G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 11.19
Cùng Một Câu Hỏi · Nhưng Lần Này Chính Thế Tôn Hỏi

Kinh Thiền Định (2)

Samādhi Sutta — AN 11.19 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Thiền Định (2)

Cùng một nội dung với AN 11.18 — nhưng đổi NGƯỜI HỎI. Ở bài trước, các Tỷ-kheo hỏi. Ở bài này, chính THẾ TÔN nêu câu hỏi ra trước, rồi các vị thỉnh Ngài giảng.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, Phẩm Tùy Niệm (Anussativagga), kinh 19
  • Nơi chốn — kinh mở bằng “Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo”tiếp nối bối cảnh bài trước
  • Khác với AN 11.18bài trước các Tỷ-kheo hỏi; bài này Thế Tôn hỏi
  • Đọc kèmAN 11.18 (bài liền trước, đã có trang riêng)

Kinh Thiền Ðịnh (2) — Dutiyasamādhisutta, AN 11.19 — là một bài kinh rất ngắn nằm trong Phẩm Tùy Niệm, Chương Mười Một Pháp của Tăng Chi Bộ. Mở đầu, Thế Tôn gọi chúng Tỷ-kheo và đặt một câu hỏi nghe như một câu đố: có thể chăng một Tỷ-kheo chứng được thứ Thiền định mà trong đất không tưởng đến đất, trong nước không tưởng đến nước, trong lửa không tưởng đến lửa, trong gió không tưởng đến gió; cả bốn xứ vô sắc là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng vậy; trong thế giới hiện tại không tưởng đến thế giới hiện tại, trong thế giới đời sau không tưởng đến thế giới đời sau; và phàm cái gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý suy tư, tại đấy vị ấy cũng không có tưởng — vậy mà vị ấy vẫn có tưởng? Chúng Tỷ-kheo thưa rằng các pháp đều lấy Thế Tôn làm căn bản, làm hướng dẫn, làm chỗ nương tựa, và thỉnh Ngài giảng rõ. Thế Tôn xác nhận: có, một Tỷ-kheo có thể chứng được Thiền định như vậy. Chúng Tỷ-kheo hỏi tiếp: như thế nào thì được như vậy? Câu trả lời của Thế Tôn gọn trong một câu, và đó cũng là câu hay được tụng đọc nhất của bài kinh: vị Tỷ-kheo tưởng như sau — "Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn." Ý nghĩa cho Huynh Trưởng: đây không phải là một trạng thái mê man, mất hết biết. Tâm vẫn sáng, vẫn có tưởng — nhưng cái tưởng ấy không còn bám vào bất cứ đối tượng nào của thân, của cảnh, của cõi, của điều nghe thấy suy nghĩ; nó chỉ hướng thuần về sự vắng lặng, tức Niết-bàn. Bài kinh cho thấy đỉnh cao của thiền định trong đạo Phật không phải là làm cho tâm trống rỗng, mà là hướng tâm trọn vẹn về chỗ buông xả và an tịnh.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và các vị đáp lời (đoạn 1).
  • 2. Câu hỏi của Thế Tôn về một thứ Thiền định đặc biệt — Thế Tôn hỏi: có thể chăng một Tỷ-kheo chứng được Thiền định mà trong đất không tưởng đến đất, trong nước không tưởng đến nước… cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thế giới hiện tại, thế giới đời sau, và những gì được thấy - nghe - cảm giác - thức tri… tại đấy không có tưởng, tuy vậy vẫn có tưởng (đoạn 2.1).
  • 3. Các Tỷ-kheo thỉnh Thế Tôn giảng — Các Tỷ-kheo thưa rằng các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, làm hướng dẫn, làm nương tựa, và thỉnh Thế Tôn nói ý nghĩa; Thế Tôn dạy hãy lắng nghe và khéo tác ý (đoạn 2.2–3.3). Phần này không có trong bản in tiếng Việt được tra cứu.
  • 4. Thế Tôn xác nhận là có thể, và câu hỏi "như thế nào" — Thế Tôn xác nhận một Tỷ-kheo có thể chứng được Thiền định như vậy; các Tỷ-kheo hỏi lại: như thế nào thì được như vậy (đoạn 4.1–5.1).
  • 5. Câu trả lời: tưởng về Niết-bàn — Tỷ-kheo tưởng như sau: "Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Chính tưởng ấy là cái "vẫn có tưởng" nói trên (đoạn 6.1–6.3).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 11.19 §2.1
“Siyā nu kho, bhikkhave, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa …pe… na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa, yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
—Này các Tỷ-kheo, có thể chăng một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, có thể không tưởng đến nước; trong lửa, có thể không tưởng đến lửa; trong gió, có thể không tưởng đến gió; trong Không vô biên xứ, có thể không tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, có thể không tưởng đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, có thể không tưởng đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, có thể không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới hiện tại, có thể không tưởng đến thế giới hiện tại; trong thế giới đời sau, có thể không tưởng đến thế giới đời sau. Phàm cái gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng?
“Could it be, mendicants, that a mendicant might gain a state of immersion like this? They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
AN 11.19 §4.1
“Siyā, bhikkhave, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
Này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất…; được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
“A mendicant could gain such a state of immersion.”
AN 11.19 §5.1
“Yathā kathaṁ pana, bhante, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
—Như thế nào, bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất…; được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng?
“But how could this be?”
AN 11.19 §6.1–6.2
“Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁsaññī hoti: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo,. Tỷ-kheo tưởng như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”.
“It’s when a mendicant perceives: ‘This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’
AN 11.19 §6.3
Evaṁ kho, bhikkhave, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, không tưởng đến nước…; được ý suy tư, tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
That’s how a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
samādhiThiền định, định — tâm gom về một mối, an trú vững chãiBản Anh dịch là immersion
samādhipaṭilābhaSự chứng được Thiền định, đạt được định
saññā / saññīTưởng / người có tưởng — sự nhận biết, nhận ra hình tướngTrục chính của bài kinh: không có tưởng về các thứ kia, mà vẫn có tưởng
pathavī, āpo, tejo, vāyoĐất, nước, lửa, gió — bốn đại
ākāsānañcāyatanaKhông vô biên xứ
viññāṇañcāyatanaThức vô biên xứ
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ
diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁĐược thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri
sabbasaṅkhārasamathaSự tịnh chỉ tất cả hành
sabbūpadhipaṭinissaggaSự từ bỏ tất cả sanh y (mọi nền tảng chấp thủ)
taṇhākkhayaSự đoạn diệt khát ái
virāgaLy tham
nirodhaĐoạn diệt
nibbānaNiết-bàn
santa, paṇītaAn tịnh, thù thắng

Xin thưa bài này gần như y hệt AN 11.18cùng một câu hỏi, cùng một câu đáp — nên con không giảng lại nội dung, xin bác và anh chị em đọc trang AN 11.18.

Ở đây con chỉ xin thưa CHỖ KHÁC NHAU, vì chính chỗ khác ấy mới là lý do có hai bài.

AN 11.18: các Tỷ-kheo đến hỏi Thế Tôn câu hỏi nghe như tự mâu thuẫn ấy.

bài này: chính THẾ TÔN nêu câu hỏi ra trướckhông ai hỏi Ngài cả.

Và các Tỷ-kheo không tự trả lời. Các vị thưa một câu rất đẹp, rất đáng thuộc:

“Các pháp lấy THẾ TÔN làm CĂN BẢN, lấy Thế Tôn làm HƯỚNG DẪN, lấy Thế Tôn làm NƯƠNG TỰA. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn giảng cho ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.”

Xin thưa con thấy câu ấy dạy một điều rất hay về CÁCH HỌC.

Khi không biết, các vị KHÔNG đoán bừa, cũng KHÔNG im lặng cho qua. Các vị NÓI THẲNG rằng mình chưa biết, và thỉnh người biết giảng cho.

Và các vị hứa trước rằng sẽ THỌ TRÌtức nghe rồi sẽ giữ, không phải nghe cho biết.

Rồi Thế Tôn xác nhận là có thể; các vị lại hỏi tiếp “NHƯ THẾ NÀO?”y như ở AN 11.18, không dừng ở chữ “có”.

Và câu đáp cũng đúng một câu ấy: “Ðây là AN TỊNH, đây là THÙ THẮNG, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, NIẾT-BÀN.”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ chỗ đáng dạy của bài này KHÔNG phải là thứ địnhchỗ ấy quá sâu, và con đã dặn ở trang AN 11.18 là đừng đem ra làm pháp tập.

Chỗ đáng dạy là CÂU THƯA của các Tỷ-kheo. Con nghĩ rất nên cho các em thuộc ý của câu ấy: “con chưa hiểu — xin Thầy giảng — con nghe rồi sẽ giữ.”

ba vế ấy là ba việc khác nhau, và các em thường thiếu vế cuối.

Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất: bản dựng đầu có HAI ô trích với ô tiếng Việt BỎ TRỐNG (đoạn 2.2 và 3.1 — chính là lời thỉnh cầu vừa nhắc, và lời Thế Tôn bảo hãy lắng nghe).

Bản in tiếng Việt được tra cứu KHÔNG có hai đoạn ấy. Luật của trang là ô trích không được để trống ô tiếng Việt, nên đã bỏ cả hai ô; nội dung ấy vẫn được nêu trong mục bố cục và trong phần giảng trên đây.

Thứ hai, và xin thưa kỹ vì đây là chỗ LƯỢT SOI NÓI SAI: người soi cho rằng chữ “này các Tỷ-kheo,.” (có dấu phẩy trước dấu chấm) là chép sai, và bản trên mạng “chỉ có dấu chấm”.

Chúng con đã tải bản dịch của Hoà thượng đếm tận nơi: chuỗi “này các Tỷ-kheo,. Tỷ-kheo” CÓ THẬT trong bản in (một lần), còn chuỗi “này các Tỷ-kheo. Tỷ-kheo” thì KHÔNG có.

Vậy trang chép ĐÚNG. Đó là lỗi in có sẵn trong bản điện tử, và luật của trang là giữ nguyên lời Hoà thượng rồi chú thích, không tự sửa.

  • “Bài này trùng với AN 11.18, chép dư.” Khác NGƯỜI HỎI: bài trước các Tỷ-kheo hỏi, bài này chính Thế Tôn nêu câu hỏi trước.
  • “Các Tỷ-kheo không trả lời được là dở.” Các vị nói thẳng là chưa biếtthỉnh Thế Tôn giảngkinh ghi lại như một mẫu mực, không phải lời chê.
  • “Nghe giảng là đủ.” Các vị hứa “sẽ THỌ TRÌ”nghe rồi GIỮ, không phải nghe cho biết.
  • “Chữ ‘Tỷ-kheo,.’ là trang gõ sai.” Bản in ghi đúng như vậy — đã đếm trên bản đã tải; trang giữ nguyên và chú thích.
  • “Ô tiếng Việt trống là chép thiếu.” Bản in tiếng Việt KHÔNG có hai đoạn ấy; theo luật của trang, ô trích không được để trống ô tiếng Việt nên đã bỏ hẳn.
  • “Đây là pháp để tập.” Xin xem lời dặn ở trang AN 11.18: thứ định rất sâu, đừng đem ra làm pháp tập, và đừng ai tự bảo mình đã chứng.
  • Ngành Oanh. Xin đừng dạy nội dung bài này. Nếu muốn, chỉ kể: “không biết thì thưa là con chưa biết.”
  • Ngành Thiếu. Học ý câu thưa: “con chưa hiểu — xin Thầy giảng — con nghe rồi sẽ giữ.”
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 11.18 và so hai bài: vì sao kết tập cả hai, khi nội dung như nhau?
  • Bài này khác AN 11.18 ở chỗ nào?
  • Các Tỷ-kheo thưa với Thế Tôn thế nào?
  • Ba vế trong câu thưa ấy là gì?
  • Câu trả lời của Thế Tôn là gì?
  • Vì sao trang giữ nguyên chữ “này các Tỷ-kheo,.”?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.