G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 19
Trung Bộ Kinh · Đức Phật Kể Lại Việc Tu Của Ngài

Kinh Song Tầm

Dvedhāvitakka Sutta — Trung Bộ 19 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Song Tầm

Bài kinh này quý ở chỗ Đức Phật kể lại chính việc tu của mình, thời còn chưa thành đạo. Và cách Ngài làm đơn giản tới bất ngờ: Ngài chia ý nghĩ ra làm hai loại — một bên bất thiện, một bên thiện — rồi ngồi quan sát xem mỗi bên dẫn tới đâu.

  • Bộ — Trung Bộ, MN 19
  • Đặc điểmĐức Phật nói ở ngôi thứ nhất, kể lại thời chưa thành đạo
  • Hai ví dụ lớn — người chăn bò mùa lúa chín, và đàn nai với hai con đường
  • Bài liên quanKinh An Trú Tầm (MN 20) nói cách đối trị; bài này nói cách quan sát

Kinh Song Tầm là lời Đức Phật kể lại chính kinh nghiệm tu tập của Ngài khi còn là Bồ-tát, chưa thành Chánh Giác. Ngài khởi ý: "Ta sống suy tư và chia hai suy tầm" — chia mọi ý nghĩ (tầm, vitakka) làm hai phần. Phần thứ nhất gồm dục tầm, sân tầm, hại tầm. Phần thứ hai gồm ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm. Sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, mỗi khi một ý nghĩ bất thiện khởi lên, Chỉ cần soi thấy như vậy, dục tầm liền biến mất. Ngài cứ thế trừ bỏ, xả ly, đoạn tận chúng. Với ý nghĩ thiện thì ngược lại: Ngài tuệ tri chúng không đưa đến hại ai, tăng trưởng trí tuệ, đưa đến Niết-bàn, nên suy tư suốt đêm ngày cũng không có gì đáng sợ hãi. Nhưng Ngài dạy thêm một điều rất tinh tế: suy tư quá lâu thì thân mệt mỏi, thân mệt thì tâm dao động, tâm dao động thì khó định tĩnh — nên Ngài dừng lại, trấn an tâm, khiến được nhất tâm. Nghĩ thiện vẫn chưa phải là đích; đích là định. Nguyên lý cốt lõi của bài kinh: "Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy." Ta nghĩ nhiều điều gì, tâm ta nghiêng về điều đó. Kinh dùng hai ví dụ người mục đồng: mùa lúa trổ hạt thì phải cầm roi ngăn bò (giai đoạn đầu phải canh giữ nghiêm), còn khi lúa đã gặt vào kho thì chỉ cần ngồi dưới gốc cây, ghi nhận "đây là những con bò" (về sau chỉ cần chánh niệm nhẹ nhàng). Từ đó Ngài chứng bốn Thiền, rồi ba minh trong ba canh đêm: túc mạng trí, sanh tử trí, lậu tận trí — "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành". Kinh khép lại bằng ví dụ đoàn nai: dục là hồ nước, chúng sanh là đoàn nai, ác ma là kẻ hại nai, tà đạo tám ngành là con đường nguy hiểm, còn Thánh đạo Tám ngành là con đường yên ổn mà Như Lai đã mở. Lời dặn cuối: "Đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau."

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi (đoạn 1) — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika, gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng.
  • Chia hai suy tầm (đoạn 2) — Khi còn là Bồ-tát, Ngài phân dục tầm, sân tầm, hại tầm thành phần thứ nhất; ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm thành phần thứ hai.
  • Quán sát và đoạn tận ba tầm bất thiện (đoạn 3–5) — Dục tầm, sân tầm, hại tầm khởi lên; Ngài tuệ tri chúng đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần phiền não, không đưa đến Niết-bàn — và chúng biến mất.
  • Nguyên lý khuynh hướng của tâm — chiều bất thiện (đoạn 6) — Suy tư quán sát nhiều về tầm nào thì tâm có khuynh hướng về tầm ấy.
  • Ví dụ người mục đồng mùa lúa trổ hạt (đoạn 7) — Mục đồng phải cầm roi ngăn chận bò khi lúa đã trổ hạt; cũng vậy Ngài thấy rõ nguy hại của pháp bất thiện và lợi ích của thiện pháp.
  • Ba tầm thiện và giới hạn của suy tư (đoạn 8–10) — Ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm không đưa đến hại ai, tăng trưởng trí tuệ, đưa đến Niết-bàn; nhưng suy tư quá lâu thì thân mệt, tâm dao động, khó định — nên Ngài trấn an tâm, khiến được nhất tâm.
  • Nguyên lý khuynh hướng của tâm — chiều thiện (đoạn 11) — Suy tư quán sát nhiều về ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm thì tâm có khuynh hướng về các tầm ấy.
  • Ví dụ người mục đồng mùa lúa đã vào kho (đoạn 12) — Khi lúa đã cất vào kho, mục đồng chỉ cần ghi nhận "Đây là những con bò"; cũng vậy Ngài chỉ cần ghi nhận "Đây là những pháp".
  • Tinh tấn, chánh niệm, khinh an, định (đoạn 13) — Tinh tấn dõng mãnh không tiêu cực, niệm an trú không tán loạn, thân khinh an, tâm định tĩnh nhất tâm.
  • Chứng bốn Thiền (đoạn 14–17) — Chứng và trú Thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư.
  • Minh thứ nhất — Túc mạng trí (đoạn 18–19) — Trong canh đầu của đêm, nhớ lại nhiều đời sống quá khứ; vô minh diệt, minh sanh.
  • Minh thứ hai — Sanh tử trí (đoạn 20–21) — Trong canh giữa, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy chúng sanh sống chết theo hạnh nghiệp.
  • Minh thứ ba — Lậu tận trí (đoạn 22–24) — Trong canh ba, thắng tri Bốn Sự Thật và các lậu hoặc; tâm giải thoát: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành".
  • Ví dụ đoàn nai và giải thích (đoạn 25–26) — Hồ nước lớn chỉ cho các dục, đoàn nai chỉ cho hữu tình, kẻ ác chỉ cho ác ma, con đường nguy hiểm là tà đạo tám ngành, con mồi đực là hỷ và tham, con mồi cái là vô minh, người thiện là Như Lai, con đường yên ổn là Thánh đạo Tám ngành.
  • Lời giáo huấn kết thúc (đoạn 27) — "Đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau." Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

MN 19.2
Pubbeva me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi: 'yannūnāhaṁ dvidhā katvā dvidhā katvā vitakke vihareyyan'ti. So kho ahaṁ, bhikkhave, yo cāyaṁ kāmavitakko yo ca byāpādavitakko yo ca vihiṁsāvitakko—imaṁ ekaṁ bhāgamakāsiṁ; yo cāyaṁ nekkhammavitakko yo ca abyāpādavitakko yo ca avihiṁsāvitakko—imaṁ dutiyaṁ bhāgamakāsiṁ.
Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ta sống suy tư và chia hai suy tầm". Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai.
Mendicants, before my awakening—when I was still unawakened but intent on awakening—I thought: 'Why don't I meditate by continually dividing my thoughts into two classes?' So I assigned sensual, malicious, and cruel thoughts to one class. And I assigned thoughts of renunciation, good will, and harmlessness to the second class.
MN 19.3
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, evaṁ appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati kāmavitakko. So evaṁ pajānāmi: 'uppanno kho me ayaṁ kāmavitakko. So ca kho attabyābādhāyapi saṁvattati, parabyābādhāyapi saṁvattati, ubhayabyābādhāyapi saṁvattati, paññānirodhiko vighātapakkhiko anibbānasaṁvattaniko'.
Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: "Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn".
Then, as I meditated—diligent, keen, and resolute—a sensual thought arose. I understood: 'This sensual thought has arisen in me. It leads to hurting myself, hurting others, and hurting both. It blocks wisdom, it's on the side of distress, and it doesn't lead to extinguishment.'
MN 19.3.9
So kho ahaṁ, bhikkhave, uppannuppannaṁ kāmavitakkaṁ pajahameva vinodameva byantameva naṁ akāsiṁ.
Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm.
So I gave up, dispelled, and eliminated any sensual thoughts that arose.
MN 19.6.1 (lặp lại ở MN 19.11.1)
Yaññadeva, bhikkhave, bhikkhu bahulamanuvitakketi anuvicāreti, tathā tathā nati hoti cetaso.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy.
Whatever a mendicant frequently thinks about and considers becomes their heart's inclination.
MN 19.7
Seyyathāpi, bhikkhave, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye kiṭṭhasambādhe gopālako gāvo rakkheyya. So tā gāvo tato tato daṇḍena ākoṭeyya paṭikoṭeyya sannirundheyya sannivāreyya. Taṁ kissa hetu? Passati hi so, bhikkhave, gopālako tatonidānaṁ vadhaṁ vā bandhanaṁ vā jāniṁ vā garahaṁ vā.
Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng, ngăn chận chúng. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc.
Suppose it's the last month of the rainy season, in autumn, when the crops grow closely together, and a cowherd must take care of the cattle. He'd tap and poke them with his staff on this side and that to keep them in check. Why is that? For he sees that if they wander into the crops he could be executed, imprisoned, fined, or condemned.
MN 19.8.8–8.13
Api ca kho me aticiraṁ anuvitakkayato anuvicārayato kāyo kilameyya. Kāye kilante cittaṁ ūhaññeyya. Ūhate citte ārā cittaṁ samādhimhāti. So kho ahaṁ, bhikkhave, ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapemi sannisādemi ekodiṁ karomi samādahāmi. Taṁ kissa hetu? 'Mā me cittaṁ ūhaññī'ti.
Và Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.
Still, thinking and considering for too long would tire my body. And when the body is tired, the mind is stressed. And when the mind is stressed, it's far from immersion. So I stilled, settled, unified, and immersed my mind internally. Why is that? So that my mind would not be stressed.
MN 19.12
Seyyathāpi, bhikkhave, gimhānaṁ pacchime māse sabbasassesu gāmantasambhatesu gopālako gāvo rakkheyya, tassa rukkhamūlagatassa vā abbhokāsagatassa vā satikaraṇīyameva hoti: 'etā gāvo'ti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, satikaraṇīyameva ahosi: 'ete dhammā'ti.
Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng hè, khi tất cả lúa gạo đã cất vào kho thóc, một người mục đồng chăn giữ các con bò. Khi người mục đồng ở dưới gốc cây hay ở ngoài trời, người ấy có thể nghĩ đến có việc cần phải làm, và người ấy nghĩ: "Ðây là những con bò". Chư Tỷ-kheo, cũng vậy ở đây, có việc cần phải làm, và Ta nghĩ: "Ðây là những pháp".
Suppose it's the last month of summer, when all the crops have been gathered within a village, and a cowherd must take care of the cattle. While at the root of a tree or in the open he need only be mindful that the cattle are there. In the same way I needed only to be mindful that those things were there.
MN 19.27.1–27.2
Yaṁ, bhikkhave, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā. Etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni; jhāyatha, bhikkhave, mā pamādattha; mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
Chư Tỷ-kheo, những gì vị Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì lòng thương tưởng họ, những điều ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Người. Chư Tỷ-kheo, đây là các gốc cây, đây là các chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta.
Out of sympathy, I've done what a teacher should do who wants what's best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, mendicants! Don't be negligent! Don't regret it later! This is my instruction to you.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vitakkatầm — ý nghĩ, sự khởi nghĩ, hướng tâm đến một đối tượngTên kinh Dvedhāvitakka = "song tầm", hai loại tầm
dvedhāhai phần, chia làm haitrong kinh: "dvidhā katvā" — chia làm hai
kāmavitakkadục tầm — ý nghĩ về dục lạc
byāpādavitakkasân tầm — ý nghĩ sân hận, muốn hại
vihiṁsāvitakkahại tầm — ý nghĩ tàn hại, độc ác
nekkhammavitakkaly dục tầm — ý nghĩ xuất ly, buông bỏ dục
abyāpādavitakkavô sân tầm — ý nghĩ không sân, thiện chí, từ tâm
avihiṁsāvitakkavô hại tầm (bất hại tầm) — ý nghĩ không làm hại
pajānātituệ tri — biết rõ, hiểu rõ như thậtbản Việt dịch "Ta tuệ tri"
appamatta / ātāpī / pahitattakhông phóng dật / nhiệt tâm / tinh cầncụm ba từ lặp đi lặp lại suốt bài kinh
nati cetasokhuynh hướng của tâmcốt lõi bài kinh: nghĩ nhiều điều gì thì tâm nghiêng về điều đó
samādhiđịnh — tâm định tĩnh, an trú
ekodibhāva / ekaggaṁnhất tâm — tâm chuyên nhất trên một đối tượng
jhānathiền (na) — bốn cấp thiền chứng
vijjāminh — trí sáng; ba minh chứng trong ba canh đêm
pubbenivāsānussatiñāṇatúc mạng trí — trí nhớ lại các đời sống quá khứ
cutūpapātañāṇasanh tử trí — trí thấy chúng sanh chết và tái sanh theo nghiệp
āsavānaṁ khayañāṇalậu tận trí — trí đoạn tận các lậu hoặc
āsavalậu hoặc — dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
nibbānaNiết-bàn — sự tịch diệt, mục đích tối hậu
ariya aṭṭhaṅgika maggaThánh đạo Tám ngành (Bát Chánh Đạo)
micchāmagga (aṭṭhaṅgika)tà đạo tám ngành — con đường nguy hiểm trong ví dụ đoàn nai
nandīrāgahỷ và tham — nghĩa của "con mồi đực"
avijjāvô minh — nghĩa của "con mồi cái"
Māra pāpimāác ma — kẻ muốn hại đoàn nai trong ví dụ

Ngài không diệt ý nghĩ — Ngài phân loại rồi nhìn. Đây là chỗ đáng học nhất. Thấy ý nghĩ bất thiện dấy lên, Ngài nhận ra: ý nghĩ này đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai; nó diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn. Nhận ra như vậy thì nó tự lặn xuống.

Nhưng ngay cả ý nghĩ thiện cũng có giới hạn. Đây là chỗ ít người để ý. Ngài nói: nghĩ nhiều về điều thiện quá lâu thì thân mệt, tâm dao động, và tâm dao động thì xa định. Nên rồi Ngài an trú nội tâm, làm cho tịnh chỉ. Điều thiện cũng phải biết dừng đúng lúc.

Ví dụ người chăn bò mùa lúa chín. Lúa đã chín thì phải giữ bò rất kỹ, có khi phải dùng roi. Nhưng khi đồng đã gặt xong, người chăn chỉ cần ngồi dưới gốc cây mà nhìn chừng. Cùng một đàn bò, cùng một người chăn — chỉ khác ở chỗ ruộng còn lúa hay không.

Ví dụ đàn nai và hai con đường. Có con đường an ổn dẫn tới nơi nai được sống, và một lối rẽ giả do người thợ săn bày ra. Đức Phật nói rõ Ngài dùng ví dụ ấy để chỉ điều gì: lối rẽ giả là tám tà đạo, con đường an ổn là Bát Chánh Đạo. Và Ngài kết bằng một câu rất người: “Ta đã mở con đường an ổn… hãy đi vào con đường ấy”.

Một câu ở cuối bài, dễ bỏ qua. Ngài nói: “Đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống. Hãy thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau”. Câu này lặp lại ở rất nhiều bài kinh, và nó là lời kết của một người đã đi rồi quay lại chỉ đường.

  • “Đức Phật thành đạo nhờ điều gì đó phi thường.” Bài kinh này Ngài kể: chia ý nghĩ làm hai rồi quan sát. Đơn giản tới mức ai cũng làm thử được.
  • “Nghĩ điều thiện thì càng nhiều càng tốt.” Ngài nói rõ: nghĩ quá lâu thì thân mệt, tâm dao động.
  • “Phải diệt sạch ý nghĩ.” Ngài nhận ra rồi nó tự lặn. Không có chỗ nào nói phải đè bẹp.
  • Ngành Oanh. Ví dụ người chăn bò: mùa lúa thì giữ kỹ, gặt xong thì ngồi nhìn. Hỏi: khi nào em phải giữ kỹ, khi nào được thong thả?
  • Ngành Thiếu. Cho các em thử chia ý nghĩ làm hai trong năm phút, rồi kể lại bên nào nhiều hơn.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chỗ ngay cả ý nghĩ thiện cũng phải dừng. Bàn: làm việc đạo tới mức mệt nhoài có phải là tốt không?
  • Đức Phật chỉ chia ý nghĩ làm hai rồi nhìn. Vì sao chừng ấy lại đủ?
  • Vì sao nghĩ điều thiện quá lâu lại thành trở ngại?
  • Ruộng đã gặt xong thì người chăn ngồi nhìn. Với em, “gặt xong” là gì?
  • Chớ có hối tiếc về sau — câu ấy nhắm vào điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.