G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 11.16
Đi Tìm Một Cửa · Tìm Được Mười Một

Kinh Gia Chủ Dasama

Aṭṭhakanāgara Sutta — AN 11.16 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Gia Chủ Dasama

Gia chủ Dasama hỏi Tôn giả ĀnandaMỘT pháp nào đưa đến giải thoát. Ngài kể ra MƯỜI MỘT. Ông reo lên: “như người đi tìm MỘT cửa kho tàng mà cùng lúc tìm được MƯỜI MỘT cửa.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, kinh 16
  • Nơi chốnVesāli, tại làng Beluvagāmaka
  • Người nóiTôn giả Ānanda, cho gia chủ Dasama người thành Atthaka
  • Bài song hànhMN 52 (Kinh Bát Thành, cùng nội dung)

Gia chủ Dasama ở thành Atthaka, nhân đi Pātaliputta lo công việc, nghe tin Tôn giả Ānanda đang ở làng Beluvagāmaka gần Vesāli, liền tìm đến đảnh lễ và đặt một câu hỏi rất thiết thực: có hay không MỘT pháp, mà nếu Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần nơi pháp ấy, thì tâm chưa giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa đoạn tận sẽ được đoạn tận, và đạt được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được? Tôn giả Ānanda đáp: có. Rồi Ngài lần lượt kể ra mười một trạng thái thiền: bốn Thiền (từ Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư), bốn Vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả), và ba định Vô sắc đầu (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ). Điểm then chốt không nằm ở chỗ chứng đắc, mà ở chỗ sau khi chứng đắc, hành giả quán sát ngay chính trạng thái mình vừa chứng: "Thiền này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm" — tức do tạo tác, do ý chí làm ra — rồi quán tri "cái gì là vô thường, chịu sự đoạn diệt". An trú ở đấy, vị ấy đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu không đạt được, thì cũng do tham ái và hoan hỷ đối với Pháp mà đoạn năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đấy, không còn trở lui thế giới ấy nữa (quả Bất lai). Nghe xong, gia chủ Dasama hoan hỷ thốt lên ví dụ nổi tiếng: như người đi tìm một cửa kho tàng mà cùng lúc tìm được mười một cửa; như một ngôi nhà CÓ MƯỜI MỘT CỬA đang cháy — thoát ra bằng bất kỳ cửa nào cũng an toàn (xin lưu ý: bản Việt của HT. Thích Minh Châu ở chỗ này ghi “trong một ngôi nhà chỉ có một cái cửa”, khác với bản Pāli — xem phần ghi chú) — nay ông có tới mười một "cửa bất tử". Ông liền thỉnh chúng Tăng hai thành Vesāli và Pātaliputta, tự tay cúng dường vật thực thượng vị, dâng mỗi Tỷ-kheo một đôi y, riêng Tôn giả Ānanda ba y, và xây một tinh xá cúng dường Ngài. Bài học cho Huynh Trưởng và đoàn sinh: mọi thành tựu tu tập, dù cao tới đâu, vẫn là pháp hữu vi, vô thường; phải lấy chính nó làm đề mục quán vô thường thì mới đi tới giải thoát. Và pháp môn thì nhiều cửa, chỉ cần đi trọn vẹn một cửa.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Tôn giả Ānanda trú ở Vesāli, làng Beluvagāmaka; gia chủ Dasama người thành Atthaka đến Pātaliputta vì công việc, hỏi thăm chỗ Tôn giả rồi tìm đến đảnh lễ (đoạn 1-3.1).
  • 2. Câu hỏi về một pháp — Gia chủ hỏi có một pháp nào được Thế Tôn khéo nói, tu tập không phóng dật thì tâm được giải thoát, lậu hoặc đoạn tận, đạt vô thượng an ổn khỏi khổ ách; Tôn giả Ānanda xác nhận là có (đoạn 3.2-4.1).
  • 3. Bốn Thiền — Thiền thứ nhất, rồi thứ hai, thứ ba, thứ tư; sau mỗi thiền quán sát rằng thiền ấy là tăng thượng tác thành, vô thường, chịu sự đoạn diệt; do đó đoạn tận lậu hoặc, hoặc chứng quả Bất lai (đoạn 4.2-5.9).
  • 4. Bốn Vô lượng tâm — Từ, bi, hỷ, xả biến mãn khắp các phương, quảng đại, vô biên, không hận, không sân; rồi quán từ tâm giải thoát, xả tâm giải thoát ấy cũng là tăng thượng tác thành, vô thường (đoạn 6.1-7.10).
  • 5. Ba định Vô sắc — Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ; mỗi chứng đắc cũng được quán là tăng thượng tác thành, vô thường, chịu sự đoạn diệt (đoạn 8.1-9.8).
  • 6. Ví dụ mười một cửa bất tử, và lời phát nguyện cúng dường — Gia chủ ví như người tìm một cửa kho tàng mà cùng lúc được mười một cửa, và như ngôi nhà có mười một cửa đang cháy thì thoát ra bằng cửa nào cũng an toàn (đoạn 10.1–10.5); rồi nêu lý do cúng dường: hàng ngoại đạo còn tìm học phí dâng thầy, huống gì mình đối với Tôn giả Ānanda (đoạn 10.6–10.7).
  • 7. Cúng dường — Gia chủ mời chúng Tỷ-kheo ở Vesāli và Pātaliputta, cúng dường vật thực, y, và xây tinh xá năm trăm cúng Tôn giả Ānanda (đoạn 11.1-11.3).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 11.16.1
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando vesāliyaṁ viharati beluvagāmake. Tena kho pana samayena dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro pāṭaliputtaṁ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena.
Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Vesàli, tại làng Beluvagàmaka. Lúc bấy giờ, gia chủ Dasama, trú ở thành Atthaka, đã đi đến Pàtiliputta vì một vài công việc.
At one time Venerable Ānanda was staying near Vesālī in the little village of Beluva. Now at that time the householder Dasama, a wealthy citizen, had arrived at Pāṭaliputta on some business.
AN 11.16.3.2
“atthi nu kho, bhante ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo sammadakkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti?
Có một pháp nào, thưa Tôn giả Ananda được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khéo nói, chính ở nơi đây, Tỷ-kheo trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát, hay sẽ đưa đến chấm dứt các lậu hoặc chưa được đoạn tận, hay đạt được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được?
Honorable Ānanda, is there one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant’s mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke?
AN 11.16.4.2
Idha, gahapati, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Householder, it’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
AN 11.16.4.4-4.5
‘idampi kho paṭhamaṁ jhānaṁ abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ’.
‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ, tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti.
Vị ấy quán sát như sau: "Thiền thứ nhất này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm". Phàm cái gì thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm, vị ấy quán tri: "Cái gì là vô thường, chịu sự đoạn diệt".
‘Even this first absorption is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’
AN 11.16.4.6-4.7
So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti; no ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Vị ấy an trú ở đấy, đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu không đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc, với tham ái ấy đối với Pháp, với hoan hỷ ấy đối với Pháp, với sự đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui thế giới ấy nữa.
Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world.
AN 11.16.6.1
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo với tâm câu hữu với từ, an trú biến mãn một phương; như vậy phương thứ hai; như vậy phương thứ ba; như vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp thế giới trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm cầu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
AN 11.16.10.2-10.5
“seyyathāpi, bhante ānanda, puriso ekaṁ nidhimukhaṁ gavesanto sakideva ekādasa nidhimukhāni adhigaccheyya;
evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, ekaṁ amatadvāraṁ gavesanto sakideva ekādasa amatadvārāni alatthaṁ sevanāya.
Seyyathāpi, bhante, purisassa agāraṁ ekādasa dvāraṁ. So tasmiṁ agāre āditte ekamekenapi dvārena sakkuṇeyya attānaṁ sotthiṁ kātuṁ;
evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, imesaṁ ekādasannaṁ amatadvārānaṁ ekamekenapi amatadvārena sakkuṇissāmi attānaṁ sotthiṁ kātuṁ.
Thưa Tôn giả Ananda, ví như một người tìm một cái cửa vào chỗ chôn cất, trong một lúc, tìm ra được mười một cái cửa. Cũng vậy, thưa Tôn giả, trong khi đi tìm một cửa bất tử, trong một lúc, con tìm ra mười một cái cửa bất tử. Ví như, thưa Tôn giả, trong một ngôi nhà chỉ có một cái cửa, và nhà ấy bị cháy, người ấy chỉ có thể ra bằng một cửa để có thể được an toàn cho mình. Cũng vậy, thưa Tôn giả, với mười một cửa bất tử này, con có thể tạo được sự an toàn cho con với chỉ một cửa bất tử.
Honorable Ānanda, suppose a person was looking for the entrance to a treasure trove. And all at once they’d come across eleven entrances! In the same way, I was searching for the door to freedom from death. And all at once I found eleven doors to freedom from death for cultivation. Suppose a person had a house with eleven doors. If the house caught fire they’d be able to flee to safety through any one of those doors. In the same way, I’m able to flee to safety through any one of these eleven doors to freedom from death.
AN 11.16.11.1-11.3
Atha kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro vesālikañca pāṭaliputtakañca bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Ekamekañca bhikkhuṁ paccekaṁ dussayugena acchādesi, āyasmantañca ānandaṁ ticīvarena. Āyasmato ānandassa pañcasataṁ vihāraṁ kārāpesīti.
Rồi gia chủ Dasama, dân ở thành phố Atthaka mời họp các Tỷ-kheo chúng ở Vesàli và Pàtaputta, với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, tự tay dâng cúng cho đến khi chúng Tăng được thỏa mãn, và mỗi Tỷ-kheo cúng một đôi y. Nhưng riêng đối với Tôn giả Ananda, vị ấy cúng ba y đầy đủ và xây dựng một ngôi tinh xá giá trị 500 đồng tiền.
Then the householder Dasama, having assembled the Saṅgha from Vesālī and Pāṭaliputta, served and satisfied them with his own hands with delicious fresh and cooked foods. He clothed each and every mendicant in a pair of garments, with a set of three robes for Ānanda. And he had a dwelling worth five hundred built for Ānanda.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ekadhammamột phápCâu hỏi trung tâm của kinh: một pháp đưa đến giải thoát.
appamatta / ātāpī / pahitattakhông phóng dật / nhiệt tâm / tinh cầnBa đức tính của người tu theo pháp ấy.
āsavalậu hoặcĐoạn tận lậu hoặc là quả A-la-hán.
yogakkhemaan ổn khỏi các khổ áchanuttaraṁ yogakkhemaṁ: vô thượng an ổn, tức Niết-bàn.
jhānaThiền (thiền-na)Bốn Thiền sắc giới.
abhisaṅkhata abhisañcetayitatăng thượng tác thành, tăng thượng tâm (do tạo tác, do ý chí làm nên)Đây là chữ chốt: cái do tác thành thì vô thường.
anicca / nirodhadhammavô thường / chịu sự đoạn diệt
mettā / karuṇā / muditā / upekkhātừ / bi / hỷ / xảBốn Vô lượng tâm.
cetovimuttitâm giải thoátmettā cetovimutti: từ tâm giải thoát.
ākāsānañcāyatana / viññāṇañcāyatana / ākiñcaññāyatanaKhông vô biên xứ / Thức vô biên xứ / Vô sở hữu xứBa định Vô sắc đầu.
orambhāgiyāni saṁyojanāninăm hạ phần kiết sửĐoạn năm hạ phần kiết sử là quả Bất lai.
opapātika / parinibbāyī / anāvattidhammahóa sanh / nhập Niết-bàn tại đấy / không còn trở lui
amatadvāracửa bất tửMười một cửa bất tử — hình ảnh nổi tiếng của bài kinh.
dhammarāga / dhammanandītham ái đối với Pháp / hoan hỷ đối với Pháp

Xin thưa bài kinh này có một câu reo mà con nghĩ ai nghe cũng nhớ — nhưng chỗ giáo lý quan trọng lại nằm TRƯỚC câu reo ấy.

Gia chủ Dasama ở thành Atthaka, nhân đi Pātaliputta LO CÔNG VIỆC, nghe tin Tôn giả Ānanda đang ở gần Vesāli, liền tìm tới.

Lại một người cư sĩ bận việc làm ănthu xếp để gặp Phápgiống hệt ông Nandiya trong AN 11.13.

Câu hỏi của ông rất gọn: có MỘT pháp nào mà tu tập “không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần” thì tâm chưa giải thoát ĐƯỢC giải thoát, lậu hoặc chưa đoạn tận ĐƯỢC đoạn tận?

Tôn giả đáp: CÓ. Rồi Ngài kể ra… MƯỜI MỘT.

BỐN THIỀN (từ Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư); BỐN VÔ LƯỢNG TÂM (từ, bi, hỷ, xả); và BA ĐỊNH VÔ SẮC đầu (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ).

Nhưng xin thưa cho kỹ: điểm then chốt KHÔNG nằm ở chỗ chứng đắc.

Nó nằm ở việc vị ấy làm NGAY SAU KHI chứng: quán sát chính cái trạng thái mình vừa chứng được.

“Thiền này thuộc TĂNG THƯỢNG TÁC THÀNH, thuộc TĂNG THƯỢNG TÂM” — tức DO TẠO TÁC, DO Ý CHÍ LÀM RA. Rồi quán tri: “Cái gì là VÔ THƯỜNG, chịu sự ĐOẠN DIỆT.”

Xin thưa con thấy đó là chỗ nghiêm nhất của bài kinh. Cái mình vừa cực nhọc chứng đượcđem ra làm ĐỀ MỤC QUÁN VÔ THƯỜNG.

nếu không làm vậy thì chính cái chứng đắc ấy thành chỗ BÁM. Càng cao càng dễ bám.

Và kinh nêu HAI kết cục: an trú ở đấy thì ĐOẠN DIỆT CÁC LẬU HOẶC; nếu KHÔNG đạt được, thì do tham ái và hoan hỷ ĐỐI VỚI PHÁPđoạn năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đấy (quả Bất lai).

Bây giờ mới tới câu reo. Gia chủ Dasama thốt lên: “như một người đi tìm MỘT cửa kho tàng mà TRONG MỘT LÚC tìm ra được MƯỜI MỘT cửa.”

Và ví dụ thứ hai — ví dụ ngôi nhà cháy, chỗ con phải thưa kỹ vì hai bản dịch khác nhau.

Nguyên văn Pāli (an11.16:10.4) là “purisassa agāraṁ EKĀDASA DVĀRAṀ”một ngôi nhà CÓ MƯỜI MỘT CỬA; nhà ấy cháy thì thoát ra bằng BẤT KỲ cửa nào cũng an toàn.

Còn bản Việt của HT. Thích Minh Châu ở chỗ này ghi “trong một ngôi nhà CHỈ CÓ MỘT CÁI CỬA”. Chúng con đã đọc tận nơi — đúng là bản in ghi như vậy.

Chúng con GIỮ NGUYÊN lời Hoà thượngchỉ sửa phần trang soạn, đồng thời thưa rõ chỗ khác nhau để bác đọc ba cột khỏi thắc mắc.

Xin thưa hình ảnh MƯỜI MỘT CỬA mới ăn khớp với cả bài: mười một cửa bất tử, nhà mười một cửa, cửa nào cũng ra được.

Rồi ông thỉnh chúng Tăng HAI THÀNH Vesāli và Pātaliputta, tự tay cúng dường, dâng mỗi vị một đôi y, riêng Tôn giả Ānanda ba y, và xây một tinh xá cúng dường Ngài.

lý do ông nêu ra thì rất người: “hàng ngoại đạo còn tìm HỌC PHÍ dâng thầy — huống gì con lại không cúng dường Tôn giả Ānanda?”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này có hai điều để dạy, và ĐỪNG chỉ dạy điều dễ.

Điều dễ là câu reo: pháp môn thì nhiều cửa, chỉ cần đi trọn MỘT cửa. Điều ấy đúng và an ủi.

Điều khó — và là ruột của bài kinh — là: mọi thành tựu, dù cao tới đâu, vẫn là PHÁP HỮU VI, VÔ THƯỜNG. Phải lấy CHÍNH NÓ làm đề mục quán thì mới đi tới.

Con nghĩ điều ấy dạy được cho các em ở mức rất đời: làm được một việc tốt rồi thì đừng dừng lại đó mà tự hài lòngvà cũng đừng đem nó ra làm chỗ đứng.

Xin thưa ba việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: ô Pāli/Anh đối chiếu với tệp nguồn, ô tiếng Việt đối chiếu với bản Hoà thượng — nay 16 ô Pāli/Anh và 8 ô tiếng Việt đều đúng nguyên văn.

Thứ hai: ô Pāli của đoạn 6.1 lúc dựng đầu BỎ MẤT cụm lặp “ekaṁ disaṁ pharitvā viharati” lần thứ hai; ba ô Pāli khác rơi dấu nháy mởbị đổi chữ hoa đầu câu. Đã dựng lại bốn ô ấy thẳng từ tệp nguồn.

Thứ ba: mục bố cục thứ sáu gộp cả 10.1–10.7 vào phần ví dụ; thật ra 10.6–10.7 không còn là ví dụ mà là lý do cúng dường. Đã tách ra.

  • “Phải chứng đủ mười một pháp mới giải thoát.” Chính gia chủ nói rõ: “với mười một cửa bất tử này, con có thể tạo được an toàn cho con VỚI CHỈ MỘT cửa.”
  • “Chứng được thiền là xong.” Ruột của bài kinh là QUÁN CHÍNH CÁI VỪA CHỨNG: “thuộc tăng thượng tác thành… là vô thường, chịu sự đoạn diệt.”
  • “Ngôi nhà chỉ có một cửa.” Nguyên văn Pāli là nhà CÓ MƯỜI MỘT CỬA; bản Việt ở chỗ này ghi “chỉ có một cái cửa”trang giữ nguyên lời Hoà thượng và ghi rõ chỗ khác nhau.
  • “Đây là lời Phật dạy.” Bài này do Tôn giả ĀNANDA thuyết, dẫn lại pháp đã được Thế Tôn khéo nóixin ghi cho đúng người nói.
  • “Không đạt lậu tận thì uổng công.” Kinh nêu kết cục thứ hai: do tham ái và hoan hỷ ĐỐI VỚI PHÁPđoạn năm hạ phần kiết sử, chứng Bất lai.
  • “Gia chủ cúng dường vì được chỉ dạy nên phải trả ơn.” Lời ông là: hàng ngoại đạo còn tìm HỌC PHÍ dâng thầymột lối nói so sánh, không phải điều kiện trao đổi.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể câu reo: “đi tìm một cửa mà tìm được mười một cửa.”
  • Ngành Thiếu. Học ba nhóm: bốn Thiền, bốn Vô lượng tâm, ba định Vô sắc — và nhớ chỉ cần MỘT cửa.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn chỗ khó: vì sao phải đem CHÍNH cái mình vừa chứng ra quán vô thường? Đọc kèm MN 52.
  • Gia chủ Dasama hỏi điều gì?
  • Tôn giả Ānanda kể ra mấy pháp, gồm những nhóm nào?
  • Sau khi chứng, vị ấy quán sát điều gì?
  • Hai kết cục nêu trong kinh là gì?
  • Hai ví dụ của gia chủ nói lên điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.