G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 8
Trung Bộ Kinh · Chứng Thiền Chưa Phải Là Đoạn Giảm

Kinh Đoạn Giảm

Sallekha Sutta — Trung Bộ 8 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Đoạn Giảm

Bài kinh này có một lời cảnh tỉnh rất mạnh, và là chỗ đáng học nhất: chứng được thiền định — kể cả các tầng thiền cao — vẫn chưa phải là “đoạn giảm”. Kinh gọi các tầng ấy là hiện tại lạc trútịch tịnh trú, tức chỗ ở yên ổn, chứ chưa phải chỗ dứt trừ.

  • Bộ — Trung Bộ, MN 8
  • Người hỏi — Tôn giả Mahācunda
  • Con sốbốn mươi bốn cách đoạn giảm, kể theo cặp: người kia thế này, ta sẽ thế kia
  • Năm cách trình bày — đoạn giảm, khởi tâm, đối trị, hướng thượng, giải thoát hoàn toàn

Kinh Đoạn Giảm là bài kinh thứ 8 trong Trung Bộ, Đức Phật thuyết tại Kỳ-đà Lâm (Jetavana), vườn ông Cấp Cô Độc, thành Xá-vệ. Tôn giả Mahā Cunda, sau buổi thiền tịnh vào buổi chiều, đến hỏi Phật: các sở kiến (tà kiến) trong đời liên hệ đến ngã luận và thế giới luận, làm sao đoạn trừ, làm sao xả ly? Đức Phật dạy: chỗ nào các sở kiến ấy khởi lên, tiềm ẩn, hiện hành, hãy như thật quán sát với chánh trí tuệ rằng "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi" — đó là cách đoạn trừ và xả ly. Kế đó, Đức Phật đưa ra một điểm phân biệt rất quan trọng cho người tu: có vị chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền rồi nghĩ "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Phật dạy trong giới luật bậc Thánh, các quả chứng ấy KHÔNG gọi là đoạn giảm, mà gọi là "hiện tại lạc trú". Với bốn không định (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ) thì gọi là "tịch tịnh trú". Nghĩa là chứng thiền định chưa phải là bào mòn phiền não; định là chỗ an trú, không được lầm tưởng đó là mục đích rốt ráo. Phần chính của kinh là bốn mươi bốn điều đoạn giảm, mở đầu bằng "Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây không thể là những người làm hại", đi từ bất hại, mười thiện nghiệp đạo, Bát Chánh Đạo (thêm chánh trí và chánh giải thoát), các triền cái, cho tới sân, hận, tật đố, xan tham, kiêu mạn, ác hữu, phóng dật, vô văn, biếng nhác, thất niệm, liệt tuệ, và chấp thủ sở kiến khó xả ly. Bốn mươi bốn điều ấy được Đức Phật trình bày qua năm pháp môn: đoạn giảm, khởi tâm, đối trị (tránh né), hướng thượng, và Niết-bàn. Kết kinh, Phật dạy: người tự mình chìm trong bùn lầy không thể kéo người khác lên; rồi chỉ gốc cây, nhà trống mà khuyên "hãy Thiền định, chớ có phóng dật".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi và câu hỏi của Tôn giả Mahā Cunda — MN 8.1–3: Phật ở Xá-vệ, Kỳ-đà Lâm, vườn ông Cấp Cô Độc. Tôn giả Mahā Cunda hỏi về cách đoạn trừ, xả ly các sở kiến liên hệ ngã luận và thế giới luận. Phật trả lời bằng pháp quán 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'.
  • Bốn thiền không phải là đoạn giảm — đó là hiện tại lạc trú — MN 8.4–7: Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Vị ấy có thể nghĩ 'Ta sống với hạnh đoạn giảm', nhưng trong giới luật bậc Thánh chúng được gọi là hiện tại lạc trú.
  • Bốn vô sắc định — đó là tịch tịnh trú — MN 8.8–11: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong giới luật bậc Thánh gọi là tịch tịnh trú, không gọi là đoạn giảm.
  • 1. Pháp môn đoạn giảm (Sallekhapariyāya) — 44 điều — MN 8.12.1–12.45: 'Này Cunda, ở đây đoạn giảm cần phải thực hiện', liệt kê 44 cặp đối chiếu, từ bất hại đến không chấp thủ sở kiến, dễ dàng xả ly.
  • 2. Pháp môn khởi tâm (Cittupapādapariyāya) — MN 8.13: Khởi tâm đối với thiện pháp đã có lợi ích lớn, huống nữa là thân nghiệp, khẩu nghiệp làm theo; lặp lại 44 điều dưới dạng 'cần phải khởi tâm'.
  • 3. Pháp môn đối trị / tránh né (Parikkamanapariyāya) — MN 8.14: Ví dụ con đường không bằng phẳng có con đường bằng phẳng khác để tránh né, bến nước không bằng phẳng có bến nước bằng phẳng khác; cũng vậy 44 thiện pháp là pháp đối trị 44 bất thiện pháp.
  • 4. Pháp môn hướng thượng (Uparibhāgapariyāya) — MN 8.15: Các bất thiện pháp đều hướng hạ, các thiện pháp đều hướng thượng; 44 thiện pháp đưa hành giả hướng thượng.
  • 5. Pháp môn Niết-bàn (Parinibbānapariyāya) — MN 8.16: Tự mình chìm trong bùn lầy không thể kéo người khác lên; tự mình không được điều phục, huấn luyện, tịch diệt thì không thể điều phục người khác. Cũng vậy 44 thiện pháp đưa đến Niết-bàn.
  • Kết luận và lời sách tấn — MN 8.17: Phật tóm lại năm pháp môn đã giảng, nói điều bậc Đạo Sư cần làm vì lòng thương tưởng đệ tử Ngài đã làm; chỉ gốc cây, nhà trống, khuyên hãy Thiền định, chớ phóng dật, chớ hối tiếc về sau. Tôn giả Mahā Cunda hoan hỷ tín thọ. Bài kệ kết: 44 pháp, năm pháp môn, kinh Đoạn Giảm sâu như biển cả.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

MN 8.1
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery.
MN 8.3.6
yattha cetā diṭṭhiyo uppajjanti yattha ca anusenti yattha ca samudācaranti taṁ 'netaṁ mama, nesohamasmi, na me so attā'ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññā passato evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
chỗ nào những sở kiến này tiềm ẩn, và chỗ nào những sở kiến này hiện hành, chỉ có cách như thật quán sát chúng với trí tuệ rằng: 'Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi'
A mendicant gives up and lets go of these views by truly seeing with right wisdom where they arise, where they settle in, and where they operate as: 'This is not mine, I am not this, this is not my self.'
MN 8.4.3–4.5
'sallekhena viharāmī'ti. Na kho panete, cunda, ariyassa vinaye sallekhā vuccanti. Diṭṭhadhammasukhavihārā ete ariyassa vinaye vuccanti.
Vị ấy có thể nghĩ: 'Ta sống với hạnh đoạn giảm'... các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh.
They might think they're practicing self-effacement. But in the training of the Noble One these are not called 'self-effacement'; they're called 'blissful meditations in this life'.
MN 8.8.4–8.5
Na kho panete, cunda, ariyassa vinaye sallekhā vuccanti. Santā ete vihārā ariyassa vinaye vuccanti.
các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh.
But in the training of the Noble One these are not called 'self-effacement'; they're called 'peaceful meditations'.
MN 8.12.1–12.2
Idha kho pana vo, cunda, sallekho karaṇīyo. 'Pare vihiṁsakā bhavissanti, mayamettha avihiṁsakā bhavissāmā'ti sallekho karaṇīyo.
Này Cunda, ở đây đoạn giảm được các Người thực hiện khi các Người nghĩ: (1) 'Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây không thể là những người làm hại'
Now in this regard, Cunda, you should work on self-effacement in each of the following ways. 'Others will be cruel, but here we will not be cruel.'
MN 8.13.1
Cittuppādampi kho ahaṁ, cunda, kusalesu dhammesu bahukāraṁ vadāmi, ko pana vādo kāyena vācāya anuvidhīyanāsu.
Ta nói rằng sự khởi tâm rất có lợi ích cho các thiện pháp, còn nói gì thân nghiệp, khẩu nghiệp phù hợp
Cunda, I say that even giving rise to the thought of skillful qualities is very helpful, let alone following that path in body and speech.
MN 8.14.1 và 8.15.1
Seyyathāpi, cunda, visamo maggo assa, tassa añño samo maggo parikkamanāya … ye keci akusalā dhammā sabbe te adhobhāgaṅgamanīyā, ye keci kusalā dhammā sabbe te uparibhāgaṅgamanīyā.
giống như một con đường không bằng phẳng, có một con đường bằng phẳng khác đối trị... ví như các bất thiện pháp, tất cả đều hướng hạ, còn các thiện pháp, tất cả đều hướng thượng
Cunda, suppose there was a rough path and another smooth path to get around it. … Cunda, all unskillful qualities lead downwards, while all skillful qualities lead upwards.
MN 8.16.1
So vata, cunda, attanā palipapalipanno paraṁ palipapalipannaṁ uddharissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
con người tự mình bị rơi vào bùn lầy có thể kéo lên một người bị rơi vào bùn lầy, sự tình ấy không thể xảy ra
If you're sinking in the mud yourself, Cunda, it is quite impossible for you to pull out someone else who is sinking in the mud.
MN 8.17.3
Etāni, cunda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni, jhāyatha, cunda, mā pamādattha, mā pacchāvippaṭisārino ahuvattha—ayaṁ kho amhākaṁ anusāsanī.
Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những nhà không tịnh. Này Cunda, hãy Thiền định, chớ có phóng dật
Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, Cunda! Don't be negligent! Don't regret it later! This is my instruction.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sallekhađoạn giảm; bào mòn, gọt bỏ phiền nãoBản Anh của Sujato dịch là 'self-effacement'. Tên kinh Sallekhasutta.
pariyāyapháp môn, cách trình bàyKinh nêu năm pariyāya: sallekha, cittuppāda, parikkamana, uparibhāga, parinibbāna.
cittuppādasự khởi tâm, tâm khởi lênPháp môn thứ hai (MN 8.13).
parikkamanađối trị, tránh né, đi vòng quaPháp môn thứ ba (MN 8.14), có ví dụ con đường và bến nước không bằng phẳng.
uparibhāgahướng thượng, phần trênPháp môn thứ tư (MN 8.15); đối lại là adhobhāga (hướng hạ).
parinibbānaNiết-bàn, sự tịch diệt hoàn toànPháp môn thứ năm (MN 8.16).
diṭṭhadhammasukhavihārahiện tại lạc trúTên gọi đúng của bốn thiền trong giới luật bậc Thánh, không phải là đoạn giảm.
santā vihārātịch tịnh trúTên gọi của bốn vô sắc định.
diṭṭhisở kiến, quan điểm, kiến chấpattavādapaṭisaṁyutta: liên hệ ngã luận; lokavādapaṭisaṁyutta: liên hệ thế giới luận.
netaṁ mama, nesohamasmi, na me so attāCái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi
jhānathiền (na), thiền định
kusala / akusala dhammathiện pháp / bất thiện pháp
kalyāṇamittathiện hữu, bạn lànhMột trong 44 điều (MN 8.12.36), đối lại pāpamitta (ác hữu).
appamādakhông phóng dật, tinh cầnMN 8.12.37 và lời sách tấn cuối kinh.
hirī / ottappatàm / quý (hổ thẹn và sợ hãi điều ác)MN 8.12.39–12.40.
catuttālīsapadābốn mươi bốn pháp (điều)Bài kệ kết kinh: 44 pháp, năm pháp môn, kinh Đoạn Giảm sâu như biển cả.

Lời cảnh tỉnh mở đầu. Ngài Mahācunda hỏi về việc đoạn trừ các sở kiến. Đức Phật trả lời trước hết bằng một điều người tu thiền cần nghe: các tầng thiền, kể cả bốn vô sắc, trong luật của bậc Thánh không gọi là đoạn giảm — chúng được gọi là hiện tại lạc trú, tịch tịnh trú. Ở yên không đồng nghĩa với dứt trừ.

Khuôn của bốn mươi bốn điều. Mỗi điều đều một dạng: “Những kẻ khác có thể là… ở đây, chúng ta sẽ không…” — không lên án ai, chỉ tự đặt lấy một mức cho mình. Danh mục ấy đi từ mười thiện nghiệp đạo, qua tà kiến và các phiền não, tới các chi phần của Bát Chánh Đạo.

Năm cách trình bày cùng một danh mục. Cùng bốn mươi bốn điều ấy được nói lại năm lần theo năm góc: đoạn giảm, khởi tâm (chỉ khởi tâm hướng tới thôi đã lợi ích lớn), đối trị, hướng thượng, và giải thoát hoàn toàn. Nhắc lại năm lần không phải để dài dòng — mỗi lần là một tầng ứng dụng khác.

Câu về “khởi tâm” đáng chú ý nhất. Kinh nói: chỉ riêng việc khởi tâm hướng tới các thiện pháp ấy đã có lợi ích lớn. Nghĩa là chưa làm được cũng đã bắt đầu. Đây là câu nên nói với các em còn nhỏ, và với người mới tu.

Ví dụ con đường gồ ghề và con đường bằng phẳng. Có con đường bằng để tránh con đường gồ ghề; có bến nước bằng để tránh bến nước gồ ghề. Cũng vậy, mỗi điều bất thiện đều có một điều thiện làm lối tránh — kinh không chỉ bảo “đừng”, mà chỉ luôn chỗ để đi thay.

Chỗ chúng tôi phải đính chính. Bản tra cứu đầu ghi danh mục 44 điều gồm ngũ giới, và dịch abrahmacariyatà dâm. Lượt soi độc lập tra tận đoạn 8:12.3–12.12 và chỉ ra: không có ngũ giới trong danh mục, đó là mười thiện nghiệp đạo; và abrahmacariyaphi phạm hạnh, không phải tà dâm. Chúng tôi đã sửa.

  • “Chứng thiền là xong việc.” Kinh nói thẳng: chưa phải đoạn giảm, chỉ là lạc trútịch tịnh trú.
  • “Đoạn giảm là chê người khác.” Khuôn của bài kinh là người khác có thể thế này, ta sẽ thế kiađặt mức cho mình, không phán xét ai.
  • “Chưa làm được thì chưa có gì.” Kinh nói khởi tâm hướng tới đã có lợi ích lớn.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy ý khởi tâm: muốn làm điều lành đã là bắt đầu rồi.
  • Ngành Thiếu. Khuôn “người khác có thể…, ta sẽ…”. Cho các em tự viết ba câu theo khuôn ấy cho chính mình.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Lời cảnh tỉnh mở đầu. Bàn: ngồi thiền thấy an lạc — đó là tiến bộ hay là chỗ nghỉ chân?
  • Vì sao chứng thiền chưa phải là đoạn giảm?
  • Khuôn “ta sẽ…” khác gì với việc chê người khác?
  • Vì sao khởi tâm thôi đã có lợi ích lớn?
  • Kinh chỉ luôn chỗ để đi thay, không chỉ nói “đừng”. Vì sao cách ấy hiệu quả hơn?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.