G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 11.18
Không Tưởng Đến Gì Cả · Mà Vẫn Có Tưởng

Kinh Thiền Định (1)

Samādhi Sutta — AN 11.18 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Thiền Định (1)

Các Tỷ-kheo hỏi một câu nghe như tự mâu thuẫn: có thứ định nào mà trong đất KHÔNG tưởng đến đấttrong đời sau không tưởng đến đời saumà VẪN CÓ TƯỞNG chăng? Thế Tôn đáp: CÓ.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, Phẩm Tùy Niệm (Anussativagga), kinh 18
  • Nơi chốnkinh KHÔNG ghi; chỉ nói “một số đông Tỷ-kheo” đến hỏi
  • Bài song hànhAN 11.19 (Thiền Định 2), nội dung tương tự
  • Đọc kèmAN 11.16 (mười một cửa bất tử) và AN 9.36

Kinh Thiền Ðịnh (1) — Paṭhamasamādhisutta — nằm trong Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, Phẩm Tùy Niệm. Bài kinh rất ngắn nhưng chỉ thẳng vào một điểm sâu nhất của thiền tập. Duyên khởi: một số đông Tỷ-kheo đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên, rồi đặt một câu hỏi lạ lùng: có thể chăng một Tỷ-kheo chứng được thứ Thiền định mà ở trong đất lại không tưởng đến đất, ở trong nước không tưởng đến nước, trong lửa không tưởng đến lửa, trong gió không tưởng đến gió; ở trong Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng đều không tưởng đến các xứ ấy; ở trong thế giới hiện tại không tưởng đến thế giới hiện tại, ở trong thế giới đời sau không tưởng đến thế giới đời sau; cho đến những gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri cũng không có tưởng — vậy mà vị ấy vẫn có tưởng? Thế Tôn xác nhận: có thể như vậy. Các Tỷ-kheo liền hỏi tiếp: nhưng bằng cách nào? Câu trả lời của Thế Tôn chỉ gọn trong một câu, và đó là câu quan trọng nhất của bài kinh: vị Tỷ-kheo ấy tưởng như sau — “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Nghĩa là: tâm vị ấy không còn bám vào bất cứ đối tượng nào của thế gian, kể cả các cảnh giới thiền vi tế nhất, mà chỉ hướng trọn về Niết-bàn. Không phải là mất hết ý thức, cũng không phải rơi vào hôn trầm hay trống rỗng — vị ấy vẫn tỉnh, vẫn “có tưởng”, nhưng tưởng ấy chỉ còn một hướng duy nhất là sự tịch tịnh. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài kinh nhắc một điều thiết thực: mức độ cao nhất của định không đo bằng cảnh giới lạ đạt được, mà đo bằng chỗ tâm buông hết mọi chỗ dựa và chỉ còn hướng về sự an tịnh chân thật.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên rồi bạch hỏi (đoạn 1.1).
  • 2. Câu hỏi của các Tỷ-kheo — Có thể chăng một Tỷ-kheo chứng được Thiền định mà trong đất không tưởng đến đất, trong nước không tưởng đến nước, trong lửa không tưởng đến lửa, trong gió không tưởng đến gió; trong bốn Vô sắc xứ không tưởng đến bốn Vô sắc xứ; trong thế giới hiện tại và thế giới đời sau không tưởng đến hai thế giới ấy; trong những gì được thấy, nghe, cảm giác, thức tri… cũng không có tưởng — tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng? (đoạn 2.1)
  • 3. Thế Tôn xác nhận là có thể — Thế Tôn đáp: có thể như vậy. Trong bản Pali và bản Anh ngữ đoạn này được rút gọn (…pe…), bản Việt của HT. Thích Minh Châu ghi đầy đủ (đoạn 3.1).
  • 4. Các Tỷ-kheo hỏi lại: như thế nào? — Các Tỷ-kheo hỏi lại bằng cách nào một Tỷ-kheo có thể chứng được Thiền định như vậy (đoạn 4.1).
  • 5. Câu trả lời: tưởng về Niết-bàn — Tỷ-kheo tưởng như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”. Chính tưởng ấy khiến vị ấy không còn tưởng theo bất cứ đối tượng nào của thế gian, tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng (đoạn 5.1–5.3).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 11.18:1.1
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Bấy giờ có một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
And then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
AN 11.18:2.1
“Siyā nu kho, bhante, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa, yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
—Bạch Thế Tôn, có thể chăng một Tỷ-kheo chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, không tưởng đến nước; trong lửa, không tưởng đến lửa; trong gió, không tưởng đến gió; trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, không tưởng đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, không tưởng đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới hiện tại, có thể không tưởng đến thế giới hiện tại; trong thế giới đời sau, có thể không tưởng đến thế giới đời sau; tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng?
“Could it be, sir, that a mendicant might gain a state of immersion like this? They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
AN 11.18:3.1
“Siyā, bhikkhave, bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
—Này các Tỷ-kheo, có thể như vậy, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, không tưởng đến nước; trong lửa, không tưởng đến lửa; trong gió, không tưởng đến gió; trong Không vô biên xứ, không tưởng đến Không vô biên xứ; trong Thức vô biên xứ, không tưởng đến Thức vô biên xứ; trong Vô sở hữu xứ, không tưởng đến Vô sở hữu xứ; trong Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không tưởng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ; trong thế giới hiện tại, không tưởng đến thế giới hiện tại; trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau; tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
“It could be, mendicants.”
AN 11.18:4.1
“Yathā kathaṁ pana, bhante, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa …pe… yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti?
—Nhưng bạch Thế Tôn, như thế nào một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất…; trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau; tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng?
“But how could this be?”
AN 11.18:5.1–5.2
“Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁsaññī hoti: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ, yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānan’ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tưởng như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn diệt khát ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn”.
“It’s when a mendicant perceives: ‘This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’
AN 11.18:5.3
Evaṁ kho, bhikkhave, siyā bhikkhuno tathārūpo samādhipaṭilābho yathā neva pathaviyaṁ pathavisaññī assa, na āpasmiṁ āposaññī assa, na tejasmiṁ tejosaññī assa, na vāyasmiṁ vāyosaññī assa, na ākāsānañcāyatane ākāsānañcāyatanasaññī assa, na viññāṇañcāyatane viññāṇañcāyatanasaññī assa, na ākiñcaññāyatane ākiñcaññāyatanasaññī assa, na nevasaññānāsaññāyatane nevasaññānāsaññāyatanasaññī assa, na idhaloke idhalokasaññī assa, na paraloke paralokasaññī assa, yampidaṁ diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁ pattaṁ pariyesitaṁ anuvicaritaṁ manasā tatrāpi na saññī assa; saññī ca pana assā”ti.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất; trong nước, không tưởng đến nước…; trong thế giới đời sau, không tưởng đến thế giới đời sau. Và trong những gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý suy tư, tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng.
That’s how a mendicant might gain a state of immersion like this. They wouldn’t perceive earth in earth, water in water, fire in fire, or air in air. And they wouldn’t perceive the dimension of infinite space in the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness in the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness in the dimension of nothingness, or the dimension of neither perception nor non-perception in the dimension of neither perception nor non-perception. They wouldn’t perceive this world in this world, or the other world in the other world. And they wouldn’t perceive what is seen, heard, thought, known, attained, sought, or explored by the mind. And yet they would still perceive.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
samādhiThiền định, sự an trú tâm một chỗBản Việt dịch là “Thiền định”; bản Anh dịch là “immersion”.
samādhipaṭilābhaSự chứng được Thiền định, sự đạt tới địnhpaṭilābha = sự đạt được.
saññā / saññīTưởng / người có tưởngThen chốt của bài kinh: vị ấy không có tưởng về mọi đối tượng, “tuy vậy vị ấy vẫn có tưởng” (saññī ca pana assa).
pathavī, āpo, tejo, vāyoĐất, nước, lửa, gió — bốn đại
ākāsānañcāyatanaKhông vô biên xứ
viññāṇañcāyatanaThức vô biên xứ
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ
idhaloka / paralokaThế giới hiện tại / thế giới đời sau
diṭṭhaṁ sutaṁ mutaṁ viññātaṁĐược thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri
sabbasaṅkhārasamathaSự tịnh chỉ tất cả hành
sabbūpadhipaṭinissaggaSự từ bỏ tất cả sanh yupadhi = sanh y, nền tảng của tái sanh và chấp thủ.
taṇhākkhayaSự đoạn diệt khát ái
virāgaLy tham
nirodhaĐoạn diệt
nibbānaNiết-bàn
santaṁ, paṇītaṁAn tịnh, thù thắngCụm “etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ” là câu quán rất thường được trích trong kinh tạng.
AnussativaggaPhẩm Tùy NiệmPhẩm thứ hai của Chương Mười Một Pháp, Tăng Chi Bộ.

Xin thưa câu hỏi mở đầu bài kinh này nghe như TỰ MÂU THUẪN — và chính chỗ ấy làm nên bài kinh.

Một số đông Tỷ-kheo đến hỏi: có thể chăng một vị chứng được thứ định mà “trong ĐẤT, không tưởng đến đất; trong NƯỚC, không tưởng đến nước; trong LỬA… trong GIÓ…”;

rồi lên cao hơn: trong KHÔNG VÔ BIÊN XỨ không tưởng đến Không vô biên xứ… cho tới PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ; rồi trong ĐỜI NÀY không tưởng đến đời này, trong ĐỜI SAU không tưởng đến đời sau;

và cả “những gì được THẤY, được NGHE, được CẢM GIÁC, được THỨC TRI, được đạt đến, được tầm cầu, được ý suy tư”tại đấy cũng KHÔNG có tưởng; TUY VẬY vị ấy VẪN CÓ TƯỞNG?

Thế Tôn đáp gọn: “CÓ THỂ như vậy.”

Các Tỷ-kheo hỏi lại: NHƯ THẾ NÀO? Và câu trả lời chỉ có một câu:

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tưởng như sau: ‘ĐÂY LÀ AN TỊNH, ĐÂY LÀ THÙ THẮNG, tức là sự TỊNH CHỈ tất cả hành, sự TỪ BỎ tất cả sanh y, sự ĐOẠN DIỆT khát ái, LY THAM, ĐOẠN DIỆT, NIẾT-BÀN’.”

Xin thưa con hiểu chỗ này thế này, và xin thưa rõ đây là CHỖ CON HIỂU, kinh không giảng thêm.

Câu hỏi tưởng là mâu thuẫn, nhưng không phải. Nó hỏi: có thể có TƯỞNG mà KHÔNG tưởng theo BẤT CỨ THỨ GÌ CỦA THẾ GIAN không?

Và câu đáp là: CÓ — khi cái tâm ấy đang HƯỚNG VỀ NIẾT-BÀN. Tưởng vẫn còn, nhưng đối tượng của nó KHÔNG còn là đất, nước, lửa, gió, không phải cõi này cõi kia.

Con thấy chỗ khéo nằm ở chữ “AN TỊNH” và “THÙ THẮNG”. Kinh KHÔNG tả Niết-bàn là gì — kinh chỉ ghi lại CÁCH VỊ ẤY TƯỞNG: “đây là an tịnh, đây là thù thắng”.

Rồi kinh lặp lại nguyên câu tổng kết: “NHƯ VẬY, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy…” — đóng lại đúng bằng câu hỏi mở đầu.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng, và lời này là lời DẶN.

Bài kinh này nói về một thứ định RẤT SÂU. Con nghĩ đừng đem ra dạy các em như một pháp để TẬP, và tuyệt đối đừng ai tự bảo mình đã chứng.

Cái dạy được, con nghĩ, là CÁCH ĐẶT CÂU HỎI của các vị Tỷ-kheo: hỏi một điều nghe như vô lý, hỏi thẳng, và hỏi cho tới nơiThế Tôn đáp “có thể”, các vị lại hỏi “như thế nào?”.

xin để ý các vị KHÔNG dừng ở câu “có thể”. Nhiều người nghe thầy nói “có” là thôi.

Xin thưa BỐN việc về trang, vì đợt này có mấy chỗ nặng.

Thứ nhất: ô trích đoạn 5.3 lúc dựng đầu bị CẮT CỤT ở CẢ BA CỘT mà KHÔNG có dấu lược — chỉ chép khúc dưới (“Và trong những gì được thấy, được nghe…”), bỏ mất câu tổng kết “Như vậy, này các Tỷ-kheo…” và cả danh sách theo sau.

Như vậy người đọc tưởng đó là toàn văn đoạn 5.3. Chúng con đã chép lại ĐỦ cả ba cột từ nguồn.

Thứ hai: ô trích cuối (đoạn 5.4) chỉ là dòng đánh số bài kinh“Aṭṭhamaṁ” (bài thứ tám) — không phải lời kinh, và cả ô tiếng Việt lẫn ô tiếng Anh đều trống; đã bỏ hẳn ô ấy.

Và xin thưa một chỗ LƯỢT SOI NÓI SAI: người soi bảo ô tiếng Anh của đoạn ấy là “Eighth.”đề nghị điền vào. Chúng con mở tệp nguồn xem tận nơi: khoá an11.18:5.4 có phần Pāli nhưng phần tiếng Anh là CHUỖI RỖNG. Điền vào là GÁN CHỮ cho dịch giả — chúng con không điền.

Thứ ba: ghi chú lúc đầu viết bản Việt “ghi đầy đủ” ở cả đoạn 3.1 và 4.1; chỉ đúng với 3.1 — ở 4.1 bản Việt CŨNG lược bằng dấu ba chấm. Đã sửa cả trong ghi chú lẫn trong phần độ tin cậy.

Thứ tư, về cách kiểm: sau khi sửa, toàn bộ ô Pāli và Anh đã đối chiếu tự động với tệp nguồn và ô tiếng Việt với bản dịch của Hoà thượng — tất cả đều đúng nguyên văn.

  • “Không tưởng đến gì cả tức là VÔ TƯỞNG.” Kinh nói rõ: “TUY VẬY vị ấy VẪN CÓ TƯỞNG.” Tưởng vẫn còn — chỉ đối tượng đổi.
  • “Đây là trạng thái mất hết cảm giác.” Kinh không nói vậy. Kinh chỉ ghi CÁCH VỊ ẤY TƯỞNG: “đây là an tịnh, đây là thù thắng…”
  • “Kinh mô tả Niết-bàn là gì.” Kinh KHÔNG mô tả Niết-bàn — chỉ ghi lại lời tưởng của vị ấy. Chúng con không dám nói thêm chỗ kinh không nói.
  • “Có thể tập thứ định này.” Đây là thứ định rất sâu; và xin đừng ai tự bảo mình đã chứng.
  • “Thế Tôn trả lời dài dòng.” Câu đáp chỉ có MỘT câu; phần dài là câu hỏi và câu tổng kết được lặp lại nguyên vẹn.
  • “Bản Việt chép thiếu ở đoạn 4.1.” Ở đó chính bản Việt lược bằng dấu ba chấm, còn bản Pāli lược bằng “…pe…”lược có sẵn trong nguồn.
  • Ngành Oanh. Xin đừng dạy bài này.
  • Ngành Thiếu. Chỉ kể cách các vị Tỷ-kheo HỎI: nghe “có thể” rồi vẫn hỏi tiếp “như thế nào?”
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao “có tưởng mà không tưởng theo thứ gì của thế gian” KHÔNG phải là mâu thuẫn?đừng đem ra làm pháp tập.
  • Các Tỷ-kheo hỏi điều gì?
  • Thế Tôn đáp ra sao, và các vị làm gì tiếp?
  • Câu trả lời cuối cùng là gì?
  • Vì sao “vẫn có tưởng” không mâu thuẫn với “không tưởng đến gì cả”?
  • Kinh có mô tả Niết-bàn không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 5 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.