G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 16
Năm Tâm Hoang Vu · Năm Tâm Triền Phược

Kinh Tâm Hoang Vu

Cetokhila Sutta — MN 16 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tâm Hoang Vu

mười thứ khiến người tu không thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật: năm tâm hoang vu (tâm chai cứng, khô cằn như đất hoang) và năm tâm triền phược (những sợi dây trói tâm lại).

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 16
  • Nơi chốn — Sāvatthī, Jetavana
  • Chữ cetokhilakhilađất hoang, đất chai cứng không cày được
  • Kết bài — ví dụ gà mẹ ấp trứng

Kinh Tâm hoang vu (Cetokhila Sutta) là bài kinh thứ 16 của Trung Bộ, Thế Tôn giảng cho chúng Tỷ-kheo tại Kỳ-đà Lâm, vườn ông Cấp Cô Độc. Nội dung rất gọn và rất thực tế: Đức Phật chỉ ra mười thứ chướng ngại làm cho người tu không thể "lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này" — đó là năm tâm hoang vu (cetokhila, tâm chai cứng, khô cằn như đất hoang) và năm tâm triền phược (cetasovinibandha, những sợi dây trói buộc tâm). Năm tâm hoang vu là: nghi ngờ bậc Đạo Sư, nghi ngờ Pháp, nghi ngờ Tăng, nghi ngờ các học pháp, và phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh. Điểm chung của cả năm là hậu quả: "tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn". Năm tâm triền phược là: còn tham ái đối với các dục, tham ái đối với tự thân, tham ái đối với các sắc pháp, ăn cho đến no đầy rồi thiên nặng về khoái lạc ngủ nghỉ thụy miên, và sống phạm hạnh chỉ vì mong cầu được sanh lên thiên giới. Kinh trình bày theo hai vế đối xứng: trước nói mặt phủ định (chưa diệt trừ, chưa đoạn tận thì không thể tăng trưởng), sau lặp lại nguyên vẹn ở mặt khẳng định (đã diệt trừ, đã đoạn tận thì có thể tăng trưởng). Sau khi mười chướng ngại được dứt sạch, vị Tỷ-kheo tu tập bốn như ý túc (dục, tinh tấn, tâm, tư duy) cộng với nỗ lực (ussoḷhi) là thứ năm. Cộng chung thành mười lăm pháp; ai đầy đủ mười lăm pháp này thì "có đủ khả năng để phá vỡ, có đủ khả năng để chánh giác, có đủ khả năng để đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược". Kinh kết bằng ví dụ gà mẹ ấp trứng rất nổi tiếng: gà mẹ khéo ấp tám, mười hay mười hai quả trứng thì dù gà mẹ không hề khởi mong ước, gà con vẫn đủ sức mổ vỏ trứng thoát ra an toàn. Cũng vậy, người đủ mười lăm pháp thì giác ngộ đến một cách tự nhiên, không cần cầu mong. Với Huynh Trưởng GĐPT, đây là bài kinh dạy: lòng tin trong sạch nơi Tam Bảo và giới luật, sự hòa hợp không giận hờn với huynh đệ, cùng nếp sống tiết độ và động cơ tu học chân chánh — chính là điều kiện để việc tu học tiến bộ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika, gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng (đoạn 1).
  • Nêu đề: chưa đoạn trừ thì không thể tăng trưởng — Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược thì việc lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này không xảy ra (đoạn 2).
  • Năm tâm hoang vu chưa được diệt trừ — Nghi ngờ bậc Đạo Sư; nghi ngờ Pháp; nghi ngờ Tăng; nghi ngờ các học pháp; phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh (đoạn 3-8).
  • Năm tâm triền phược chưa được đoạn tận — Tham ái đối với các dục; đối với tự thân; đối với các sắc pháp; ăn no đầy rồi thiên nặng khoái lạc ngủ nghỉ thụy miên; sống phạm hạnh mong cầu sanh thiên giới (đoạn 9-15).
  • Vế khẳng định: đã diệt trừ năm tâm hoang vu — Lặp lại nguyên vẹn ở dạng khẳng định: không nghi ngờ Đạo Sư, Pháp, Tăng, học pháp; không phẫn nộ với đồng phạm hạnh, thời tâm hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn (đoạn 16-22).
  • Đã đoạn tận năm tâm triền phược — Không tham ái đối với các dục, tự thân, sắc pháp; không ăn no đầy rồi ham ngủ nghỉ; sống phạm hạnh không mong cầu sanh thiên giới (đoạn 23-30).
  • Bốn như ý túc và nỗ lực là thứ năm — mười lăm pháp — Tu tập như ý túc câu hữu với dục, tinh tấn, tâm, tư duy Thiền định tinh cần hành, với nỗ lực là thứ năm; đầy đủ mười lăm pháp thì có đủ khả năng phá vỡ, chánh giác, đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược (đoạn 31-32).
  • Ví dụ gà mẹ ấp trứng — Tám, mười hay mười hai quả trứng được gà mái khéo ấp; dầu gà mái không khởi mong ước, gà con vẫn có khả năng đâm thủng vỏ trứng thoát ra một cách yên ổn (đoạn 33).
  • Kết kinh — Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn (đoạn 34).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 16.2
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno pañca cetokhilā appahīnā, pañca cetasovinibandhā asamucchinnā, so vatimasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra.
Mendicants, when a mendicant has not given up five kinds of hard-heartedness and severed five shackles of the heart, it's not possible for them to achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training.
MN 16.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati.
Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ.
Firstly, a mendicant has doubts about the Teacher. They're uncertain, undecided, and lacking confidence. This being so, their mind doesn't incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first kind of hard-heartedness they haven't given up.
MN 16.7
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto.
Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ đối với các đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được diệt trừ.
Furthermore, a mendicant is angry and upset with their spiritual companions, resentful and closed off. This being so, their mind doesn't incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth kind of hard-heartedness they haven't given up.
MN 16.12
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati.
Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên.
They eat as much as they like until their belly is full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing.
MN 16.13
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: 'imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā'ti.
Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống phạm hạnh với mong cầu được sanh thiên giới với ý nghĩ: "Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác".
They lead the spiritual life hoping to be reborn in one of the orders of gods, thinking: 'By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!'
MN 16.31
vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāveti, ussoḷhīyeva pañcamī.
Vị này tu tập như ý túc câu hữu với dục Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tinh tấn Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tâm Thiền định, tinh cần hành; tu tập như ý túc câu hữu với tư duy Thiền định, tinh cần hành; với nỗ lực là thứ năm.
They develop the basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm ... energy ... mental development ... inquiry, and active effort. And the fifth is sheer vigor.
MN 16.32
Sa kho so, bhikkhave, evaṁ ussoḷhipannarasaṅgasamannāgato bhikkhu bhabbo abhinibbidāya, bhabbo sambodhāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đầy đủ mười lăm pháp kể cả nỗ lực, thời có đủ khả năng để phá vỡ, có đủ khả năng để chánh giác, có đủ khả năng để đạt thành vô thượng an ổn khỏi các ách phược.
A mendicant who possesses these fifteen factors, including vigor, is capable of breaking out, becoming awakened, and reaching the supreme sanctuary from the yoke.
MN 16.33
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā. Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni sammā pariseditāni sammā paribhāvitāni. ... Atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Chư Tỷ-kheo, như có khoảng tám, mười hay mười hai cái trứng của con gà mái, những trứng này được con gà mái khéo ấp, ngồi lên trên, khéo ấp nóng, khéo ấp dưỡng, thời dầu cho con gà mái không khởi lên sự mong ước: "Mong rằng những con gà con của ta, sau khi đâm thủng vỏ trứng với móng chân nhọn của chúng, hay với mỏ của chúng, có thể thoát ra một cách yên ổn", những con gà con ấy, sau khi đâm thủng vỏ trứng với móng chân nhọn của chúng hay với mỏ của chúng, có khả năng thoát ra một cách yên ổn.
Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. And she properly sat on them to keep them warm and incubated. Even if that chicken doesn't wish: 'If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!' Still they can break out and hatch safely.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
cetokhilatâm hoang vu — tâm chai cứng, khô cằn, hoang hóa như đất bỏ hoangHT. Thích Minh Châu dịch "tâm hoang vu"; Sujato dịch "hard-heartedness". Có năm thứ.
cetasovinibandhatâm triền phược — sợi dây trói buộc tâmCó năm thứ; kinh dùng động từ asamucchinna (chưa đoạn tận) / susamucchinna (đã khéo đoạn tận).
vicikicchā / kaṅkhatinghi hoặc, do dựBản Việt: "nghi ngờ ... do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín".
sampasīdati / adhimuccatitịnh tín; quyết đoán, xác tín
sabrahmacārīvị đồng phạm hạnh — bạn cùng tu
ātappa, anuyoga, sātacca, padhānanỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấnCụm bốn chữ lặp lại suốt bài kinh như một điệp khúc.
iddhipādanhư ý túc — bốn nền tảng của năng lực: dục (chanda), tinh tấn (vīriya), tâm (citta), tư duy (vīmaṁsā)
ussoḷhinỗ lực (pháp thứ mười lăm, cộng thêm vào bốn như ý túc)pannarasaṅga = mười lăm pháp.
yogakkhemaan ổn khỏi các ách phượcBản Việt: "vô thượng an ổn khỏi các ách phược" (anuttara yogakkhema).
kāmadục, các dục lạc
brahmacariyaphạm hạnh — nếp sống thanh tịnh
middhathụy miên — sự dã dượi buồn ngủmiddhasukha: khoái lạc về thụy miên.

Bài kinh này không nói chuyện cao siêu — nó nói vì sao ta tu mãi mà không tiến. Và câu trả lời rất cụ thể: có mười thứ, kể tên đủ cả mười.

Chữ "hoang vu" dịch rất khéo. Khilađất chai, cày không nổi. Gieo hạt xuống không mọc đượckhông phải tại hạt.

Năm tâm hoang vu, bốn cái đầu đều là nghi ngờ. Nghi bậc Đạo Sư, nghi Pháp, nghi Tăng, nghi các học pháp. Còn cái thứ năm bất ngờ hơn: phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh.

Xin để ý cái thứ năm ấy. Đức Phật xếp giận huynh đệ ngang hàng với nghi ngờ Tam Bảo. Trong một đoàn thể như Gia Đình Phật Tử, đây là điều đáng suy nghĩ nhất bài.

Cả năm đều dẫn tới đúng một hậu quả, lặp lại y nguyên năm lần. "Tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn." Không phải mất đạo — mà là mất sức.

Năm tâm triền phược thì thực tế hơn nữa. Tham ái với các dục, với tự thân, với các sắc pháp; ăn no đầy rồi thiên nặng về khoái lạc ngủ nghỉ; và sống phạm hạnh chỉ để mong sanh lên cõi trời.

Cái thứ tư kể rất thẳng. "Ăn cho đến thỏa thê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên nặng về khoái lạc về sàng tọa, khoái lạc về ngủ nghỉ, khoái lạc về thụy miên." Kinh không ngại nói chuyện ăn no rồi buồn ngủ.

Cái thứ năm mới là chỗ tinh tế. Tu để được sanh thiên — nghe thì đạo đức, nhưng kinh xếp nó vào dây trói. Vì động cơ ấy vẫn là một cách đổi chác.

Kinh nói cả hai chiều, và chiều thuận mới quan trọng. Vế đầu: chưa đoạn thì không thể tăng trưởng. Vế sau lặp lại nguyên vẹn: đã đoạn thì có thể tăng trưởng. Không phải lời răn — là điều kiện.

Sau đó là bốn như ý túc, cộng nỗ lực là thứ năm. Dục, tinh tấn, tâm, tư duy — thêm nỗ lực (ussoḷhi). Mười chướng ngại bỏ đi, cộng năm pháp này, thành mười lăm.

Và ví dụ cuối bài là chỗ đẹp nhất. Gà mẹ khéo ấp tám, mười hay mười hai quả trứng. Dầu gà mẹ không hề khởi mong ước, gà con vẫn đủ sức mổ vỏ chui ra an toàn.

Ý của ví dụ ấy rất an ủi. Đủ mười lăm pháp thì giác ngộ tự đếnkhông cần cầu mong. Việc của ta là ấp cho đủ ngày, không phải sốt ruột.

  • "Tu không tiến là do nghiệp nặng." Kinh chỉ ra mười nguyên nhân cụ thể, kiểm được ngay.
  • "Giận huynh đệ là chuyện nhỏ." Kinh xếp nó ngang nghi ngờ Tam Bảo.
  • "Tu để được sanh thiên là tốt rồi." Kinh gọi đó là một dây trói.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ gà mẹ ấp trứng — đủ ngày thì gà con tự ra.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: em có đang giận ai trong đoàn không? Kinh nói đó là một trong mười.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Rất hợp để kiểm điểm cuối năm — đọc từng mục trong mười.
  • Năm tâm hoang vu là gì?
  • Năm tâm triền phược là gì?
  • Cả mười đều dẫn tới hậu quả gì?
  • Ví dụ gà mẹ ấp trứng dạy điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.