G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 11.17
Mười Một Việc Của Người Chăn Bò · Mười Một Pháp Của Người Tu

Kinh Người Chăn Bò

Gopāla Sutta — AN 11.17 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Người Chăn Bò

Thế Tôn lấy hình ảnh NGƯỜI CHĂN BÒ — quen thuộc với nhà nông Ấn Độ — mà dạy đường tu. Mười một việc người chăn bò phải biết, ứng với MƯỜI MỘT PHÁP của vị Tỷ-kheo. Và chính Thế Tôn giải nghĩa từng điều một.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, Phẩm Tùy Niệm (Anussativagga), kinh 17
  • Nơi chốnkinh KHÔNG nêu; Thế Tôn gọi thẳng “này các Tỷ-kheo”
  • Cách trình bàynói chiều XẤU trước, rồi lặp lại toàn bộ theo chiều TỐT
  • Đọc kèmMN 33 (Đại Kinh Người Chăn Bò) và AN 11.18

Đức Phật lấy hình ảnh rất quen thuộc của đời sống nhà nông Ấn Độ để dạy về đường tu: người chăn bò. Ngài dạy rằng người chăn bò thành tựu mười một điều thì không thể lãnh đạo đàn bò và khiến đàn bò tăng trưởng; cũng vậy, vị Tỷ-kheo thành tựu mười một pháp tương ứng thì không thể tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng rãi trong Pháp và Luật này. Sau đó Ngài giảng lại toàn bộ theo chiều ngược lại: đủ mười một điều tốt thì đàn bò tăng trưởng, và vị Tỷ-kheo cũng tăng trưởng trong Pháp. Mười một điều đó, theo nghĩa nhà Phật mà chính Đức Phật giải thích trong kinh, là: (1) biết sắc — như thật quán tri sắc là bốn đại và sắc do bốn đại tác thành; (2) thiện xảo trong tướng — biết nghiệp tướng của người ngu và người trí; (3) trừ khử trứng ruồi — không chấp nhận dục tầm, sân tầm, hại tầm mà từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt; (4) băng bó vết thương — hộ trì sáu căn, không nắm giữ tướng chung tướng riêng; (5) xông khói — thuyết pháp rộng rãi cho người khác như đã được nghe, như đã được hiểu; (6) biết chỗ nước lội qua — thường đến thăm các vị nghe nhiều, trì Pháp trì Luật, đặt câu hỏi thưa hỏi; (7) biết chỗ nước uống — được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, hân hoan liên hệ đến Pháp; (8) biết đường — như thật quán tri Thánh đạo tám ngành; (9) thiện xảo chỗ bò ăn cỏ — như thật quán tri Bốn niệm xứ; (10) không nặn sữa đến khô kiệt — biết thâu nhận vừa phải khi tín thí cúng dường; (11) đặc biệt kính trọng các bậc Trưởng lão, kỳ cựu, bậc cha và bậc lãnh đạo trong Tăng chúng, bằng từ thân hành, từ khẩu hành, từ ý hành, trước mặt và sau lưng. Bài kinh rất hợp để dạy Huynh Trưởng và đoàn sinh: mỗi việc của người chăn bò tương ứng với một khâu trong việc tự tu và việc chăm sóc đàn — biết mình, biết người, dứt niệm xấu từ khi còn là "trứng", giữ giác quan, chia sẻ điều đã học, chịu khó thưa hỏi bậc trên, biết đủ trong thọ nhận, và kính trọng bậc trưởng thượng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Người chăn bò thành tựu mười một chi phần không thể khiến đàn bò tăng trưởng — Nêu tổng quát và liệt kê mười một điều thiếu sót của người chăn bò (TTC 1–2; Pāli 1.1–1.4).
  • 2. Cũng vậy, Tỷ-kheo thành tựu mười một pháp không thể tăng trưởng trong Pháp và Luật — Áp dụng ví dụ vào vị Tỷ-kheo, liệt kê mười một pháp theo chiều phủ định (TTC 3–4; Pāli 2.1–2.3).
  • 3. Giải thích từng pháp một theo chiều phủ định — Đức Phật lần lượt hỏi và tự giải thích mười một điều: không biết sắc, không thiện xảo trong tướng, không trừ khử trứng ruồi, không băng bó vết thương, không xông khói, không biết chỗ nước lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết đường, không thiện xảo chỗ bò ăn, nặn sữa đến khô kiệt, không đặc biệt kính trọng bậc trưởng thượng; kết luận (TTC 5–15; Pāli 3.1–14.1).
  • 4. Người chăn bò thành tựu mười một chi phần có thể khiến đàn bò tăng trưởng — Lặp lại phần đầu theo chiều khẳng định (TTC 16–17; Pāli 15.1–15.4).
  • 5. Cũng vậy, Tỷ-kheo thành tựu mười một pháp có thể tăng trưởng trong Pháp và Luật — Liệt kê mười một pháp theo chiều khẳng định (TTC 18–19; Pāli 16.1–16.3).
  • 6. Giải thích từng pháp một theo chiều khẳng định và kết luận — Giải thích lại đủ mười một điều theo chiều tốt, kết thúc: thành tựu mười một pháp này, Tỷ-kheo có thể tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng rãi trong Pháp và Luật này (TTC 20–30; Pāli 17.1–28.1).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 11.17.1 (TTC 1)
“Ekādasahi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato gopālako abhabbo gogaṇaṁ pariharituṁ phātiṁ kātuṁ. Katamehi ekādasahi?
Thành tựu mười một chi phần, này các Tỷ-kheo, một người chăn bò không có thể lãnh đạo đàn bò và khiến đàn bò được tăng trưởng. Thế nào là mười một?
“Mendicants, a cowherd with eleven factors can’t maintain and expand a herd of cattle. What eleven?
AN 11.17.1.3 (TTC 2)
Idha, bhikkhave, gopālako na rūpaññū hoti, na lakkhaṇakusalo hoti, na āsāṭikaṁ hāretā hoti, na vaṇaṁ paṭicchādetā hoti, na dhūmaṁ kattā hoti, na titthaṁ jānāti, na pītaṁ jānāti, na vīthiṁ jānāti, na gocarakusalo hoti, anavasesadohī ca hoti, ye te usabhā gopitaro gopariṇāyakā te na atirekapūjāya pūjetā hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chăn bò không biết sắc, không thiện xảo trong tướng; không trừ khử trứng ruồi; không băng bó vết thương; không có xông khói; không biết chỗ nước có thể lội qua; không biết chỗ nước uống được; không biết đường; không thiện xảo chỗ bò có thể ăn; nặn sữa đến kiệt quệ; đối với các con bò đực, con bò cha, con bò lãnh đạo, không có đặc biệt kính trọng.
It’s when a cowherd doesn’t know form, is unskilled in characteristics, doesn’t pick out flies’ eggs, doesn’t dress wounds, doesn’t spread smoke, doesn’t know the ford, doesn’t know satisfaction, doesn’t know the trail, is not skilled in pastures, milks dry, and doesn’t show extra respect to the bulls who are fathers and captains of the herd.
AN 11.17.2.1–2.2 (TTC 3)
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu abhabbo imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjituṁ. Katamehi ekādasahi?
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu với mười một pháp, Tỷ-kheo không có thể được tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng rãi trong pháp luật này. Thế nào là mười một?
In the same way, a mendicant with eleven qualities can’t achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training. What eleven?
AN 11.17.19.2 (TTC 22)
Idha, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, uppannaṁ byāpādavitakkaṁ … uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ … uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với dục tầm được khởi lên, không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đưa đến không thể tái sanh. Ðối với sân tầm được khởi lên… đối với hại tầm được khởi lên, không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đưa đến không thể tái sanh.
It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought that has arisen, but gives it up, dispels it, eliminates it, and exterminates it. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them.
AN 11.17.21.2 (TTC 24)
Idha, bhikkhave, bhikkhu yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ vitthārena paresaṁ desetā hoti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thuyết pháp rộng rãi cho các người khác, như đã được nghe, như đã được hiểu biết.
It’s when a mendicant teaches others the Dhamma in detail as they learned and memorized it.
AN 11.17.22.2–22.4 (TTC 25)
Idha, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā, te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripucchati paripañhati: ‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti? Tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti, anuttānīkatañca uttānīkaronti, anekavihitesu ca kaṅkhāṭhāniyesu dhammesu kaṅkhaṁ paṭivinodenti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, được trao truyền giáo điển, là bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Tỷ-kheo thỉnh thoảng đến thăm những vị ấy, đặt câu hỏi, thẩm vấn: “Thưa Tôn giả, vấn đề này thế nào? Nghĩa vấn đề này là gì? “ Các vị Tôn giả ấy có khai mở những gì chưa khai mở, hiển lộ những gì chưa hiển lộ, tẩy sạch nghi vấn trong những vấn đề còn nghi vấn.
It’s when from time to time a mendicant goes up to those mendicants who are very learned—inheritors of the heritage, who have memorized the teachings, the monastic law, and the outlines—and asks them questions: ‘Why, sir, does it say this? What does that mean?’ Those venerables reveal what is hidden, clarify what is unclear, and dispel doubt regarding the many doubtful matters.
AN 11.17.25.2 (TTC 28)
Idha, bhikkhave, bhikkhu cattāro satipaṭṭhāne yathābhūtaṁ pajānāti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri Bốn niệm xứ.
It’s when a mendicant truly understands the four kinds of mindfulness meditation.
AN 11.17.28.1 (TTC 30)
Imehi kho, bhikkhave, ekādasahi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjitun”ti.
Thành tựu với mười một pháp này, Tỷ-kheo có thể tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng rãi trong Pháp và Luật này.
A mendicant with these eleven qualities can achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
gopālakangười chăn bòNhan đề kinh: Gopālasutta — Người Chăn Bò.
rūpaññūbiết sắcKinh giải: như thật quán tri sắc là bốn đại và sắc do bốn đại tác thành.
lakkhaṇakusalathiện xảo trong tướngKinh giải: biết nghiệp tướng (kammalakkhaṇa) của người ngu và người trí.
āsāṭikātrứng ruồiVí cho dục tầm, sân tầm, hại tầm mới khởi lên, phải trừ khử ngay.
kāmavitakka / byāpādavitakka / vihiṁsāvitakkadục tầm / sân tầm / hại tầm
nimittaggāhī, anubyañjanaggāhīnắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêngThuộc phần hộ trì các căn (indriyasaṁvara), ví như băng bó vết thương.
dhūmaṁ kattāngười xông khóiVí cho việc thuyết pháp rộng rãi cho người khác.
titthachỗ nước có thể lội qua, bến nướcVí cho việc đến thưa hỏi các bậc đa văn, trì Pháp trì Luật.
vīthicon đườngVí cho Thánh đạo tám ngành (ariya aṭṭhaṅgika magga).
gocarachỗ bò ăn cỏ, chỗ đi lại kiếm ănVí cho Bốn niệm xứ (cattāro satipaṭṭhānā).
anavasesadohī / sāvasesadohīnặn sữa đến khô kiệt / nặn sữa còn để lại sữaVí cho việc không biết / biết thâu nhận vừa phải khi tín thí cúng dường.
therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakācác bậc Trưởng lão, kỳ cựu, xuất gia đã lâu ngày, bậc cha trong Tăng chúng, bậc lãnh đạo trong Tăng chúng
vuddhi, virūḷhi, vepullatăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng rãi
mettaṁ kāyakammaṁ / vacīkammaṁ / manokammaṁtừ thân hành / từ khẩu hành / từ ý hànhThực hành trước mặt và sau lưng (āvi ceva raho ca).

Xin thưa đây là bài kinh dùng MỘT hình ảnh mà chạy suốt cả bài — và hình ảnh ấy là NGƯỜI CHĂN BÒ.

Thế Tôn dạy: người chăn bò thiếu mười một điều thì “không thể lãnh đạo đàn bò và khiến đàn bò được tăng trưởng”; cũng vậy, vị Tỷ-kheo thiếu mười một pháp thì “không thể tăng trưởng, tăng thịnh, tăng rộng rãi trong Pháp và Luật này”.

Rồi Ngài giảng lại TOÀN BỘ theo chiều ngược lạiđủ mười một điều tốt thì đàn bò tăng trưởng, và người tu cũng tăng trưởng.

Xin thưa chỗ hay nhất là chính Thế Tôn GIẢI NGHĨA từng điều mộtkhông để ai phải đoán. Con xin kể theo chiều tốt:

MỘT — BIẾT SẮC. Nghĩa nhà Phật: như thật quán tri sắc là BỐN ĐẠI và sắc do bốn đại tác thành.

HAI — THIỆN XẢO TRONG TƯỚNG. Người chăn bò xem tướng bò; người tu thì biết NGHIỆP TƯỚNG của người ngu và người trítức nhìn việc làm mà biết người.

BA — TRỪ KHỬ TRỨNG RUỒI. Đây là điều con thấy hay nhất: đối với dục tầm, sân tầm, hại tầm vừa khởi lên thì “không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đưa đến không thể tái sanh”.

Xin thưa ví dụ “TRỨNG ruồi” mới đắt: không phải đuổi ruồi — mà là BẮT TỪ LÚC CÒN LÀ TRỨNG. Niệm xấu cũng vậy: bắt lúc nó còn nhỏ thì dễ.

BỐN — BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG. Tức HỘ TRÌ SÁU CĂN, “không nắm giữ tướng chung, tướng riêng”. Sáu giác quan là sáu vết thương hởkhông băng thì nhiễm.

NĂM — XÔNG KHÓI. Người chăn bò xông khói đuổi muỗi; người tu thì THUYẾT PHÁP rộng rãi cho người khác, “NHƯ ĐÃ ĐƯỢC NGHE, NHƯ ĐÃ ĐƯỢC HIỂU”.

Xin để ý bốn chữ “như đã được nghe, như đã được hiểu”dạy lại đúng chỗ mình biết, KHÔNG thêm. Con nghĩ đó là lời dặn rất cần cho anh chị em Huynh Trưởng.

SÁU — BIẾT CHỖ NƯỚC LỘI QUA. Tức THƯỜNG ĐẾN THĂM các vị nghe nhiều, trì Pháp trì Luật, và ĐẶT CÂU HỎI, THƯA HỎI.

BẢY — BIẾT CHỖ NƯỚC UỐNG. Tức được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, HÂN HOAN liên hệ đến Pháp.

TÁM — BIẾT ĐƯỜNG. Tức như thật quán tri THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH.

CHÍN — THIỆN XẢO CHỖ BÒ ĂN CỎ. Tức như thật quán tri BỐN NIỆM XỨ.

Con thấy ví dụ chỗ ăn cỏ ấy rất khéo: Bốn niệm xứ là chỗ tâm ĐƯỢC PHÉP đi ăn. Thả tâm ra chỗ khác thì nó gầy.

MƯỜI — KHÔNG NẶN SỮA ĐẾN KHÔ KIỆT. Tức BIẾT THÂU NHẬN VỪA PHẢI khi tín thí cúng dường.

Xin thưa điều này rất đáng nhắc trong đời sống đoàn: đàn bò còn thì còn sữa. Người cúng dường cũng vậy — nhận vừa phải thì còn lâu dài.

MƯỜI MỘT — ĐẶC BIỆT KÍNH TRỌNG các bậc TRƯỞNG LÃO, kỳ cựu, bậc cha và bậc lãnh đạo trong Tăng chúng — bằng TỪ THÂN HÀNH, TỪ KHẨU HÀNH, TỪ Ý HÀNH, TRƯỚC MẶT VÀ SAU LƯNG.

lại gặp cụm chữ ấy“trước mặt và sau lưng”y như bài LỤC HOÀ (AN 6.11)AN 3.90. Ba bài khác nhau, một điều duy nhất.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này là bài dễ dạy nhất trong những bài dài, vì mỗi điều đều có một HÌNH ẢNH đi kèm.

hình ảnh người chăn bò hợp với người Huynh Trưởng lạ lùng: người trông đàn thì phải biết mặt từng con, biết chỗ cho ăn, biết đường đi, biết chỗ nước cạn để lội qua — và biết chừa sữa lại.

Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: 16 ô Pāli/Anh đối chiếu với tệp nguồn và 8 ô tiếng Việt đối chiếu với bản dịch của Hoà thượng — tất cả đều đúng nguyên văn.

Thứ hai: một ô trích ghi biên số “2.1” nhưng phần chép trải tới hết 2.2 (“Thế nào là mười một?”); đã ghi lại biên số thành 2.1–2.2, không sửa một chữ nào trong ô.

  • “Trừ khử trứng ruồi là giữ vệ sinh.” Thế Tôn giải rõ: dục tầm, sân tầm, hại tầm vừa KHỞI LÊN thì không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạchbắt niệm xấu từ lúc còn là “trứng”.
  • “Băng bó vết thương là chữa bệnh.”HỘ TRÌ SÁU CĂNsáu giác quan là sáu vết thương hở.
  • “Xông khói là chuyện của người chăn bò thôi.” Với người tu, đó là THUYẾT PHÁP cho người khác, “như đã được nghe, như đã được hiểu”.
  • “Không nặn sữa khô kiệt là tiết kiệm.” Kinh nói rõ: biết thâu nhận VỪA PHẢI khi tín thí cúng dường.
  • “Bài kinh này chê người chăn bò.” Kinh lấy nghề chăn bò làm VÍ DỤ, và tả người chăn bò GIỎI như một mẫu mực ở nửa sau.
  • “Điều thứ mười một là phép xã giao.” Kinh nói TỪ THÂN, TỪ KHẨU, TỪ Ý — và thêm “trước mặt VÀ SAU LƯNG”, y như bài Lục Hoà.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể hình ảnh: người chăn bò phải biết chỗ cho bò ăn, biết đường về, và phải chừa sữa lại.
  • Ngành Thiếu. Học ba điều dễ nhớ nhất: trứng ruồi, băng bó vết thương, chỗ bò ăn cỏ — và nghĩa nhà Phật của từng điều.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao “xông khói” lại là THUYẾT PHÁP?bốn chữ “như đã được nghe, như đã được hiểu” dặn ta điều gì?
  • Kinh dùng hình ảnh gì để dạy?
  • “Trừ khử trứng ruồi” nghĩa là gì?
  • “Chỗ bò ăn cỏ” ứng với pháp nào?
  • “Không nặn sữa đến khô kiệt” dạy điều gì?
  • Điều thứ mười một nhắc lại cụm chữ nào đã gặp ở bài Lục Hoà?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.