G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 4
Trung Bộ · Đức Phật Tự Kể

Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm

Bhayabherava Sutta — MN 4 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Sợ Hãi Khiếp Đảm

Đây là một trong ít bài Đức Phật tự kể chuyện chính mình thuở còn là Bồ-tát. Ngài cố ý chọn những đêm đáng sợ nhất, ở những chỗ đáng sợ nhất — để xem sợ hãi tới thì mình làm gì.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 4
  • Người hỏi — Bà-la-môn Jānussoṇi
  • Nơi chốn — Sāvatthī, Jetavana
  • Phần chínhmười sáu điều tự xét trước khi vào rừng

Bà-la-môn Jānussoni đến gặp Đức Phật tại vườn Cấp Cô Độc và nói rằng sống một mình trong rừng núi hoang vu là điều rất khó, vì rừng núi "làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định". Đức Phật xác nhận điều đó là đúng, rồi kể lại chính kinh nghiệm của Ngài thuở còn là Bồ-tát. Phần chính của kinh là một bảng kiểm tâm gồm mười sáu điều. Bồ-tát tự xét: những Sa-môn, Bà-la-môn nào vào rừng mà thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, mạng sống không thanh tịnh; hoặc còn tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, dao động, nghi hoặc, khen mình chê người, run rẩy sợ hãi, ham lợi dưỡng cung kính danh vọng, biếng nhác, thất niệm, không định tĩnh, liệt tuệ — thì chính những khuyết điểm ấy "chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên". Ngài quán sát thấy mình không có các lỗi ấy, nên "tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi". Đây là bài học rất thiết thực cho người tu: sợ hãi trong rừng phần lớn đến từ tâm chưa thanh tịnh, không phải từ cảnh vật bên ngoài. Kế đó Ngài cố ý chọn những đêm mười bốn, mười lăm, mồng tám mỗi nửa tháng, đến ở những trú xứ hãi hùng lông tóc dựng ngược, để "thấy" sự sợ hãi khiếp đảm. Khi một con thú đi ngang, một con công làm rơi cành cây, hay gió lay lá rụng, ý nghĩ "Nay sự sợ hãi khiếp đảm ấy đã đến!" khởi lên. Ngài quyết định trừ diệt sợ hãi ngay trong tư thế đang có: đang đi kinh hành thì trừ diệt khi đang đi; đang đứng, đang ngồi, đang nằm cũng vậy — không đổi tư thế để né tránh. Tiếp theo là phần tinh cần, an trú chánh niệm, chứng bốn Thiền, rồi ba minh trong ba canh đêm: túc mạng trí (canh đầu), sanh tử trí với thiên nhãn (canh giữa), và lậu tận trí cùng Bốn Sự Thật (canh ba), kết thúc bằng lời "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Cuối kinh, Đức Phật nói rõ nay Ngài vẫn sống nơi rừng vắng không phải vì chưa hết tham sân si, mà vì hai mục đích: hiện tại lạc trú và lòng thương tưởng chúng sanh trong tương lai. Bà-la-môn Jānussoni xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Bà-la-môn Jānussoni đến hỏi (SC 1–5) — Tại Jetavana, Jānussoni tán thán Đức Phật là vị lãnh đạo của các Thiện nam tử vì lòng tin mà xuất gia, rồi nêu khó khăn: trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu thật khó kham nhẫn, rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định. Đức Phật xác nhận: “Này Bà-la-môn, thật sự là vậy.”
  • 2. Hồi tưởng thời còn là Bồ-tát (SC 6) — “Xưa kia khi Ta chưa chứng ngộ chánh đẳng giác, khi còn là Bồ-tát”, Ngài cũng đã suy nghĩ y như vậy về sự khó khăn của đời sống viễn ly, độc cư.
  • 3. Mười sáu điều tự quán sát để trừ sợ hãi (SC 7–20) — Lần lượt mười sáu mục: thân nghiệp — khẩu nghiệp — ý nghiệp — mạng sống không thanh tịnh; tham dục, ái dục cường liệt; tâm sân hận ác ý; hôn trầm thụy miên; dao động, tâm không an tịnh; nghi hoặc, do dự; khen mình chê người; run rẩy sợ hãi (lông tóc dựng ngược); ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; biếng nhác, kém tinh tấn; thất niệm, không tỉnh giác; không định tĩnh, tâm tán loạn; liệt tuệ, đần độn. Mỗi mục theo cùng một khuôn: ai mang lỗi ấy vào rừng thì “chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên”; Ngài không có lỗi ấy nên “tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi”. Bản Pāli ghi cuối phần này: “Soḷasapariyāyaṁ niṭṭhitaṁ” (hết mười sáu đoạn).
  • 4. Cố ý vào trú xứ hãi hùng và trừ diệt sợ hãi ngay trong tư thế đang có (SC 21–22) — Chọn đêm mười bốn, mười lăm, mồng tám mỗi nửa tháng, ở các tự miếu tại thảo viên, rừng núi, cây cối. Thú đi ngang, công làm rơi cành, gió lay lá rơi — sợ hãi khởi lên. Ngài trừ diệt sợ hãi ngay trong tư thế đang đi kinh hành, đang đứng, đang ngồi, đang nằm, không đổi tư thế.
  • 5. Không sống trong si ám — ngày là ngày, đêm là đêm (SC 23) — Có những Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ ngày giống như đêm, đêm giống như ngày — Ngài nói họ sống trong si ám. Ngài nghĩ đêm là đêm, ngày là ngày; và đó là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc, an lạc cho muôn loài, vì lợi ích cho loài Trời và loài Người.
  • 6. Tinh cần và chứng bốn Thiền (SC 24–28) — Tinh cần, tinh tấn, không lười biếng; an trú chánh niệm, thân khinh an, tâm định tĩnh chuyên nhất; rồi chứng và trú Thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư.
  • 7. Ba minh trong ba canh đêm (SC 29–35) — Canh đầu: túc mạng trí — nhớ nhiều đời sống quá khứ; chứng minh thứ nhất. Canh giữa: thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh đều do hạnh nghiệp của họ; chứng minh thứ hai. Canh ba: lậu tận trí — thắng tri như thật Bốn Sự Thật và các lậu hoặc, tâm thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu; chứng minh thứ ba. Mỗi minh đều kèm câu: “vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần”.
  • 8. Hai mục đích khiến Ngài vẫn sống nơi rừng vắng (SC 36) — Đức Phật ngăn hiểu lầm rằng Ngài còn chưa diệt trừ tham, sân, si nên phải ở rừng: Ngài sống tại các trú xứ xa vắng vì “tự thấy sự hiện tại lạc trú và vì lòng thương tưởng chúng sanh trong tương lai”.
  • 9. Jānussoni quy y Tam Bảo (SC 37) — Bà-la-môn tán thán bằng ví dụ “dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống… đem đèn sáng vào trong bóng tối”, rồi xin quy y Phật, Pháp, Tỷ-kheo Tăng, trọn đời quy ngưỡng.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 4 (Pāli/Anh: mn4:2.8–2.9)
Durabhisambhavāni hi kho araññavanapatthāni pantāni senāsanāni, dukkaraṁ pavivekaṁ, durabhiramaṁ ekatte, haranti maññe mano vanāni samādhiṁ alabhamānassa bhikkhuno.
Tôn giả Gotama, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Con nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỷ-kheo chưa chứng Thiền định.
Remote lodgings in the wilderness and the forest are challenging. It's hard to maintain seclusion and hard to find joy in solitude. The forests seem to rob the mind of a mendicant who isn't immersed in samādhi.
SC 7 (Pāli/Anh: mn4:4) — mở đầu mười sáu điều tự quán
Ye kho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā aparisuddhakāyakammantā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, aparisuddhakāyakammantasandosahetu have te bhonto samaṇabrāhmaṇā akusalaṁ bhayabheravaṁ avhāyanti … Etamahaṁ, brāhmaṇa, parisuddhakāyakammataṁ attani sampassamāno bhiyyo pallomamāpādiṁ araññe vihārāya.
Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, thân nghiệp không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Thân nghiệp Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với thân nghiệp thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu”. Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát thân nghiệp hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.
There are ascetics and brahmins with unpurified conduct of body … who frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. Those ascetics and brahmins summon unskillful fear and dread because of these defects in their conduct. But I don't … My conduct is purified. I am one of those noble ones who frequent remote lodgings in the wilderness and the forest with purified conduct. Seeing this purity of conduct in myself I felt even more unruffled about staying in the forest.
SC 21 (Pāli/Anh: mn4:20.2–4) — cố ý vào trú xứ hãi hùng
Yannūnāhaṁ yā tā rattiyo abhiññātā abhilakkhitā—cātuddasī pañcadasī aṭṭhamī ca pakkhassa—tathārūpāsu rattīsu yāni tāni ārāmacetiyāni vanacetiyāni rukkhacetiyāni bhiṁsanakāni salomahaṁsāni tathārūpesu senāsanesu vihareyyaṁ appeva nāmāhaṁ bhayabheravaṁ passeyyanti.
“Trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nửa tháng, trong những đêm như vậy, Ta hãy đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối, để Ta có thể thấy sự sợ hãi khiếp đảm ấy”.
There are certain nights that are recognized as specially portentous: the fourteenth, fifteenth, and eighth of the fortnight. On such nights, why don't I stay in awe-inspiring and hair-raising shrines in parks, forests, and trees? In such lodgings, hopefully I might see that fear and dread.
SC 21 (Pāli/Anh: mn4:20.8–13) — con thú, con công, ngọn gió
Tattha ca me, brāhmaṇa, viharato mago vā āgacchati, moro vā kaṭṭhaṁ pāteti, vāto vā paṇṇakasaṭaṁ ereti; tassa mayhaṁ brāhmaṇa etadahosi: ‘etaṁ nūna taṁ bhayabheravaṁ āgacchatī’ti … ‘kiṁ nu kho ahaṁ aññadatthu bhayapaṭikaṅkhī viharāmi? Yannūnāhaṁ yathābhūtaṁ yathābhūtassa me taṁ bhayabheravaṁ āgacchati, tathābhūtaṁ tathābhūtova taṁ bhayabheravaṁ paṭivineyyan’ti.
Này Bà-la-môn, trong khi ta ở tại các chỗ ấy, một con thú có thể đến, hay một con công làm rơi một cành cây, hay gió làm rung động các lá rơi; Ta khởi lên ý nghĩ: “Nay sự sợ hãi khiếp đảm ấy đã đến!”. Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: “Sao Ta ở đây, chỉ để mong đợi sự sợ hãi khiếp đảm chớ không gì khác? Trong bất cứ hành vi cử chỉ nào của Ta mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, trong hành vi cử chỉ ấy, Ta hãy trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy”.
As I was staying there a deer came by, or a peacock snapped a twig, or the wind rustled the leaves. Then I thought, ‘Is this that fear and dread coming?' Then I thought, ‘Why do I always meditate expecting that fear to come? Why don't I get rid of that fear and dread just as it comes, while remaining just as I am?'
SC 22 (Pāli/Anh: mn4:20.14–15) — trừ sợ hãi ngay trong tư thế đang có
Tassa mayhaṁ, brāhmaṇa, caṅkamantassa taṁ bhayabheravaṁ āgacchati. So kho ahaṁ, brāhmaṇa, neva tāva tiṭṭhāmi na nisīdāmi na nipajjāmi, yāva caṅkamantova taṁ bhayabheravaṁ paṭivinemi.
Này Bà-la-môn trong khi Ta đi kinh hành qua lại mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không đứng, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đi kinh hành qua lại.
Then that fear and dread came upon me as I was walking. I didn't stand still or sit down or lie down until I had got rid of that fear and dread while walking.
SC 23 (Pāli/Anh: mn4:21.1–3) — ngày là ngày, đêm là đêm
Santi kho pana, brāhmaṇa, eke samaṇabrāhmaṇā rattiṁyeva samānaṁ divāti sañjānanti, divāyeva samānaṁ rattīti sañjānanti. Idamahaṁ tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ sammohavihārasmiṁ vadāmi. Ahaṁ kho pana, brāhmaṇa, rattiṁyeva samānaṁ rattīti sañjānāmi, divāyeva samānaṁ divāti sañjānāmi.
Này Bà-la-môn, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ rằng ngày giống như đêm, nghĩ rằng đêm giống như ngày. Như vậy, Ta nói rằng những Sa-môn, Bà-la-môn ấy sống trong si ám. Này Bà-la-môn, Ta nghĩ rằng đêm là đêm, nghĩ rằng ngày là ngày.
There are some ascetics and brahmins who perceive that it's day when in fact it's night, or perceive that it's night when in fact it's day. This meditation of theirs is delusional, I say. I perceive that it's night when in fact it is night, and perceive that it's day when in fact it is day.
SC 34 (Pāli/Anh: mn4:32) — lậu tận, giải thoát
Tassa me evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccittha, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccittha. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ ahosi. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ.
Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Knowing and seeing like this, my mind was freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When it was freed, I knew it was freed. I understood: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.'
SC 36 (Pāli/Anh: mn4:34) — hai mục đích sống nơi rừng vắng
Na kho panetaṁ, brāhmaṇa, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Dve kho ahaṁ, brāhmaṇa, atthavase sampassamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevāmi—attano ca diṭṭhadhammasukhavihāraṁ sampassamāno, pacchimañca janataṁ anukampamāno.
Này Bà-la-môn, chớ có hiểu như vậy. Do Ta quán sát hai mục đích mà Ta sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Tự thấy sự hiện tại lạc trú và vì lòng thương tưởng chúng sanh trong tương lai.
But you should not see it like this. I see two reasons to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. I see happiness for myself in this life, and I have sympathy for future generations.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
bhayasợ hãiHT. Minh Châu dịch cặp bhayabherava là “sợ hãi khiếp đảm”.
bheravakhiếp đảm, kinh hoàng
araññavanapatthāni pantāni senāsanāninhững trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu
pavivekaviễn ly — sống tách khỏi đám đông
ekattađộc cư, đời sống một mình
samādhiđịnh, Thiền định
bodhisattaBồ-tát — bậc chưa chứng ngộ chánh đẳng giác nhưng hướng đến giác ngộ
akusalabất thiện
pallomam āpādicảm thấy lòng tự tin được xác chứng, tâm không còn khiếp sợSujato dịch “felt even more unruffled”.
thinamiddhahôn trầm thụy miên
uddhaccadao động, tâm không an tịnh
vicikicchānghi hoặc, do dự
caṅkamakinh hành — đi qua lại trong chánh niệm
sammohavihārasống trong si ámChỉ lối tu lầm lạc, tưởng đêm là ngày, ngày là đêm.
jhānaThiền — bốn Thiền: sơ, nhị, tam, tứ Thiền
vitakka / vicāratầm / tứ
pubbenivāsānussatiñāṇatúc mạng trí — trí nhớ các đời sống quá khứ
dibbacakkhuthiên nhãn — thấy sự sống chết của chúng sanh
āsavakkhayañāṇalậu tận trí
āsavalậu hoặc — dục lậu (kāmāsava), hữu lậu (bhavāsava), vô minh lậu (avijjāsava)
vijjāminh — trí sáng; ba minh chứng trong ba canh đêm thành đạo
diṭṭhadhammasukhavihārahiện tại lạc trú — an trú an lạc ngay trong đời này
anukampālòng thương tưởng
soḷasapariyāyamười sáu đoạn / mười sáu điều tự quán sátGhi chú kết phần trong bản Pāli: “Soḷasapariyāyaṁ niṭṭhitaṁ”.

Câu hỏi mở đầu rất thực tế. Jānussoṇi nói: sống một mình nơi rừng núi thật khó kham, vì rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỳ-kheo chưa chứng thiền định. Và Đức Phật đáp thẳng: “Thật sự là vậy.” Ngài không phủ nhận cái khó.

Rồi Ngài lật ngược vấn đề. Sợ hãi trong rừng không đến từ rừng. Ngài kể mười sáu điều: ai vào rừng mà thân, khẩu, ý, cách sinh sống chưa thanh tịnh; còn tham dục, sân hận, hôn trầm, dao động, nghi hoặc, khen mình chê người, ham lợi dưỡng, biếng nhác, thất niệm, tán loạn, liệt tuệ — thì chính những lỗi ấy làm sợ hãi khởi lên.

Chỗ này rất đáng nghĩ. Ta thường tưởng sợ là chuyện của hoàn cảnh. Kinh nói sợ là chuyện của cái mình mang theo vào. Ngài xét thấy mình không có các lỗi ấy, nên “tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn khi sống trong rừng núi”.

Rồi Ngài làm một việc rất lạ. Ngài cố ý chọn đêm mười bốn, mười lăm, mồng tám — những đêm mà người thời ấy cho là hãi hùng nhất — và đến ở các miếu thờ trong rừng. Ngài đi tìm sợ hãi, không tránh nó.

Và cách Ngài xử lý mới là chỗ dạy được ngay. Khi một con thú đi ngang, một con công làm rơi cành cây, gió lay lá rụng — ý nghĩ “sợ hãi khiếp đảm đã đến!” khởi lên. Ngài trừ diệt nó ngay trong tư thế đang có: đang đi thì trừ trong lúc đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm cũng vậy. Không đổi tư thế để né.

Vì sao chi tiết ấy quan trọng. Đổi tư thế là một cách trốn rất kín đáo — đứng dậy đi cho đỡ sợ, nằm xuống cho quên. Ngài không cho phép mình cái lối thoát nhỏ ấy. Sợ tới lúc nào thì đối diện ngay ở tư thế lúc ấy.

Có một đoạn ngắn mà sắc. Có người tu nghĩ ngày là đêm, đêm là ngày — Ngài gọi đó là sống trong si ám. Ngài thì đêm biết là đêm, ngày biết là ngày. Tu không phải là làm lẫn lộn các thứ đi.

Đoạn kết ngăn trước một hiểu lầm. Ngài nói rõ: nay Ngài vẫn sống nơi rừng vắng — nhưng không phải vì chưa hết tham sân si. Là vì hai điều: hiện tại lạc trú, và lòng thương tưởng chúng sanh đời sauđể làm gương cho người về sau.

  • “Ở rừng thì phải sợ.” Kinh nói sợ đến từ cái mình mang theo vào, không từ rừng.
  • “Sợ thì tránh chỗ đáng sợ.” Ngài cố ý tìm tới những chỗ ấy.
  • “Ngài ở rừng vì chưa hết phiền não.” Ngài nói trước để ngăn hiểu lầm ấy.
  • Ngành Oanh. Chỉ một ý: sợ là chuyện trong lòng mình, không phải chuyện bóng tối.
  • Ngành Thiếu. Chi tiết không đổi tư thế để né — hỏi: em có cách trốn nào kín đáo như vậy không?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Mười sáu điều tự xét — dùng làm bảng soi mình trước khi nhận việc.
  • Theo kinh, sợ hãi trong rừng đến từ đâu?
  • Vì sao Ngài không đổi tư thế khi sợ tới?
  • Đêm biết là đêm — câu ấy bác điều gì?
  • Nay Ngài còn ở rừng vì hai lý do nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.