệ. Về định: nhất tâm là định, Bốn Niệm Xứ là định tướng, Bốn Tinh cần là định tư cụ. Kế đến là ba hành (thở vô thở ra là thân hành, tầm tứ là khẩu hành, tưởng và thọ là tâm hành), rồi Diệt thọ tưởng định: cách nhập, cách xuất, thứ tự các hành diệt và khởi lại, ba xúc khi xuất định và tâm hướng về độc cư. Phần thọ dạy ba thọ và ba tùy miên ngủ ngầm nơi chúng (tham nơi lạc, sân nơi khổ, vô minh nơi bất khổ bất lạc) — nhưng nhấn mạnh không phải trong tất cả, vì trong các thiền chứng chúng đã được từ bỏ. Kinh khép lại bằng chuỗi "đối tác" dẫn lên: vô minh - minh - giải thoát - Niết-bàn; khi Visākha hỏi Niết-bàn lấy gì làm tương đương, Ni sư dạy câu hỏi đã đi quá xa, vì "phạm hạnh là để thể nhập vào Niết-bàn".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn ở Rājagaha, Trúc Lâm, chỗ Kalandaka Nivapa. Nam cư sĩ Visākha đến đảnh lễ và thưa hỏi Tỷ-kheo-ni Dhammadinnā.
  • Tự thân (Sakkāya) và bốn phần: tự thân, tập khởi, đoạn diệt, con đường — Năm thủ uẩn là tự thân; khát ái là tự thân tập khởi; đoạn diệt khát ái là tự thân diệt; Thánh đạo Tám ngành là tự thân diệt đạo. Thủ không khác với năm thủ uẩn: dục tham đối với năm thủ uẩn chính là thủ.
  • Thân kiến và không phải thân kiến — Kẻ vô văn phàm phu xem mỗi uẩn theo bốn cách là tự ngã; vị Ða văn Thánh đệ tử không xem như vậy.
  • Bát chánh đạo và ba uẩn (giới - định - tuệ) — Thánh đạo Tám ngành là hữu vi; Thánh đạo Tám ngành bị ba uẩn thâu nhiếp: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc giới uẩn; chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc định uẩn; chánh tri kiến, chánh tư duy thuộc tuệ uẩn.
  • Ðịnh — Nhất tâm là định; Bốn Niệm Xứ là định tướng; Bốn Tinh cần là định tư cụ; sự luyện tập và tái tu tập các pháp ấy là định tu tập.
  • Hành (saṅkhāra) — Ba hành: thân hành (thở vô thở ra), khẩu hành (tầm tứ), tâm hành (tưởng và thọ), cùng lý do vì sao gọi như vậy.
  • Diệt thọ tưởng định — Cách chứng nhập và xuất khởi (không khởi ý nghĩ nào, vì tâm đã tu tập trước); thứ tự các hành diệt (khẩu, thân, tâm) và khởi lại (tâm, thân, khẩu); ba xúc khi xuất định: không, vô tướng, vô nguyện; tâm thiên về độc cư.
  • Thọ — Ba thọ: lạc, khổ, bất khổ bất lạc; định nghĩa từng thọ; lạc thọ trú là lạc biến hoại là khổ, khổ thọ trú là khổ biến hoại là lạc, bất khổ bất lạc thọ có trí là lạc vô trí là khổ.
  • Tùy miên — Tham tùy miên nơi lạc thọ, sân tùy miên nơi khổ thọ, vô minh tùy miên nơi bất khổ bất lạc thọ — nhưng không phải trong tất cả; nêu ba trường hợp thiền chứng (Thiền thứ nhất, ước nguyện hướng đến giải thoát vô thượng, Thiền thứ tư).
  • Ðối tác (paṭibhāga) và giới hạn của câu hỏi — Lạc - khổ đối nhau; bất khổ bất lạc thọ lấy vô minh; vô minh lấy minh; minh lấy giải thoát; giải thoát lấy Niết-bàn. Hỏi tiếp về Niết-bàn thì câu hỏi đã đi quá xa.
  • Kết luận: Thế Tôn ấn chứng — Visākha thuật lại với Thế Tôn; Thế Tôn khen Tỷ-kheo-ni Dhammadinnā là bậc Hiền trí, bậc Ðại tuệ, và nói Ngài cũng trả lời như vậy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 44, SC 3 (mn44:2.3-2.5)
Pañca kho ime, āvuso visākha, upādānakkhandhā sakkāyo vutto bhagavatā, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho.
Hiền giả Visākha, Thế Tôn gọi năm thủ uẩn là tự thân, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Hiền giả Visākha, năm thủ uẩn này, Thế Tôn gọi là tự thân.
Visākha, the Buddha said that these five grasping aggregates are substantial reality. That is, the grasping aggregates of form, feeling, perception, choices, and consciousness.
MN 44, SC 13 (mn44:6)
Không phải, Hiền giả Visākha. Thủ này tức là năm thủ uẩn kia, thủ này không khác với năm thủ uẩn kia, Hiền giả Visākha, phàm có dục tham đối với năm thủ uẩn, tức là (chấp) thủ đối với chúng ở đây vậy.
The grasping is neither the exact same thing as the five grasping aggregates, nor is it something separate. The desire and greed for the five grasping aggregates is the grasping there.
MN 44, SC 23 (mn44:11.2-11.3)
Na kho, āvuso visākha, ariyena aṭṭhaṅgikena maggena tayo khandhā saṅgahitā; tīhi ca kho, āvuso visākha, khandhehi ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅgahito. Yā cāvuso visākha, sammāvācā yo ca sammākammanto yo ca sammāājīvo ime dhammā sīlakkhandhe saṅgahitā.
Hiền giả Visākha, ba uẩn không bị Thánh đạo Tám ngành thâu nhiếp; Hiền giả Visākha, Thánh đạo Tám ngành bị ba uẩn thâu nhiếp. Hiền giả Visākha, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, những pháp này được thâu nhiếp trong giới uẩn. Chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định, những pháp này được thâu nhiếp trong định uẩn. Chánh tri kiến và chánh tư duy, những pháp này được thâu nhiếp trong tuệ uẩn
The three spectrums of practice are not included in the noble eightfold path. Rather, the noble eightfold path is included in the three spectrums of practice. Right speech, right action, and right livelihood: these things are included in the spectrum of ethics.
MN 44, SC 25 (mn44:12.2-12.4)
Yā kho, āvuso visākha, cittassa ekaggatā ayaṁ samādhi; cattāro satipaṭṭhānā samādhinimittā; cattāro sammappadhānā samādhiparikkhārā.
Hiền giả Visākha, nhất tâm là định, Bốn Niệm Xứ là định tướng, Bốn Tinh cần là định tư cụ, sự luyện tập, sự tu tập, sự tái tu tập của những pháp ấy là định tu tập ở đây vậy.
Unification of the mind is immersion. The four kinds of mindfulness meditation are the bases for immersion. The four right efforts are the prerequisites for immersion.
MN 44, SC 29 (mn44:14.2)
Assāsapassāsā kho, āvuso visākha, kāyasaṅkhāro, vitakkavicārā vacīsaṅkhāro, saññā ca vedanā ca cittasaṅkhāro”ti.
Thở vô, thở ra, Hiền giả Visākha, là thân hành, tầm tứ là khẩu hành, tưởng và thọ là tâm hành.
Breathing is a physical process. Placing the mind and keeping it connected are a verbal process. Perception and feeling are a mental process.
MN 44, SC 49 (mn44:24.2)
Sukhā kho, āvuso visākha, vedanā ṭhitisukhā vipariṇāmadukkhā;
Hiền giả Visākha, đối với lạc thọ, cái gì trú là lạc, cái gì biến hoại là khổ. Ðối với khổ thọ, cái gì trú là khổ, cái gì biến hoại là lạc. Ðối với bất khổ bất lạc thọ, có trí là lạc, vô trí là khổ.
Pleasant feeling is pleasant when it remains and painful when it perishes.
MN 44, SC 51 (mn44:25.2)
Sukhāya kho, āvuso visākha, vedanāya rāgānusayo anuseti, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo anuseti, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo anusetī”ti.
Hiền giả Visākha, trong lạc thọ, tham tùy miên tồn tại; trong khổ thọ, sân tùy miên tồn tại; trong tất cả bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên tồn tại.
The underlying tendency for greed underlies pleasant feeling. The underlying tendency for aversion underlies painful feeling. The underlying tendency for ignorance underlies neutral feeling.
MN 44, SC 73 (mn44:29.14-29.16)
Accayāsi, āvuso visākha, pañhaṁ, nāsakkhi pañhānaṁ pariyantaṁ gahetuṁ. Nibbānogadhañhi, āvuso visākha, brahmacariyaṁ, nibbānaparāyanaṁ nibbānapariyosānaṁ.
Hiền giả Visākha, câu hỏi đi quá xa, vượt ra ngoài giới hạn câu trả lời. Hiền giả Visākha, phạm hạnh là để thể nhập vào Niết-bàn, để vượt qua đến Niết-bàn, để đạt cứu cánh Niết-bàn.
Your question goes too far, Visākha. You weren’t able to grasp the limit of questioning. For extinguishment is the objective, destination, and culmination of the spiritual life.
MN 44, SC 75 (mn44:30.4-30.5)
paṇḍitā, visākha, dhammadinnā bhikkhunī, mahāpaññā, visākha, dhammadinnā bhikkhunī. Mañcepi tvaṁ, visākha, etamatthaṁ puccheyyāsi, ahampi taṁ evamevaṁ byākareyyaṁ, yathā taṁ dhammadinnāya bhikkhuniyā byākataṁ.
Này Visākha, Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Hiền trí! Này Visākha, Tỷ-kheo-ni Dhammadinna là bậc Ðại tuệ. Này Visākha, nếu Ông hỏi Ta ý nghĩa ấy, Ta cũng trả lời như Tỷ-kheo-ni Dhammadinna đã trả lời.
The nun Dhammadinnā is astute, Visākha, she has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as the nun Dhammadinnā.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sakkāyatự thân — tức năm thủ uẩnBản Minh Châu dịch là "tự thân"; Anh ngữ Sujato: substantial reality
sakkāyadiṭṭhithân kiến — chấp năm uẩn là ngã, theo 20 cách (mỗi uẩn 4 cách)
upādānakkhandhathủ uẩn — năm uẩn bị chấp thủ: sắc, thọ, tưởng, hành, thức
taṇhākhát ái — dục ái, hữu ái, phi hữu ái; là tự thân tập khởi
ariyo aṭṭhaṅgiko maggoThánh đạo Tám ngành (Bát chánh đạo); kinh nói đây là pháp hữu vi (saṅkhata)
sīlakkhandha / samādhikkhandha / paññākkhandhagiới uẩn / định uẩn / tuệ uẩn — ba uẩn thâu nhiếp Bát chánh đạo
cittassa ekaggatānhất tâm — chính là định (samādhi)
samādhinimitta / samādhiparikkhāra / samādhibhāvanāđịnh tướng (Bốn Niệm Xứ) / định tư cụ (Bốn Tinh cần) / định tu tập
saṅkhārahành — thân hành (kāyasaṅkhāra), khẩu hành (vacīsaṅkhāra), tâm hành (cittasaṅkhāra)
saññāvedayitanirodhaDiệt thọ tưởng định — sự chấm dứt của tưởng và thọ
vedanāthọ — lạc thọ (sukhā), khổ thọ (dukkhā), bất khổ bất lạc thọ (adukkhamasukhā)
anusayatùy miên — khuynh hướng ngủ ngầm: rāgānusaya (tham), paṭighānusaya (sân), avijjānusaya (vô minh)
paṭibhāgađối tác — cái đối lại, dùng trong chuỗi thọ → vô minh → minh → giải thoát → Niết-bàn
vijjā / vimutti / nibbānaminh / giải thoát / Niết-bàn
suññata-, animitta-, appaṇihita-phassakhông xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc — ba xúc khi xuất Diệt thọ tưởng định

Điều đáng thưa trước tiên là ai đang nói. Người thuyết là một vị Tỷ-kheo-ni, người hỏi là một nam cư sĩ, và Đức Phật ấn chứng ở cuối. Trong tạng kinh, chuyện này rất hiếm — và rất đáng để dạy các em.

Cả bài xoay quanh chữ tự thân — sakkāya. Tự thân chính là năm thủ uẩn; tự thân tập khởikhát ái đưa đến tái sanh; tự thân diệtkhát ái đoạn diệt không dư tàn; con đườngThánh đạo Tám ngành. Đó là Bốn Thánh đế đặt trên chữ tự thân.

Rồi tới đoạn được trích dẫn nhiều nhất trong toàn bài. Bát chánh đạo được ba uẩn thâu nhiếp: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng thuộc Giới; chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định thuộc Định; chánh tri kiến, chánh tư duy thuộc Tuệ.

Xin để ý một chi tiết dễ bị đảo. Ni sư nói Bát chánh đạo được ba uẩn thâu nhiếp, chứ không phải ba uẩn được Bát chánh đạo thâu nhiếp. Chiều của câu không đổi được.

Phần định trả lời rất gọn ba câu hỏi khác nhau. Nhất tâm là định; Bốn Niệm Xứ là định tướng; Bốn Tinh cần là định tư cụ. Ba chữ khác nhau, đừng gộp làm một.

Ba hành cũng được định nghĩa rất rõ. Thở vô thở rathân hành; tầm và tứkhẩu hành; tưởng và thọtâm hành. Đây là chỗ tra cứu chuẩn khi bàn về Diệt thọ tưởng định.

Phần thọ thì rất thiết thực. Tham tùy miên ngủ ngầm nơi lạc thọ, sân tùy miên nơi khổ thọ, vô minh tùy miên nơi bất khổ bất lạc thọ. Nhưng Ni sư nhấn mạnh: không phải lúc nào cũng vậycó cách thoát.

Câu kết của bài kinh là câu đáng nhớ nhất. Khi Visākha hỏi tới chỗ vượt quá tầm câu hỏi, Ni sư nói ông đã hỏi quá xa và bảo đi hỏi Thế Tôn. Và Thế Tôn trả lời đúng như Ni sư: "Tỷ-kheo-ni Dhammadinnā là bậc Hiền trí, là bậc Ðại tuệ."

  • "Nữ giới không thuyết pháp trong kinh." Bài này là bằng chứng ngược lại, và được Phật ấn chứng.
  • "Giới định tuệ là do đời sau xếp ra." Chính bài kinh này xếp.
  • "Cứ có lạc thọ là có tham." Ni sư nói rõ không phải lúc nào cũng vậy.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện: một vị Sư cô giảng đạo, Đức Phật khen đúng.
  • Ngành Thiếu. Cho các em xếp tám chi Bát chánh đạo vào ba nhóm Giới — Định — Tuệ.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đây là bài rất nên dùng khi nói về vai trò của nữ giới trong Gia Đình Phật Tử.
  • Ai là người thuyết bài kinh này?
  • Tám chi đạo được xếp vào ba uẩn nào?
  • Định tướngđịnh tư cụ khác nhau thế nào?
  • Ba tùy miên ngủ ngầm nơi ba thọ nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.