G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 26
Trung Bộ Kinh · Đức Phật Kể Cuộc Đi Tìm

Kinh Thánh Cầu

Ariyapariyesanā Sutta — Trung Bộ 26 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Thánh Cầu

Bài kinh này quý ở chỗ Đức Phật kể lại cuộc đời mình bằng ngôi thứ nhất. Và Ngài kể cả những chỗ mà một người kém thành thật sẽ giấu: việc Ngài bỏ hai vị thầy mà ra đi, và giây phút sau khi thành đạo Ngài do dự không muốn thuyết pháp.

  • Bộ — Trung Bộ, MN 26; còn có tên Pāsarāsi Sutta
  • Nơi nói — Sāvatthī, Kỳ Viên
  • Hai loại tầm cầuphi thánh cầu (tìm cái cũng bị già bệnh chết) và thánh cầu (tìm cái không già bệnh chết)
  • Hai vị thầyĀḷāra KālāmaUddaka Rāmaputta
  • Kết — chuyển Pháp Luân cho năm anh em Kiều-Trần-Như tại Isipatana

Kinh Thánh Cầu là một trong những bài kinh quan trọng nhất về cuộc đời Ðức Phật, vì chính Ngài tự kể lại con đường đi tìm giải thoát của mình. Kinh được thuyết tại tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka, gần Savatthi. Mở đầu, Ðức Phật nêu hai loại tầm cầu. Phi Thánh cầu là: tự mình đã bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, ô nhiễm, mà vẫn đi tìm những thứ cũng bị sanh, già, bệnh, chết — vợ con, tôi tớ, gia súc, vàng bạc — rồi nắm giữ, tham đắm, mê say. Thánh cầu là: sau khi biết rõ sự nguy hại của những cái ấy, đi tìm cái vô sanh, không già, không bệnh, bất tử, không sầu, không ô nhiễm, tức "vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn". Ngài kể: chính Ngài khi còn là Bồ-tát cũng đã tầm cầu sai như vậy, cho đến khi tự phản tỉnh. Còn trẻ, tóc đen nhánh, dù cha mẹ nước mắt đầy mặt than khóc không bằng lòng, Ngài vẫn cạo bỏ râu tóc, xuất gia. Ngài học với Alara Kalama và chứng ngay Vô sở hữu xứ; học với Uddaka Ramaputta và chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Āḷāra Kālāma mời Ngài cùng lãnh đạo hội chúng ngang hàng với mình; còn Uddaka Rāmaputta thì tôn Ngài lên làm thầy của cả hội chúng, nhưng Ngài nhận ra pháp ấy "không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn", nên bỏ đi. Ðến Uruvela, thấy một địa điểm khả ái đủ để tinh tấn, Ngài ngồi xuống và chứng Niết-bàn: "Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng." Vì Pháp quá sâu kín khó thấy, ban đầu Ngài không muốn thuyết; Phạm thiên Sahampati thỉnh cầu, Ngài nhìn thế gian bằng Phật nhãn, thấy chúng sanh như ba hạng hoa sen, và mở "cửa bất tử". Ngài đến Lộc Uyển giáo hóa nhóm năm Tỷ-kheo. Cuối kinh, Ngài dạy về năm dục trưởng dưỡng qua ví dụ con nai sập bẫy, và các bậc Thiền, các cõi Không, cho đến Diệt thọ tưởng định — mỗi bậc đều làm Ác ma mù mắt. Với Huynh Trưởng, bài học cốt lõi rất rõ: phải xét lại mình đang tầm cầu cái gì, và dám bỏ đi khi con đường không đưa đến giải thoát, dù ở đó mình được tôn sùng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Thế Tôn đến tịnh thất Bà-la-môn Rammaka (MN 26.1–4) — Thế Tôn ở Savatthi, Jetavana, vườn ông Anathapindika. Sau khi khất thực, Ngài cùng Tôn giả Ananda đến Pubbarama rồi đến Pubbakotthaka rửa tay chân, sau đó đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka, nơi một số đông Tỷ-kheo đang hội họp thuyết pháp. Ngài dạy: khi hội họp có hai việc cần làm — "luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh".
  • (Hai loại tầm cầu) — Phi Thánh cầu (MN 26.5–11) — Có hai loại tầm cầu: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Phi Thánh cầu là tự mình bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, ô nhiễm lại đi tìm cầu chính những cái bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, ô nhiễm — kể ra là vợ con, tôi tớ, dê cừu, gà heo, voi bò ngựa, vàng bạc.
  • (Hai loại tầm cầu) — Thánh cầu (MN 26.12) — Thánh cầu là tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; cũng vậy với già, bệnh, chết, sầu, ô nhiễm.
  • (Thánh cầu Giải thoát) — Bồ-tát xuất gia và học với hai vị thầy (MN 26.13–16) — Khi còn là Bồ-tát, Ngài cũng tầm cầu cái bị sanh, rồi tự phản tỉnh và quyết định tìm cầu Niết-bàn. Còn trẻ, tóc đen nhánh, dù cha mẹ khóc không bằng lòng, Ngài xuất gia. Ngài học với Alara Kalama, chứng Vô sở hữu xứ; học với Uddaka Ramaputta, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cả hai lần Ngài đều nhận ra pháp ấy "không hướng đến yểm ly… chỉ đưa đến sự chứng đạt" các cõi thiền ấy, nên không tôn kính và bỏ đi.
  • (Giác Ngộ) — Uruvela và chứng Niết-bàn (MN 26.17–18) — Ngài du hành đến Uruvela, thấy địa điểm khả ái, khóm rừng thoải mái, sông trong sáng, làng mạc để khất thực, và ngồi xuống: "Thật là vừa đủ để tinh tấn". Rồi Ngài chứng được cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, không ô nhiễm — vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tri kiến khởi lên: sự giải thoát không bị dao động, đây là đời sống cuối cùng.
  • Do dự thuyết pháp và lời thỉnh cầu của Phạm thiên Sahampati (MN 26.19–21) — Pháp Ngài chứng "sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu", nên tâm Ngài hướng về vô vi thụ động. Phạm thiên Sahampati hiện ra ba lần thỉnh cầu bằng lời và kệ. Với Phật nhãn, Ngài nhìn thế giới và thấy chúng sanh như ba hạng hoa sen trong hồ; rồi Ngài nói kệ "Cửa bất tử rộng mở".
  • (Khai giảng Chánh Pháp) — Upaka và nhóm năm Tỷ-kheo (MN 26.22–30) — Ngài nghĩ đến Alara Kalama (đã mệnh chung bảy ngày) và Uddaka Ramaputta (mệnh chung hôm qua), rồi nhớ đến nhóm năm Tỷ-kheo ở Isipatana, vườn Lộc Uyển. Trên đường, tà mạng ngoại đạo Upaka hỏi Ngài và nghe bài kệ "Ta, bậc Thắng tất cả"; Upaka lắc đầu đi theo ngã khác. Ðến Lộc Uyển, nhóm năm Tỷ-kheo lúc đầu không muốn tiếp đón, ba lần chất vấn, cuối cùng chấp nhận và được Ngài giáo hóa, đều chứng Niết-bàn.
  • (Năm dục) — Ví dụ con nai, các bậc thiền và làm mù mắt Ác ma (MN 26.31–42) — Năm dục trưởng dưỡng là sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái khả hỷ. Sa-môn, Bà-la-môn bị trói buộc trong đó như con nai sập bẫy, bị Ác ma sử dụng như ý muốn; ai không tham đắm thì như con nai không sập bẫy. Rồi Ngài dạy bốn Thiền, bốn Không (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ) và Diệt thọ tưởng định với lậu hoặc đoạn trừ — mỗi bậc đều "làm Ác ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma". Kinh kết: các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

MN 26.5
Dvemā, bhikkhave, pariyesanā—ariyā ca pariyesanā, anariyā ca pariyesanā. Katamā ca, bhikkhave, anariyā pariyesanā? Idha, bhikkhave, ekacco attanā jātidhammo samāno jātidhammaṁyeva pariyesati, attanā jarādhammo samāno jarādhammaṁyeva pariyesati, attanā byādhidhammo samāno byādhidhammaṁyeva pariyesati, attanā maraṇadhammo samāno maraṇadhammaṁyeva pariyesati, attanā sokadhammo samāno sokadhammaṁyeva pariyesati, attanā saṅkilesadhammo samāno saṅkilesadhammaṁyeva pariyesati.
Này các Tỷ-kheo, có hai loại tầm cầu này: Thánh cầu và phi Thánh cầu. Chư Tỷ-kheo, và thế nào là phi Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.
Mendicants, there are these two quests: the noble quest and the ignoble quest. And what is the ignoble quest? It’s when someone who is themselves liable to be reborn seeks what is also liable to be reborn. Themselves liable to grow old, fall sick, die, sorrow, and become corrupted, they seek what is also liable to these things.
MN 26.12
Katamā ca, bhikkhave, ariyā pariyesanā? Idha, bhikkhave, ekacco attanā jātidhammo samāno jātidhamme ādīnavaṁ viditvā ajātaṁ anuttaraṁ yogakkhemaṁ nibbānaṁ pariyesati … Ayaṁ, bhikkhave, ariyā pariyesanā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu.
And what is the noble quest? It’s when someone who is themselves liable to be reborn, understanding the drawbacks in being liable to be reborn, seeks that which is free of rebirth, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment. Themselves liable to grow old, fall sick, die, sorrow, and become corrupted, understanding the drawbacks in these things, they seek that which is free of old age, sickness, death, sorrow, and corruption, the supreme sanctuary from the yoke, extinguishment. This is the noble quest.
MN 26.14
So kho ahaṁ, bhikkhave, aparena samayena daharova samāno susukāḷakeso, bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā akāmakānaṁ mātāpitūnaṁ assumukhānaṁ rudantānaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ.
Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Some time later, while still with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life—though my mother and father wished otherwise, weeping with tearful faces—I shaved off my hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness.
MN 26.15 (đoạn cuối, về Alara Kalama)
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, etadahosi: ‘nāyaṁ dhammo nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, yāvadeva ākiñcaññāyatanūpapattiyā’ti. So kho ahaṁ, bhikkhave, taṁ dhammaṁ analaṅkaritvā tasmā dhammā nibbijja apakkamiṁ.
Này các Tỷ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
Then it occurred to me, ‘This teaching doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. It only leads as far as rebirth in the dimension of nothingness.’ Realizing that this teaching was inadequate, I left disappointed.
MN 26.18
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi: ‘akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo’ti.
Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa.
Knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’
MN 26.19
‘adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo. Ālayarāmā kho panāyaṁ pajā ālayaratā ālayasammuditā … duddasaṁ idaṁ ṭhānaṁ yadidaṁ—idappaccayatā paṭiccasamuppādo. Idampi kho ṭhānaṁ duddasaṁ yadidaṁ—sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ.’
Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn."
Then it occurred to me, ‘This principle I have discovered is deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute. But people like clinging, they love it and enjoy it. It’s hard for them to see this topic; that is, specific conditionality, dependent origination. It’s also hard for them to see this topic; that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’
MN 26.21 (kệ đáp Phạm thiên Sahampati)
‘Apārutā tesaṁ amatassa dvārā,
Ye sotavanto pamuñcantu saddhaṁ;
Vihiṁsasaññī paguṇaṁ na bhāsiṁ,
Dhammaṁ paṇītaṁ manujesu brahme’ti.
Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
‘Flung open are the doors to freedom from death! Let those with ears to hear commit to faith. Thinking it would be troublesome, Divinity, I did not teach the sophisticated, sublime Dhamma among mankind.’
MN 26.25 (kệ nói với tà mạng ngoại đạo Upaka)
‘Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi,
Sabbesu dhammesu anūpalitto;
Sabbañjaho taṇhākkhaye vimutto,
Sayaṁ abhiññāya kamuddiseyyaṁ.
Na me ācariyo atthi,
sadiso me na vijjati;
Sadevakasmiṁ lokasmiṁ,
natthi me paṭipuggalo.
Ta, bậc Thắng tất cả,
Ta, bậc Nhất thiết Trí.
Hết thảy pháp, không nhiễm,
Hết thảy pháp, xả ly.
Ta sống chân giải thoát,
Ðoạn tận mọi khát ái.
Như vậy Ta tự giác,
Còn phải y chỉ ai?
Ta không có Ðạo Sư,
Bậc như Ta không có.
Giữa thế giới Nhơn, Thiên,
Không có ai bằng Ta.
‘I am the vanquisher of all, the knower of all, unsullied in the midst of all things. I’ve given up all, freed through the ending of craving. Since I know for myself, whose follower should I be? I have no tutor. There is no one like me. In the world with its gods, I have no rival.’
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pariyesanāsự tầm cầu, sự đi tìmBản Việt dịch là "tầm cầu".
ariyapariyesanāThánh cầu — sự tìm cầu của bậc Thánh, tức tìm cầu Niết-bàn
anariyapariyesanāphi Thánh cầu — tìm cầu những gì còn bị sanh, già, bệnh, chết
jātidhamma / jarādhamma / byādhidhamma / maraṇadhamma / sokadhamma / saṅkilesadhammacái bị sanh / bị già / bị bệnh / bị chết / bị sầu / bị ô nhiễm
yogakkhemaan ổn khỏi các khổ áchThường đi với "anuttaraṁ" — vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
nibbānaNiết-bàn
upadhisanh y, chấp thủ, nền tảng của tái sanh"sabbūpadhipaṭinissaggo" — sự trừ bỏ tất cả sanh y.
idappaccayatā paṭiccasamuppādaY Tánh Duyên Khởi Pháp — lý duyên khởiBản Việt giữ nguyên chữ Pali trong ngoặc.
nibbidā – virāga – nirodha – upasama – abhiññā – sambodha – nibbānayểm ly – ly tham – đoạn diệt – an tịnh – thượng trí – giác ngộ – Niết-bànBảy tiêu chuẩn Bồ-tát dùng để bác bỏ pháp của hai vị thầy cũ.
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứChứng đắc của Alara Kalama.
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứChứng đắc của Uddaka Ramaputta.
bodhisattaBồ-tát — bậc chưa chứng Chánh Ðẳng Giác
pabbajjā / pabbajixuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình
brahmā sahampatiPhạm thiên Sahampati — vị thỉnh Phật thuyết pháp
buddhacakkhuPhật nhãn
apparajakkhaít nhiễm bụi đời (bụi trong mắt ít)
amatassa dvārācửa bất tử
pañcavaggiyā bhikkhūnhóm năm Tỷ-kheo
kāmaguṇadục trưởng dưỡng — năm đối tượng của dục (sắc, thanh, hương, vị, xúc)
māraÁc ma
jhānaThiền (bốn bậc Thiền)
saññāvedayitanirodhaDiệt thọ tưởng định
āsavalậu hoặc
akuppā vimuttisự giải thoát không bị dao động (bất động giải thoát)

Hai loại tầm cầu — chỗ mở bài. Phi thánh cầu là: chính mình bị sanh, già, bệnh, chết, sầu, uế nhiễm, mà lại đi tìm những thứ cũng bị sanh, già, bệnh, chết. Thánh cầu là biết rõ nguy hiểm ấy rồi đi tìm cái không sanh, không già, không bệnh, không chết. Ngài đặt hai chữ ấy trước khi kể chuyện mình — để người nghe biết Ngài đang đo bằng thước nào.

Ngài bỏ hai vị thầy — và kể rất trân trọng. Với Āḷāra Kālāma, Ngài chứng được Vô Sở Hữu Xứ, và vị thầy mời Ngài cùng lãnh đạo hội chúng, ngang hàng với mình. Với Uddaka Rāmaputta, Ngài chứng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, và vị này tôn Ngài lên làm thầy của cả hội chúng — còn hơn ngang hàng. Ngài vẫn ra đi, vì thấy pháp này không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.

Vì sao chi tiết ấy đáng học. Ngài không chê hai vị thầy. Ngài chứng đúng chỗ các vị ấy dạy, thừa nhận các vị ấy đã dạy hết, rồi mới đi. Đây là cách rời một người thầy cho phải đạo — không phải bỏ vì bất mãn, mà đi vì đích còn xa hơn chỗ thầy tới.

Giây phút do dự — đoạn ít người biết. Sau khi thành đạo, Ngài nghĩ: pháp này sâu kín, khó thấy, khó chứng, còn chúng sanh thì ưa thích ái dục; nói ra chỉ mệt nhọc cho Ta. Ngài nghiêng về không thuyết pháp. Phải tới khi Phạm Thiên Sahampati thỉnh cầu, Ngài mới quán sát thế gian và thấy có hạng người ít nhiễm bụi.

Ví dụ hồ sen — chỗ đẹp nhất bài kinh. Ngài nhìn thế gian như nhìn một hồ sen: có sen chìm dưới nước, có sen ngang mặt nước, có sen vươn khỏi nước, không dính nước. Cũng vậy, chúng sanh có hạng nhiễm nhiều, hạng nhiễm ít, hạng lợi căn độn căn. Chính vì có hạng ít nhiễm bụi mà Ngài quyết định thuyết pháp.

Năm anh em không chịu nghe ngay. Khi Ngài tới Isipatana, năm vị đã hẹn nhau không đứng dậy đón, vì cho rằng Ngài đã bỏ khổ hạnh, sống đời sung túc. Nhưng khi Ngài tới gần thì họ không giữ được lời hẹn ấy. Ngay cả Đức Phật cũng phải thuyết phục, không phải nói một câu là ai cũng tin.

  • “Đức Phật giác ngộ ngay lập tức.” Bài kinh kể một quá trình dài: bỏ nhà, học hai thầy, chứng rồi bỏ, tự mình tìm tiếp.
  • “Ngài chê hai vị thầy.” Ngài chứng đúng chỗ các vị dạy và kể lại rất trân trọng. Ngài đi vì đích còn xa hơn.
  • “Thuyết pháp là việc hiển nhiên.” Ngài đã nghiêng về không thuyết, vì thấy pháp quá sâu. Đó là chi tiết rất người, và kinh không giấu.
  • “Ai nghe Phật cũng tin ngay.” Năm anh em đã hẹn nhau không đón Ngài.
  • Ngành Oanh. Ví dụ hồ sen: có sen còn dưới nước, có sen vươn lên khỏi nước. Hỏi: sen nào cũng là sen, phải không?
  • Ngành Thiếu. Hai loại tầm cầu. Hỏi: những thứ em đang muốn — thứ nào rồi cũng cũ đi, hỏng đi?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chuyện Ngài rời hai vị thầy. Bàn: rời một người thầy thế nào cho phải đạo? Đây là câu hỏi thật của người lớn.
  • Thế nào là phi thánh cầu? Em đang tìm gì?
  • Ngài chứng được đúng chỗ thầy dạy rồi vẫn đi. Vì sao?
  • Vì sao Ngài do dự không muốn thuyết pháp?
  • Ví dụ hồ sen nói gì về người nghe pháp?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.